1. Dismiss Notice
  2. Dismiss Notice
  3. Dismiss Notice
  4. Dismiss Notice
  5. Dismiss Notice
  6. Dismiss Notice
  7. Dismiss Notice
  8. Dismiss Notice
  9. Dismiss Notice
  10. Chúc mừng truyện dịch hoàn tháng 4 _ Mã Phương Linh dịch: [Ngôn tình] Hồng Nhan Tình Lệ_ Nguyệt Hạ Tiêu Thanh
    Dismiss Notice
  11. Dismiss Notice

[Đam Mỹ] Duyên nợ đào hoa - Đại Phong Quát Quá

Thảo luận trong 'Đam mỹ - Bách hợp - Sắc hiệp' bắt đầu bởi Tùy Nhã, 16/7/17 lúc 16:53.

Lượt xem: 44

Tags:
  1. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Duyên nợ đào hoa

    Đại Phong Quát Quá


    [​IMG]

    I. Thông tin xuất bản

    Mời đọc
    Dịch giả: Idaten

    NXB liên kết: NXB Văn học

    Số trang: 544

    Khổ sách: 14.5 x20.5 cm

    Giá bìa: 120.000đ

    II. Thông tin tác phẩm
    Mời đọc
    “Đào hoa trái” kể về một anh chàng Tống Dao nọ, sinh ra là con Tể tướng đương triều, muốn tiền có tiền, muốn quyền có quyền, thế nhưng lại bị phán là “mệnh phạm cô loan” – cả đời đơn độc.

    “Nhắc đến lại muốn sụt sùi, năm đó bản tiên quân lên bảy, đã hiểu không ít chuyện, ta vẫn còn nhớ như in cô con gái Phương Nương của Hứa quản gia hồi ấy là một tiểu cô nương mười hai mười ba tuổi, ta rất thích nàng, còn đang định bảo với cha ta rằng sau khi lớn lên nhất định phải lấy nàng làm vợ, thì đã bị một gậy của lão đạo sĩ kia đập cho đầu váng mắt hoa.

    Có điều cái mồm quạ đen của lão đạo sĩ đó quả thực rất linh, Phương Nương qua mười bốn tuổi liền gả cho con của một nhà buôn, ta phẫn hận chạy tới hỏi nàng vì sao không nhớ đến tình nghĩa năm xưa khi ta cho nàng ăn bánh quế hoa, bánh ngàn tầng với bánh hạnh đào. Phương Nương xoa đầu ta mà nói, “Thiếu gia, ngài còn nhỏ, chưa hiểu gì cả. Hơn nữa người như Phương Nương sao có thể trèo cao mà sánh duyên với thiếu gia cho được?” Ta trơ mắt đứng nhìn Phương Nương bước lên kiệu đỏ đón dâu, bị khiêng đi trong cảnh kèn trống rộn ràng.

    Cha ta cũng đã từng đính hôn cho ta, là thiên kim của Thượng thư, bà mối bảo nàng có phong thái của vầng trăng trên trời, có nhan sắc của đóa hoa dưới đất, sinh thần bát tự ghép cùng ta đúng là hợp càng thêm hợp, nàng và ta chính là một đôi trời đất tạo nên. Kết quả, nàng rơi vào lưới tình cùng thế tử của Tam vương gia, hai người họ trong một đêm trăng mờ gió lớn, công khai dắt nhau bỏ trốn.

    Ta lại đính ước, là thiên kim của quốc cữu, nàng lại cùng biểu ca của nàng chạy xa mất hút; đính ước thêm lần nữa, là quận chúa của của Quận vương gia, nàng bị hoàng thượng nhìn trúng, nạp vào hậu cung; hoàng thượng đền cho ta một cô em gái – Bát công chúa, nàng lại cùng gã Thị lang trẻ tuổi vụng trộm yêu đương, yêu đến độ phình luôn cả bụng.

    Ta lưu luyến nơi thanh lâu kỹ viện, vừa chạm bóng hoa khôi đã nhất kiến chung tình, dốc gan dốc ruột, cảm động cả trời đất. Kết quả thì sao? Nàng vẫn cứ phải lòng một gã thư sinh.”

    Không biết là may hay không may, một hôm chàng ăn phải viên kim đan trong bát mì vằn thắn bên đường, lên trời làm tiên, còn tiện tay “nẫng” luôn đứa con cưng mà Ngọc Đế bao năm gìn giữ – Hoành Văn.

    Có lẽ, nhân duyên của chàng đều mất cả để hy sinh cho mối duyên cảm thiên động địa này chăng?

    Thế nhưng, đến cuối cùng, chàng vẫn chỉ là cây cầu bắc duyên, khi mà tơ hồng của Hoành Văn lại nối vào tay kẻ khác.

    Tống Dao chấp nhận biến mất khỏi đất trời để trả hộ Hoành Văn món nợ nhân duyên.

    Hoành Văn sau khi biết đã cam tâm thủ hộ Tống Dao, lẳng lặng kề bên suốt mấy kiếp luân hồi…
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:45
  2. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 1
    Mời đọc
    Thiếu gia.” Vương Đầu Nhi nhìn ta, trên gương mặt ngăm đen đỏ bừng có hai ba vết sưng, mồ hôi hột lấm tấm sắp rơi xuống hàm râu quai nón.

    Hiện giờ tuy đã Lập thu, nhưng tiết trời oi nồng chẳng kém gì những ngày Tam phục[1]. Tiếng ve thu cao vút, hơi nóng trên mặt đất len lỏi bám lấy đôi chân đang đau ê ẩm.

    “Thiếu gia, bọn tiểu nhân phụng lệnh thiếu gia mai phục ở chỗ này cả buổi sáng, rốt cuộc là để làm gì, mong thiếu gia nói rõ.”

    Ta đập chết một con muỗi đang hút máu trên mặt, giơ tay lau mồ hôi, âm trầm cười lạnh[2].

    “Hôm nay thiếu gia ta muốn cướp một người, người đó sẽ đi qua con đường này. Chờ xe ngựa xuất hiện, các ngươi che mặt lại rồi xông cả lên, nhất định phải bắt sống cho ta.”



    [1] Ngày Tam phục: Là ngày xuất hiện giữa hai tiết Tiểu thử và Đại thử, là ngày nóng nực oi bức và ẩm ướt nhất trong một năm.



    [2] Nguyên văn là “Âm trắc trắc nhất tiếu”. Âm là âm trầm, trắc trắc là lạnh. Lấy ý từ trong Tuyệt Cú của Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên: Xuân hàn trắc trắc yểm trọng môn; Xuân áp hương tàn hỏa thượng ôn. Cả cụm “Âm trắc trắc” là để chỉ nụ cười nhạt nhưng khiến người ta có cảm giác sợ hãi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:53
  3. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 2
    Mời đọc
    Ta vốn là chỉ là một tán tiên[1] tiêu dao tự tại trên thiên đình, hư hư thực thực nhận một phong hiệu là Quảng Hư Nguyên quân. Bởi vì phong hiệu khó đọc, các vị tiên gia trên thiên đình đều gọi ta là Tống Dao Nguyên quân.

    Tống Dao vốn là tên của ta trước khi trở thành tiên.

    Khi ta còn làm người phàm ở chốn nhân gian, cũng là một người nhàn tản tự tại. Khi ấy còn trẻ, kiêu ngạo ngông cuồng, ra vẻ phong lưu, vốn chẳng có tí gì dính dáng tới bốn chữ tu tiên tu đạo. Rồi có một ngày, khi Thái Thượng Lão quân mở lò luyện đan ra đã lỡ tay đánh rơi một viên kim đan xuống hạ giới. Kim đan vừa khéo rơi vào nồi mỳ ở chợ, ông chủ quán nghĩ đó chỉ là một viên phân chim từ trên trời rớt xuống, lấy cái muôi lớn khuấy khuấy vài cái, sau đó múc đầy một bát cả nước lẫn mỳ. Người khách bất hạnh ăn phải bát mỳ đó, chính là ta.

    Tới bây giờ ta vẫn còn rất khâm phục bản thân, ngày đó lửa đói lên cao, thiêu mù đôi mắt, kim đan to bằng viên phân chuột ấy, cứ thế theo nước mỳ trôi vào bụng ta.

    Ngay tối hôm đó, lúc mặt trời mới lặn, khi trăng lạnh vừa lên, trên đỉnh đầu ta tụ đóa tam hoa[2], cưỡi đám tường vân[3], thăng thiên.

    Từ đó về sau, ta trở thành tiên.

    Tiên sử dẫn ta tới điện Linh Tiêu bái kiến Ngọc Đế, ngài nói: “Tiên có nguồn gốc của tiên, một là tu luyện mà thành, hai là sinh ra đã có, còn có một loại nữa, là nhặt được giữa đường”.

    Thần tiên “nhặt được” giữa đường không có danh hiệu nào để phong, cả thiên đình cứ thế gọi ta là Tống Dao Tiên. Sau vài lần mảnh đất cực Đông thế giới kia từ biển cả hóa đất liền rồi từ đất liền biến trở về biển cả, ta được Ngọc Đế cất nhắc, ban cho một phong tước là Quảng Hư Nguyên quân. Các vị tiên hữu gọi Tống Dao Tiên đã thành quen, nhìn vào mặt ta không tài nào thốt được ra hai chữ Quảng Hư, vậy nên cứ gọi là Tống Dao Nguyên quân. Thời gian trôi đi, ngay cả bản tiên quân ta đây cũng quên béng mất cái danh hiệu đó. Cho đến một ngày nọ, Đông Hoa Đế quân mở tiệc trà, gửi tới một tấm thiệp nho nhã thanh tao, đề mấy chữ “thỉnh Quảng Hư Nguyên quân”, lúc ấy ta còn cầm tấm thiệp nói với con chim xanh truyền tin rằng: “Quảng Hư Nguyên quân là vị nào thế, sao lại đem thiệp tới phủ của Tống Dao Nguyên quân ta thế này”.

    Thế gian có một câu tục ngữ, ấy là: “Tiêu diêu tự tại thật giống thần tiên”. Trên thiên đình tiên hữu đông đảo, thời gian trôi qua chỉ như mây bay. Ngày lại nối ngày, cho tới một hôm, Thái Bạch Kim Tinh tới phủ của bản tiên quân, bảo rằng Ngọc Đế có mật chỉ sai lão truyền cho ta. Thế là ở hoa viên sau cung Huyền Suất, Thái Bạch Kim Tinh đứng ở nơi sương khói lượn lờ, nói với ta rằng: Thiên Xu Tinh quân và Nam Minh Đế quân phạm phải tư tình, bị Ngọc Đế chém đứt tiên căn tại Tru Tiên Đài, biếm hạ phàm trần.

    Cả trăm ngàn năm mới nghe được một chuyện lạ như thế, bản tiên quân hiển nhiên phải ngây người ra trước, sau đó mới hỏi đến điểm quan trọng nhất: “Thiên Xu Tinh quân và Nam Minh Đế quân phạm phải tư tình… Không phải hai vị ấy đều đi dụ dỗ tiên nữ đấy chứ…?”.

    Kim Tinh im lặng chẳng nói tiếng nào.

    Bản tiên quân cười có chút ngượng ngùng: “Vậy chắc là chuyện đoạn tụ[4] của thế gian rồi…”.

    Đoạn tụ cũng không phải chuyện gì lạ lẫm trăm năm khó gặp, nào phải bản tiên quân chưa thấy bao giờ. Nhưng cái kinh thiên động địa ở đây, chính là hai vị Thiên Xu Tinh quân và Nam Minh Đế quân này, chậc chậc, bình thường Nam Minh Đế quân lúc nào cũng làm ra vẻ trang nghiêm, cao cao tại thượng, Thiên Xu Tinh quân thì dáng vẻ thanh tao nhã nhặn không dính bụi trần. Hai vị Thượng quân chẳng bao giờ thèm để ý tới gã tiên được nhặt về như ta, sao lại gây ra sự tình này? Có điều là, đặt hai người ấy đứng chung một chỗ cũng thấy thật xứng đôi.

    Kim Tinh nói: “Tội của hai vị tiên quân cũng không thể cứ thế mà xong, Ngọc Đế nhân từ, cho hai vị ấy một cơ hội chuộc lại lỗi lầm. Ngài đày họ xuống phàm trần, một đời phải trải qua nhiều lần tình kiếp. Nếu có thể nhìn rõ tâm ma, hoàn toàn tỉnh ngộ, vẫn có thể tiếp tục tu tiên, về lại thiên đình. Bởi thế Ngọc Đế hạ chỉ, để Quảng Hư Nguyên quân cũng xuống phàm trần một chuyến”.

    Ta ngạc nhiên hỏi: “Vì sao?”.

    Kim Tinh vuốt râu cười: “Ngọc Đế suy tính một hồi, người tới thế gian thiết kiếp khiển trách hai vị ấy, không ai hợp hơn Nguyên quân cả”.

    Ta hiểu rồi, bản tiên quân cũng có chút xích mích với Nam Minh Đế quân và Thiên Xu Tinh quân, lão già Ngọc Đế nhất định là đã nhìn trúng điểm này rồi.

    Ta hơi nhăn lông mày lại, thở dài nói: “Ta đã quen biết với hai vị Thượng quân cả ngàn năm, sao có thể nhẫn tâm tạo kiếp nạn cho hai người”.

    Kim Tinh nói: “Ngọc Đế có nhắc với bản quân, Nguyên quân hạ giới vì đồng đạo tiên gia mà nhiễm phàm trần, đợi đến lúc ngài trở về thiên đình, sẽ hạ chỉ khen thưởng, phong làm Quảng Hư Thiên quân”. Rồi lão lại vuốt râu mà cười: “Sau khi Thiên Xu Tinh quân và Nam Minh Đế quân trở về thiên đình, lúc đầu làm tán tiên, vẫn phải nhờ Thiên quân giảng giải khuyên răn nhiều”.

    Ngọc Đế ra điều kiện không tồi, xuống hạ giới một chuyến là bản tiên quân có thể vớt được một phong hiệu Thượng quân, người ta đều nói làm thần tiên thanh tịnh vô vi, nhưng nếu ngẫu nhiên thăng một cấp, cũng có thể coi là chuyện thú vị, đúng không. Ta lại thở dài: “Thôi thì đành vậy, mặc dù cả hai phải chịu khổ một đời tình kiếp, lại có cơ hội ngộ ra tiên pháp vô thượng, cùng là tiên hữu với nhau, ta cũng đành nén đau thương, miễn cưỡng làm thôi”.

    Sáu bảy ngày sau, Ngọc Đế lại phái Mệnh Cách Tinh quân tới chỉ bảo cho ta về việc hạ giới lần này.

    Lúc hai vị tiên gia bị biếm hạ phàm trần, Ngọc Đế cũng đã chuẩn bị cho ta một thân thể ở nhân gian. Vai diễn mà ta phải đóng là một hòn đá chặn ngang con đường tình duyên của Nam Minh Đế quân và Thiên Xu Tinh quân, hay nói cách khác, là một cây gậy dùng để đánh uyên ương. Đời này, Nam Minh Đế quân là kẻ can trường oai hùng bất phàm một cõi, Thiên Xu Tinh quân lại là một vị công tử ốm yếu văn nhã, Nguyệt Lão đã căng sẵn một sợi dây tình cỡ bằng ngón tay giữa hai người, sau đó thắt một cái nút thật to. Thiên Xu và Nam Minh, từ lúc thiếu niên đã tình sâu ý đậm, ngươi tình ta oán, thề non hẹn biển, sông cạn đá mòn. Bản tiên quân phải lãnh nhiệm vụ làm cây gậy chọc ngang, hai người họ gặp nhau thì ta nhào ra chia rẽ, thư từ qua lại ta phải chặn, sống không gặp mặt, chết chẳng gần nhau.

    Ta đem cái vở kịch rách nát đó tỉ mỉ ngẫm một hồi, ngẫm hoài ngẫm mãi, ngẫm thế nào vẫn thấy ta mới là người cần phải lên Tru Tiên Đài.



    Hơn mười ngày nữa trôi qua, thời gian hạ giới cũng đã đến, chúng tiên tiễn ta tới Nam Thiên Môn. Ngoài cửa Thiên Môn, ta nắm chặt cánh tay của Hoành Văn Thanh quân: “Ta đi chuyến này chắc chỉ vài ngày là về, Quỳnh Lộ trong phủ nhất định phải giữ lại một ít cho ta”.

    Hoành Văn Thanh quân nheo mắt cười: “Yên tâm, chắc chắn sẽ giữ lại chờ ngươi trở về”. Sau đó vỗ vai ta một cái, mặt kề sát lại: “Chỉ có điều, lần này ngươi xuống nhân gian, nhất định phải giữ mình cho tốt, ổn định tiên tính, hằng đêm chung gối cùng giường với Thiên Xu Tinh quân, vạn lần không thể dao động tiên căn đấy”.

    Ta giật mình thốt lên: “Cái gì?”.

    Gương mặt tao nhã của Hoành Văn Thanh quân giờ đang cười đến độ vẻ thối nát hiện lên hết cả: “Còn giả vờ, cả thiên giới còn ai không biết, Tống Dao ngươi lần này xuống trần nhập vai công tử Phiên vương, phải giả vờ yêu say đắm Thiên Xu Tinh quân. Ngọc Đế phạt hắn ngay cả tương tư cũng chẳng có thời giờ, sai ngươi nhốt hắn trong vương phủ, từ nay theo sát bên người, đêm đêm cùng giường mà ngủ”.

    Ngọc Đế lừa ta!!! Mệnh Cách Tinh quân rõ ràng không đề cập đến vụ này!?

    Hoành Văn vung tay áo cản đường ta: “Ngươi định làm gì?”.

    Ta tức giận, áp chế khí thế của Hoành Văn: “Đi tìm Ngọc Đế, ta không làm nữa!”. Lão già Ngọc Đế này, dám lừa ta ngủ cùng với Thiên Xu!

    Hoành Văn nói: “Chuyện tới nước này rồi mới nói không làm, ngươi vốn đã không còn quyền quyết định nữa rồi”, sau đó nhìn ta, cười có chút hả hê. Gió mạnh thốc tới, bản tiên quân một phen lảo đảo, ngã khỏi Thiên Môn.



    [1] Tán tiên: Chữ “tán” vốn để chỉ người có hành vi phóng khoáng, nói năng hài hước, tự do tự tại, thích an nhàn. “Tán tiên” dùng để chỉ những thần tiên không muốn đứng vào hàng tiên ban để chịu quản lý ước thúc, đảm nhận chức vụ quan trọng rồi được ban thưởng, mà chỉ cầu tiêu dao tự tại trà trộn nhân gian.

    [2] Nguyên văn là “tam hoa tụ đỉnh”. “Tam hoa” ở đây bao gồm: Ngọc hoa biểu thị cho “Tinh”; Kim hoa biểu thị cho “Khí”; Cửu hoa biểu thị cho “Thần” của con người. “Tam hoa tụ đỉnh” biểu thị tinh, khí, thần hợp nhất, con người đạt đến cảnh giới thăng hoa.

    [3] Tường vân: Mây lành.

    [4] Đoạn tụ (hay còn gọi là mối tình cắt tay áo): Là cụm từ dùng để chỉ đồng tính nam, bắt nguồn từ điển cố của Hán Ai Đế và Đổng Hiền. Hán Ai Đế cũng từng sủng ái và phong chức rất cao trong triều cho Đổng Hiền, một người dịu dàng và có khuôn mặt kiều diễm. Một lần ngủ trưa, Đổng Hiền gối lên cánh tay áo của nhà vua ngủ. Ai Đế muốn rời đi nhưng không muốn làm tỉnh giấc Đổng Hiền nên đã cắt ống tay áo của mình.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:54
  4. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 3

    Mời đọc
    Mồng Hai tháng Năm năm Bính Tử, bản tiên quân cưỡi một đám tường vân tới phủ Thượng Xuyên, gió từ từ thổi mạnh, kẻ đi đường ngửa đầu nhìn ngắm, cả đám người vội vàng chạy tán loạn, gã bán hàng rong luống cuống tay chân, bản tiên quân còn nghe thấp thoáng có tiếng hô: “Trời âm u, sắp có mưa, nhanh dọn hàng về thôi”.

    Người phàm ngu dốt, bản tiên quân không thèm chấp nhặt với bọn họ!

    Mệnh Cách Tinh quân dẫn ta bay tới gần Ninh Bình Phiên vương phủ của Đông Quận, chỉ vào một chỗ trong hậu hoa viên: “Đó chính là thân thể của Nguyên quân”.

    Trong hậu hoa viên có một cái ghế dựa, mấy đứa trẻ ranh mới vài tuổi đang vây quanh một người không hề nhúc nhích, bò lên bò xuống. Cái người vẫn nằm yên đó chính là tiểu công tử Lý Tư Minh của Phiên vương, cũng là bản tiên quân sau này. Ta tỉ mỉ nhìn trái nhìn phải, ánh mắt vô hồn, vẻ mặt ngu ngơ, trên đầu còn bị mấy đứa trẻ ranh cắm đầy hoa với cỏ: “Người này… dường như bị… thiểu năng”.

    Mệnh Cách Tinh quân cười gượng: “Khụ, thân thể này vốn là chuẩn bị cho Nguyên quân, Nguyên quân chưa đến đương nhiên là không hồn không phách, chỉ biết ăn uống lung tung. Canh giờ đã tới, mong Nguyên quân nhanh chóng nhập thân”. Không đợi bản tiên quân nói câu nào lão đã niệm kinh quyết, ngón tay bắn ra, kim quang lóe lên trước mắt bản tiên quân, trong nháy mắt ta đã bị kinh quyết ném về phía hoa viên.

    Cảm giác cực kỳ quen thuộc của mấy nghìn năm trước lan khắp toàn thân, quá trình nhập xác của bản tiên quân thành công rực rỡ.

    Ta làm thần tiên tiêu dao tự tại suốt mấy nghìn năm, đời này nhờ ơn Ngọc Đế “được” trở lại làm người, cái cảm giác chân đạp trên đất đầu đội trời xanh, tứ chi nặng nề, miệng nếm được đủ vị đắng mặn ngọt chua cay, tai nghe được âm thanh trần thế, thật là quá thân quen.

    Thứ đè nặng trên người lại giãy giụa bò cao hơn, ta mở mắt ra, nhìn thấy một gương mặt nhỏ nhắn, đôi mắt to tròn đen láy, hé miệng cười trông đến khả nghi, để lộ hàm răng nhỏ nhắn thiếu mất hai cái răng cửa, bàn tay đen sì lấm lem đất giơ một nắm bùn lên, chuẩn bị tống vào miệng ta.

    “Hì hì, tiểu thúc thúc ngoan ăn nó đi. Tiểu thúc thúc ăn đi nào.”

    Ta hiền lành cười, giơ tay vỗ vỗ đầu nó: “Ngoan, xuống khỏi người tiểu thúc thúc, về tìm cha mẹ con đi.”

    Thằng bé chớp chớp con mắt tròn xoe. Nghiêng đầu nhìn ta. Ta cũng nghiêng người, nhấc một đứa khác đang định leo từ đùi lên hẳn đầu mình xuống: “Ngồi nghiêm đi thẳng, là căn bản của việc làm người, thầy giáo không dạy con sao?”.

    Cũng lại một đôi mắt tròn xoe! Nó chăm chăm nhìn ta một lúc, sau đó ngoạc mồm ra, cái thằng bé này so với đứa ban nãy cũng tinh ranh hơn hẳn.

    Nhóc ranh “Oa” một tiếng, gào khóc ầm trời: “Mẫu thân! Mẫu thân! Mẫu thân! Mẫu thân! Tổ phụ! Tiểu thúc thúc dọa người ta!!!”.

    Nhất thời xôn xao cả phủ, nha hoàn nghe tiếng khóc chạy tới, nha hoàn gọi gia đinh, gia đinh kêu tổng quản và nhũ mẫu, nhũ mẫu dìu phu nhân ra. Hai gã gia đinh cường tráng, trung thành tận tâm, khí thế như Võ Tòng lên núi đánh hổ năm xưa, bế thốc hai vị tiểu thiếu gia bên cạnh ta lên. Ta nhìn hai người họ, nở nụ cười cực kỳ thân thiện, hai người lại lộ ra vẻ mặt kinh khiếp, chạy bán sống bán chết tới tận hành lang.

    Mấy cái đầu lấp ló, núp cách ta phải đến tám trượng hai thước[1] , nhìn chòng chọc vào bản tiên quân như nhìn thấy hồn ma.

    [1] Một trượng bằng mười thước, một thước bằng một phần ba mét.

    Có mắt mà không thấy được chân tiên, bản tiên quân vẫn không thèm chấp nhặt với đám này.

    Mấy gã hộ vệ vác đao vây quanh một vị mặc áo bào thêu hình mãnh hổ màu đỏ tía, tóc mai hoa râm, râu mép cũng hoa râm, mặt vuông chữ điền, in hằn đủ dấu vết sương gió. Không cần nói cũng biết đây là Phiên vương của Đông Quận rồi. Bản tiên quân tạm thời phải làm con ông ta, lần gặp đầu tiên cũng cần vun đắp tí cảm tình.

    Ta chậm rãi bước về phía trước, chắp tay cúi người, cung kính hô một tiếng.

    “Phụ thân.”

    Trong đôi mắt hổ của Đông Quận Vương, ánh sáng bí ẩn bắn ra bốn phía, nhìn chòng chọc vào bản tiên quân. Thằng con ngốc bỗng nhiên tỉnh ra, khỏi nghĩ cũng biết là chuyện kích động đến thế nào. Đông Quận Vương vui mừng tới độ mặt tái mét, cả người run cầm cập, tròng mắt đảo lên, sau đó… ngất.

    Tống Dao Nguyên quân ta biến thành Lý Tư Minh, cực kỳ thuận lợi.

    Người trong Đông Quận Vương phủ nhìn ta, run rẩy tròn một ngày trời. Hôm sau khi Đông Quận Vương gia tỉnh lại, liền mời một vị pháp sư tới làm phép trước mặt ta. Pháp sư cầm cây kiếm gỗ đào múa may một hồi, sau đó lại lẩm bẩm niệm cái gì đó, ta thấy cực kỳ sống động. Đang lúc cao hứng, pháp sư bỗng mở to mắt, nhìn chòng chọc vào bản tiên quân, sau đó quỳ sụp xuống, đầu nện bôm bốp xuống sàn nhà: “Bần đạo cung nghênh thượng tiên”.

    Ta lại càng giật mình hơn, bao nhiêu năm nay không quản chuyện thế gian, chỉ thấy gần đây thiên đình chẳng có vị tán tiên nào mới thăng thiên lên cả, ta còn tưởng thuật tu đạo chốn nhân gian đã tàn lụi cả rồi. Ai ngờ giữa phố phường lại có kẻ đạo hạnh tinh thông đến mức này, liếc mắt đã nhận ra bản tiên quân.

    Pháp sư thấp tha thấp thỏm, tiếp tục dập đầu: “Bần đạo tu vi nông cạn, không thể nhận ra ngay chân thân của Bạch Hổ Tinh quân, mong Tinh quân thứ tội!”.

    Bạch Hổ Tinh quân? Trên thiên đình, bảy mươi hai vì tinh tú, tám vị Tinh quân, từ lúc nào lòi ra thêm một con hổ làm Thượng quân thế? Đúng là trên thiên đình cũng có vài con hổ trắng, nhưng đều là nuôi để gác Thiên Môn, từ lúc nào thay hình đổi dạng, lên điện làm tiên?

    Pháp sư nhích đầu gối, dập đầu hướng về phía Đông Quận Vương: “Chúc mừng vương gia, chúc mừng vương gia. Bần đạo cả gan tiết lộ thiên cơ, tiểu công tử chính là Bạch Hổ Tinh quân đầu thai chuyển thế. Vương gia phúc dày, kết được tiên duyên, việc này ắt hẳn do trời cao ban phúc”.

    Đông Quận Vương nhìn ta, vẫn còn hơi run rẩy: “Lời pháp sư nói có thật không? Thằng con này của ta từ nhỏ đã ngu si không biết chuyện gì, nay đột nhiên tỉnh táo, thông lễ nghĩa, biết đọc biết viết, thật sự là…”.

    Pháp sư đứng dậy: “Vương gia, công tử là tiên quân giáng thế, đương nhiên không giống người thường, người xưa thường nói, hổ nằm như đá. Tinh quân mấy năm trước giấu mình, giả ngốc, người trần ngu dốt, làm sao biết được.”

    Đông Quận Vương gia rất thỏa mãn với chuyện con trai của mình là hổ tinh hạ phàm – tiểu nhi tử ngốc nghếch đều là do mấy chục năm qua con hổ tinh vẫn còn đang ngủ – chuyện bịa này mà ông ta cũng tin được. Lão già nhìn bản tiên quân, rốt cuộc không run rẩy nữa, trên mặt dường như còn có chút vui sướng.

    “Có điều này mong pháp sư chỉ rõ cho, nếu con ta thật như lời ngài nói, là giấu mình, vậy thì cớ gì đã ngốc mấy năm nay, giờ lại đột nhiên tỉnh lại?”

    Ta bưng chén trà trên bàn lên, uống mấy ngụm thanh thanh cổ họng.

    Pháp sư một tay chắp sau lưng, một tay vuốt râu: “Thiên cơ bất khả lộ”.

    Thiên cơ ông nội nhà ngươi ấy.

    Từ đó về sau, bản tiên quân sống trong Đông Quận vương phủ, cực kỳ thoải mái.

    Đông Quận Vương đem chuyện con trai út Tư Minh là hổ tinh loan báo cho cả vương phủ biết, ta bị người ta lén lút quan sát vài ngày, sau đó dần quen mặt với người trong vương phủ. Những lúc ta đi loanh quanh trong vương phủ, thường thường có mấy hạ nhân làm bộ vô tình đi ngang qua, cố gắng nói bằng được mấy câu với công tử ta đây.

    Đông Quận Vương vốn có mệnh khắc vợ, vợ trước vợ sau đã cưới đến mười mấy bà, đều chết bằng sạch. Thêm cả cái thân thể Lý Tư Minh này của bản tiên quân vào nữa, thì cả thảy có ba người con trai. Con cả Tư Hiền và con thứ Tư Nguyên tranh nhau làm thế tử đến độ sứt đầu mẻ trán. Chuyện hổ tinh vừa loan ra, cả hai vị huynh trưởng đều tới thăm ta. Cố ý bày tiệc rượu trong hậu hoa viên, thưởng ngoạn cảnh đêm, nói mấy câu chuyện phiếm.

    Ngươi cũng nên biết, Tống Dao Nguyên quân ta trên thiên đình đông phiêu tây đãng, uống trà bình rượu chơi cờ luận đạo đã mấy nghìn năm, nhìn khắp cả tiên giới, ngoại trừ Hoành Văn Thanh quân, làm gì có ai nói thắng được ta. Kinh luân đạo điển nói sơ qua cũng được hai phần, chớp mắt đến tận hừng đông. Hai vị huynh trưởng ngủ nguyên một ngày, tin tức bản tiên quân là hổ tinh hạ phàm lại càng truyền xa hơn.

    Mấy ngày tiếp theo, ta lượn lờ khắp trà lầu, phố chợ, dọc ngang đủ mọi ngóc ngách trong vương phủ, cũng đã thăm dò được đại khái tình hình của Thiên Xu Tinh quân và Nam Minh Đế quân.

    Mệnh Cách Tinh quân từng nói cho ta biết, đời này Nam Minh Đế quân tên là Đan Thành Lăng, chuyển thế của Thiên Xu Tinh quân là Mộ Nhược Ngôn. Thám thính mấy ngày, mới biết được hai người cũng khá nổi danh. Nhất là Thiên Xu Tinh quân, rất biết hành hạ bản thân, vượt ngoài dự liệu của bản tiên quân. Trên tường của khắp thành này, đều dán cáo thị truy nã Mộ Nhược Ngôn, còn có một bức họa lớn vẽ nửa người.

    Có người nói, hai nhà Đan – Mộ từng là trọng thần của triều đình, hai nhà tương giao đã lâu, tình thâm nghĩa hậu. Hơn mười năm trước, ông nội của Nam Minh Đế quân đắc tội hoàng đế, bị tịch biên tài sản, tru di gia tộc. Mộ gia lén lút cứu Đan Thành Lăng vào phủ, nuôi nấng thành người. Nam Minh Đế quân trên thiên đình oai phong ngạo nghễ, xuống hạ giới cũng không thể là kẻ có thể nuốt hận khóc thầm. Hiện giờ đang là thời buổi loạn lạc, phiên vương các nơi tay nắm binh quyền, quyền uy của hoàng đế cũng chẳng còn sót lại bao nhiêu. Đan Thành Lăng đầu quân dưới trướng Nam Quận Phiên Vương, một tháng trước xúi giục Nam Quận Phiên Vương công khai tạo phản, muốn đoạt ngôi vua. Hoàng đế giận dữ, sai người tra xét, mới biết mầm tai họa này là do Mộ gia lưu lại, thế nên đã đem cả nhà chém sạch, tịch biên tài sản. Đương nhiên, Ngọc Đế sao có thể để Thiên Xu Tinh quân thuận lợi lên pháp trường, chặt một cái đầu là xong nợ được. Gia nhân của Mộ gia đã liều mạng bảo vệ tiểu công tử Mộ Nhược Ngôn chạy thoát, hiện giờ đang trốn chui trốn lủi, lang bạt giang hồ.

    Mộ Nhược Ngôn trên tấm cáo thị truy nã mặt nhọn mày kiếm, khó mà khiến người ta thích được. Bản tiên quân nhìn bức họa đó cũng có phần than ngắn thở dài. Khi Thiên Xu Tinh quân còn ở trên thiên đình, mặc áo trắng cài trâm ngọc, đạm mạc như mây, tiên phong không nhiễm chút bụi trần. Lúc biếm hạ xuống nhân gian, Ngọc Đế an bài cho y cái mặt như vậy cũng thật thiếu đạo đức. Dù sao bản tiên quân còn phải phụng chỉ diễn một vở kịch ái tình lâm ly bi đát với y, tốt xấu gì cũng phải cho Thiên Xu Tinh quân được một hai phần nhan sắc lúc còn làm Thượng quân chứ. Sau này khi bản tiên quân giữ được y trong tay rồi, nhìn cái mặt như thế, làm sao mà thốt ra được mấy câu ân ái đây?

    Buổi tối, ta vận khí điều tức, định bụng tách nguyên thần, bay lên trời tìm Ngọc Đế lý luận một phen, ai ngờ, hồn phách như bị đóng đinh trong thể xác, không tài nào hoạt động được. Lúc này mới nhớ lão già khốn kiếp Mệnh Cách Tinh quân từng nói, lần này ta hạ giới, nếu không gặp chuyện nguy cấp thì không dùng được phép tiên, thì ra là đề phòng ta biết được sự thật sẽ buông tay mặc kệ.

    Ta cũng chẳng còn cách nào, ở yên trong Đông Quận Vương phủ hết ăn lại ngủ, cứ thế nhàn nhã rong chơi mấy tháng.

    Đông Quận Vương đối xử với đứa con hổ tinh thức giấc là ta cực kỳ từ ái, cố ý dọn riêng một biệt viện cho ta ở. Ta thường chơi cờ uống rượu với hai vị huynh trưởng, còn cùng tới viện Câu Lan[2] nghe hát vài lần, tình cảm càng ngày càng tốt.

    [2] Câu Lan: Nơi hát múa và diễn kịch của thời xưa ở Trung Quốc.

    Ba tháng sau, Mệnh Cách Tinh quân cuối cùng cũng chịu xuống trần lần nữa, nửa đêm thả bản tiên quân ra khỏi thân thể Lý Tư Minh, lơ lửng phía trên vương phủ, nói cho ta biết, kịch sắp mở màn rồi.

    Thiên Xu Tinh quân ẩn náu ở một nơi bí mật, vết thương cũng đã khỏi, được người theo hầu lén hộ tống tới Nam Quận, định đoàn tụ với tình nhân Nam Minh Đế quân của y. Tiểu công tử Lý Tư Minh của Đông Quận Vương phải nhảy ra ngay lúc này, đoạt Mộ Nhược Ngôn về vương phủ.

    Xe ngựa của Mộ Nhược Ngôn sáng sớm ngày mai sẽ đi qua con đường nhỏ dưới chân núi ngoài thành Thượng Xuyên.

    Nam Quận Vương tay nắm binh quyền, xưng vương xưng đế, Đông Quận Vương cũng sắp không nhịn nổi, mấy nơi giao nhau giữa hai quận không tránh được cảnh binh đao. Đông Quận Vương và con cả dạo gần đây hay tới mấy trấn biên giới kiểm tra quân tình, con thứ Tư Nguyên ở lại vương phủ dàn xếp, dẫn theo em trai là bản tiên quân đi xử lý công việc trong phủ.

    Sáng sớm hôm sau, ta nói là nhận được mật báo rằng có thám tử Nam Quận đang ẩn nấp trong đất Đông Quận, xin Tư Nguyên độ ba mươi hộ vệ tinh anh, mai phục trên con đường núi ngoài thành.

    Ai ngờ nấp từ sáng sớm tới lúc mặt trời lên đỉnh, ngay đến bóng xe ngựa cũng chẳng thấy đâu.

    Đường núi vắng vẻ, một không có xe ngựa, hai chẳng thấy người đi đường, ngay cả thỏ rừng cũng không có lấy một con.

    Chuyện này không thể xảy ra được. Chuyện Thiên Xu hôm nay đi qua con đường này đã được Mệnh Cách Tinh quân đích thân an bài, ghi lại trong sách tiên. Bây giờ y chỉ là một người phàm trần, không lý nào lại trốn thoát ý trời. Thế nhưng, rõ ràng lão già Mệnh Cách đã nói với bản tiên quân là buổi sáng, vì sao đến trưa rồi còn chưa thấy người đâu.

    Hơn mười gã hộ vệ áo ướt mồ hôi, bụng Lý Tư Minh thì sôi lên ùng ục, cơn đói khát của bản tiên quân cũng cháy lên rồi. Có nên lấy cớ đi tiểu, rồi tới chỗ vắng vẻ nào đó lôi cổ Thổ địa ra thăm hỏi mấy câu không? Đương lúc ta còn đang cân nhắc đắn đo, thì có giọng nói truyền vào tai từ khoảng không bên phải đỉnh đầu một câu: “Xe ngựa của Thiên Xu Tinh quân bị sơn tặc tập kích cách đây hai dặm, đã bị cướp vào trong sơn trại. Mau đi thôi!”.

    Ta nghe câu này xong, lửa giận bừng bừng, lão già Mệnh Cách kia đang chơi ta sao!!!

    Sự việc cấp bách, đoạt được Thiên Xu quan trọng hơn. Ta gọi Vương Đầu Nhi tới: “Trên núi này có sơn trại hả?”.

    Vương Đầu Nhi nói: “Bẩm công tử, đúng là có mấy tên hại dân hại nước tụ tập lại thành bang, trốn trên đỉnh núi”.

    Ta vung tay áo: “Bảo tất cả các huynh đệ, xông lên núi tóm hết đám mất dạy đấy cho ta”.

    Hộ vệ của Đông Quận Vương phủ quả nhiên đều đã được huấn luyện cẩn thận, Vương Đầu Nhi mặc dù có chút nghi hoặc, nhưng cũng không nhiều lời, ra lệnh một câu, cả đám hộ vệ lập tức xông ra khỏi bụi cỏ, thẳng tiến đỉnh núi.

    Nói là đỉnh núi cho oai, thật ra cũng chỉ là một gò đất nhỏ, ngay cả một cái tên tử tế cũng không có, dân Thượng Xuyên thường hay thuận miệng gọi nó là Đại Thổ Pha[3] . Trên con đường nhỏ mà mấy gã tiều phu hay đi, bản tiên quân dẫn theo đám hộ vệ men theo sườn núi đi tới lưng chừng con dốc, đột nhiên có một trận gió lạnh thổi qua, hai gã trai tráng nhảy ra từ trong rừng: “Ai đi qua con đường này, đều phải lên bái kiến Hắc Phong Trại của chúng ta!!!”.

    [3] Đại Thổ Pha: Dốc đất lớn.

    Hai gã hại nước hại dân tóc tai rối bù, quần áo tả tơi, có thể thấy rằng cái vụ làm ăn không vốn kia cũng chẳng được suôn sẻ cho lắm. Hai gã chân đứng còn không vững, tên còn chưa xưng, hộ vệ của vương phủ đã ào ạt xông lên, đánh chúng trói thành hai cục thịt ném sang bên đường, tiến thẳng lên đỉnh.

    Trên đỉnh núi là một tòa sơn miếu đổ nát hoang tàn, trước cửa miếu có cắm một lá cờ thêu, đề ba chữ Hắc Phong Trại to như cái bát.

    Bên trong miếu, cũng chỉ có một hai chục tên lâu la cùng với một gã tráng hán tự xưng là Đại vương. Đám hộ vệ xông vào miếu sơn thần, chưa đầy nửa canh giờ đã trói gô hết lũ sơn tặc, ném trên nền đất, ta đích thân lục soát miếu sơn thần một vòng, không thấy bóng dáng của Thiên Xu đâu. Vì thế liền tóm bừa một tên lâu la tới hỏi: “Người ở trong chiếc xe ngựa mà các ngươi mới cướp hôm nay đang ở chỗ nào? Đưa hắn ra đây, ta sẽ thả các ngươi đi”.

    Đám tiểu lâu la cùng sơn trại đại vương đồng loạt vểnh tai nghển cổ lên, tên tiểu lâu la bị ta hỏi lập tức đáp lời: “Thì ra công tử tìm cái tên ma ốm ở trong xe ngựa, bức tượng sơn thần rỗng ruột, lư hương chính là chốt khóa, bẻ sang bên trái sẽ mở được cửa hầm, người ấy đang ở bên trong”. Một gã tiểu lâu la khác nhích người sang một bên, khẽ lẩm bẩm: “Ăn dầm nằm dề cả mười ngày, mãi hôm nay mới cướp được một vụ, cứ nghĩ có xe có ngựa, lại được tới ba bốn người bảo vệ thì chắc chắn là mẻ cá to, ai mà biết trong xe chỉ có một tên ma ốm, còn rước đại hạn tới…”.

    Bản tiên quân làm bộ không nghe thấy, khởi động cơ quan đi ra sau bức tượng sơn thần, bước vào trong cửa ngầm.

    Trong ruột bức tượng bằng bùn tối đen như mực, ta thấp thoáng thấy một bóng người nằm bên trong, có lẽ đã bị đám sơn tặc dùng thuốc mê đánh bất tỉnh rồi.

    Ta âm thầm niệm Quan Tiên Quyết.

    Trong bóng tối âm u, ta nhìn thấy một tầng sáng bạc mỏng manh, bao quanh một thân người. Đó là tiên huy[4] của Thiên Xu, trong trẻo mà lạnh lùng. Người này, đúng là Mộ Nhược Ngôn.

    [4] Tiên huy: Ánh sáng bao quanh thân thể thần tiên.

    Ta thực sự rất muốn biết Thiên Xu Tinh quân giờ có bộ dạng ra sao, liền ôm Mộ Nhược Ngôn ra khỏi gian phòng tối trong ruột tượng, xoay mặt ra xem: Gương mặt lấm lem bùn đất, tóc rối tung, ngoại trừ lôi thôi thì nhìn không ra cái gì nữa. Ta cũng hết cách, bèn gọi Vương Đầu Nhi: “Trói đám người còn lại vào, tìm một cái cáng đặt người này lên, sau đó đưa tất cả về vương phủ”.

    Trước khi đi, ta cởi dây trói cho đám sơn tặc, nói một câu: Đã đắc tội rồi. Bản tiên quân lúc nào cũng rất từ bi, thời buổi loạn lạc, kiếm bát cơm cũng không dễ dàng gì.

    Vậy là Thiên Xu Tinh quân bị bản tiên quân đưa về Đông Quận Vương phủ một cách xuôi chèo mát mái.

    Vì sao ta vốn đi cướp người, cuối cùng lại thành cứu người là sao?

    Ta nói với Lý Tư Nguyên, theo tin tình báo thì những người này là thám tử của Nam Quận, nhưng tra xét một hồi cũng không tìm được thứ gì khả nghi. Lý Tư Nguyên đang bề bộn với đống sự vụ lớn nhỏ của vương phủ, nói: Việc này giao cho tam đệ, đệ xem thế nào rồi tự mình xử lý đi. Thế là Thiên Xu danh chính ngôn thuận vào ở trong viện riêng của Tam công tử.

    Dựa theo an bài của Mệnh Cách Tinh quân, chờ Mộ Nhược Ngôn hồi tỉnh, bản tiên quân sẽ tuyên bố rằng mình đã phải lòng y rồi. Ta nhìn gương mặt của người đang nằm trên cáng, hít sâu mấy lượt. Sau đó sai hạ nhân tắm rửa từ đầu đến chân cho y.

    Ta vào phòng ngủ, đóng cửa lại, chợt thấy ánh sáng đỏ rực lóe lên, Mệnh Cách Tinh quân đang đứng bên cạnh bàn, gương mặt nhăn nheo nở nụ cười tủm tỉm, chắp tay chúc mừng ta: “Tống Dao Nguvên quân mới lập được đại công, chúc mừng chúc mừng!”.

    Ta nhăn mặt: “Tinh quân, ngài giở trò với ta. Rõ ràng nói là buổi sáng đi cướp người trên núi, thế nào lại thành vào sơn trại cứu người!”.

    Mệnh Cách Tinh quân cười gượng, nói: “Lúc hạ bút, lão nhất thời giản lược đi mấy chữ, không ảnh hưởng đến việc lớn, không ảnh hưởng đến việc lớn”. Nói xong liền móc sổ thiên mệnh ra, giở tới một trang, ta nhận sổ từ tay lão, thấy trên sổ có ghi, giờ Thìn Mộ Nhược Ngôn gặp cướp trên đường núi, Lý Tư Minh có được Mộ Nhược Ngôn.

    Thì ra là thế. Lão già lười biếng, viết cũng coi như chuẩn!

    Mệnh Cách Tinh quân thấy sắc mặt bản tiên quân không tốt đẹp gì, bèn giấu quyển sổ thiên mệnh vào trong tay áo, vẻ mặt thành khẩn: “Chuyện gì cũng có tốt xấu, thiên mệnh cũng vậy. Có điều sự tình thay đổi như thế này, Thiên Xu lại thành ra nợ ngươi một món ân tình, cũng là chuyện tốt”.

    Ta thờ ơ nói: “Thật không đấy?”.

    Mệnh Cách Tinh quân chắp tay: “Nguvên quân phụng ý chỉ của Ngọc Đế để cho Thiên Xu chuyển thế, chịu một đời tình kiếp. Đối với người chí tình, bi ai lớn nhất không gì ngoài mấy chữ: Tổn thương tình cảm. Tổn thương tổn thương, nếu đã vô tình thì từ đâu mà có tổn thương?”

    Lòng ta khẽ run lên: “Nghe lão nói, chẳng lẽ là muốn ta hư tình giả ý, khiến Thiên Xu động tình?”.

    Mệnh Cách Tinh quân nói, ý vị sâu xa: “Đó cũng coi như một cách, cưỡi mây hay lướt gió, chọn phương pháp nào đều phụ thuộc vào Nguyên quân”.

    Gương mặt ta co giật, chuyện bản tiên quân có khúc mắc với Thiên Xu chúng tiên đều biết, Ngọc Đế nhất định nghĩ ta sẽ nhẫn tâm, mặc kệ Thiên Xu quyết tâm chỉ yêu Nam Minh Đế quân cũng được, dụ y thật lòng cảm mến Lý Tư Minh cũng xong. Bản tiên quân chỉ cần giở thủ đoạn, làm mấy chuyện thiếu đạo đức với y là thiên hạ thái bình.

    Mệnh Cách Tinh quân đi rồi, ta ở trong phòng lưỡng lự một lúc, cuối cùng cũng đóng cửa đi ra.

    Nha hoàn báo lại, người kia đã được thu xếp ổn thỏa, đang ở trong một gian phòng trống.

    Ta thong thả bước tới trước cửa phòng, đẩy cửa ra, đi đến bên giường, ngẩn người.

    Người nằm trên giường rõ ràng là Thiên Xu Tinh quân mà bản tiên quân vẫn thường thấy lúc còn ở thiên đình. Đường nét khuôn mặt, ngũ quan giống hệt như nguyên bản, chỉ là sắc mặt có chút xanh xao, kém đi một chút, người cũng gầy hơn.

    Bị chân dung kia dọa cho một trận, giờ nhìn gương mặt này, nhất thời ta cảm thấy như vừa nhặt được kho báu. Ngọc Đế tuy rằng thiếu đạo đức, nhưng trên phương diện này, cũng coi như không quá đáng.

    Mái tóc đen tuyền của y còn hơi ướt nước, xõa xuống bờ vai. Bên cạnh có đặt một khối ngọc, bản tiên quân cầm lên nhìn qua, mặt ngọc trơn nhẵn, chắc hẳn thường được người kia ngắm nghía vuốt ve, chẳng lẽ là vật đính ước mà Nam Minh Đế quân tặng cho y?

    Thiên Xu Tinh quân, từ nay về sau, bản tiên quân nhất định phải làm vài chuyện, ngươi chớ trách ta. Tống Dao Nguyên quân ta không phải là kẻ thích lấy việc công trả thù riêng, chỉ là Ngọc Đế đã hạ chỉ, tránh cũng tránh không xong. Dù bản tiên quân không ra mặt, Ngọc Đế cũng sẽ phái thượng tiên khác xuống. Đời này, ngươi nhất định phải chịu khổ rồi.

    Ta đặt miếng ngọc lại bên gối.

    Hô hấp của người trên giường khẽ thay đổi, mí mắt run rẩy, ta chấn chỉnh lại tinh thần, đứng nghiêm chỉnh bên giường.

    Thiên Xu nhìn bản tiên quân, ánh mắt trong veo mang theo một tia nghi hoặc. Ta trông gương mặt thanh nhã đã quen biết cả nghìn năm kia, cười cực kỳ hào sảng.

    “Mộ công tử tỉnh rồi ư?”

    Gương mặt mê man thoáng nét giật mình, gương mặt trắng bệch lại tái thêm một chút. Ta cố kéo căng da mặt, khiến nụ cười rộng hơn một chút.

    “Tại hạ là Lý Tư Minh, gia phụ là Đông Quận Vương Lý Cư Đường. Tại hạ ngưỡng mộ công tử đã lâu, vô tình biết được công tử ghé qua tiểu quận, đặc biệt thỉnh công tử tới tệ xá ở vài hôm.” Mệnh Cách Tinh quân đã nói, phải nhân lúc Thiên Xu mới tỉnh, nói bản tiên quân đã nhìn trúng y rồi, cái này gọi là nhân lúc người ta chưa đứng vững, giáng thêm một quả búa tạ vào đầu.

    Ây da, chuyện này sớm muộn gì cũng phải làm, bản tiên quân kiến thiết xong tư tưởng, thu nụ cười hào sảng về, trưng nụ cười háo sắc ra.

    “Mấy năm trước tại hạ đã mơ một giấc mộng, trong mộng có vị tiên nhân, cùng ta mây mưa một đêm trên núi. Hôm nay nhìn thấy Mộ công tử mới biết, thì ra tiên nhân trong mộng đang ở ngay trước mắt.” Ta nắm lấy cổ tay Mộ Nhược Ngôn, ây dà, da bọc xương, không thuận tay lắm.

    “Nhược Ngôn, đời này kiếp này ta sẽ giữ ngươi bên cạnh, quyết không buông tay.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:58
  5. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 4
    Mời đọc
    Trời đã hoàng hôn, ánh tà dương phá song cửa sổ mà vào, sắc đỏ nhuộm vàng. Cuối hạ đầu thu, gió đêm mát rượi, thấm đượm hương sen tàn trong ao nhỏ.

    Tình này cảnh này sao mà phong nhã, Mộ Nhược Ngôn nhìn ta không chuyển mắt, thần sắc hệt như một chậu nước trong veo, dao động ban nãy chỉ như gợn nước lăn tăn, dần phẳng lặng lại như mặt gương. Thiên Xu chuyển thế, quả nhiên vẫn giống lúc ở thiên đình, thích làm ra vẻ thanh cao, mặt không đổi sắc. Trong lòng thì loạn, ngoài mặt vẫn cố chịu đựng, chịu đến lúc tự biến mình thành con ma ốm như thế này.

    Mộ Nhược Ngôn mở lời, thanh âm ôn hòa, câu đầu tiên nói ra lại khiến ta có chút bất ngờ: “Lý công tử chính là người con út của nhà Đông Quận Vương gia mà người ta vẫn đồn là Tinh quân giáng thế đó sao?”.

    Lời đồn lan truyền đúng là nhanh, ta buông lỏng tay của Thiên Xu ra, khoe hàm răng trắng, “Hổ tinh hạ phàm chỉ là lời xằng bậy mà đám lừa đảo bịp bợm trên giang hồ treo bên cửa miệng, thiên hạ này làm gì có những chuyện thần kỳ hiếm lạ như thế”. Tinh quân đầu thai thực sự là ngươi – là vị Thượng quân đang ngồi ở trên giường đây này, khiến bản tiên quân cũng bị liên lụy, phải theo ngươi xuống trần chịu khổ.

    Mộ Nhược Ngôn nhỏm dậy khỏi giường: “Chuyện này tại hạ cũng chỉ vô tình nghe được lúc đi qua quán trà nơi dân dã”, sau đó nở nụ cười, “Nếu có chỗ nào mạo phạm, xin công tử lượng thứ”.

    Ta nhích lại gần trước mặt Mộ Nhược Ngôn thêm chút nữa, cúi đầu, nhìn sâu vào mắt y, “Ngươi giờ đây đã là người của ta, đôi ta nói chuyện còn cần gì khách khí”.

    Thiên Xu Tinh quân à, nghe xong câu nói kiên quyết này, ngươi phải chống đỡ cẩn thận đấy.

    Sắc mặt Mộ Nhược Ngôn lại càng vàng hơn, gió mát thổi vào phòng, tung lên tà áo đơn hơi mỏng, cơ hồ muốn thổi bay thân thể đối phương, vẫn là nụ cười nhạt ẩn hàm khách khí, vẫn là dáng vẻ cố giữ nét thanh tao. Bản tiên quân khẽ thở dài trong lòng, nhìn y mấp máy đôi môi trắng bệch, nói với ta rằng: “Hôm nay có may mắn vào được trong nội viện của Đông Quận Vương phủ, chắc hẳn công tử đã sớm biết rõ hành tung lần này của tại hạ. Ơn cứu mạng trên núi ngoài thành, tại hạ cảm kích không thôi…”.

    Ta chặn ngang lời y, “Đừng nói mấy câu không biết lấy gì báo đáp, từ nay về sau, tháng ngày ngươi ở cạnh ta vẫn còn dài lắm, muốn báo đáp thế nào mà không được”.

    Sắc tái xám trên mặt Mộ Nhược Ngôn lại u ám thêm vài phần, y vội dùng ống tay áo che miệng, ho vài tiếng, sau đó cười khổ.

    “Trước mặt người ngay không nói lời mờ ám, Mộ Nhược Ngôn thân là trọng phạm triều đình đang lẩn trốn, Lý công tử lại mang tại hạ vào trong Đông Quận Vương phủ, phỏng chừng đã có an bài. Tại hạ đã sớm lâm vào bước đường cùng, sống chết đành phó mặc cho trời. Nhưng không biết bản thân còn gì đáng giá để Đông Quận Vương phủ phải phí công phí sức như thế.”

    Giọng điệu sao mà cay đắng, bản tiên quân nhìn bộ dạng liêu xiêu sắp đổ của y một lúc lâu, mới bất đắc dĩ đưa tay đỡ y một chút. Mộ Nhược Ngôn không kịp lui lại phía sau, cả thân người đột nhiên cứng đờ như đá. Này, bản tiên quân cùng lắm cũng chỉ lên mặt nói được vài câu, chứ có động tay động chân gì thật đâu mà.

    Thế nhưng cái vai gian ác bề ngoài này vẫn cứ phải diễn cho xong, ta nửa dìu nửa ôm Thiên Xu, nói rằng: “Nhược Ngôn là người thông minh, ta cũng không dối ngươi làm gì. Lần này bắt được ngươi, ta vốn muốn áp giải về kinh, chỉ có điều bản công tử vừa nhìn thấy Nhược Ngôn đã một lòng cảm mến, nghĩ đi nghĩ lại, vẫn muốn giữ ngươi lại trong vương phủ. Thứ nhất là có thể cùng ngươi thường xuyên gần gũi. Thứ hai…”.

    Ta nhặt một sợi tóc vương trên vai y ra, âm trầm cười lạnh, “Vị Đan tướng quân của ngươi cũng là một nhân vật tuấn kiệt phong lưu, nếu có thể nhờ việc này mà kết giao với hắn, quả thực cũng là một chuyện tốt đẹp”.

    Cũng không chờ nhìn sắc mặt Thiên Xu, ta phẩy ống tay áo, xoay người, cười dài một tiếng: “Nhược Ngôn chắc cũng mệt rồi, trước tiên cứ chợp mắt chốc lát, đợi đến khi ánh trăng sáng rõ, ta sẽ lại đến đây cùng ngươi tận hưởng một đêm tươi đẹp”.

    Sải bước ra khỏi cửa, vầng mặt trời ban chiều chỉ còn phân nửa, ráng mây rực rỡ. Ta căn dặn tiểu nha hoàn, “Lấy chút trà nóng và trái cây, hầu hạ Ngôn công tử dùng đi”. Sau đó bước nhanh về phòng ngủ, rót liền hai chén trà lạnh, sờ soạng cánh tay phải ban nãy mới dùng để ôm Thiên Xu cứ cảm thấy có chút kỳ quái không diễn tả cho rõ được. Liếc mắt trông thấy một mái đầu bé xíu ló ra từ phần dưới của khung cửa, đang chu cái miệng thiếu mất hai cái răng ra, nhìn chằm chằm ta, thì ra là đứa cháu nhỏ của bản tiên quân, Lý Tấn Ninh – con trai của Lý Tư Hiền.

    Thằng bé này ở trong vương phủ, ai gặp cũng phải đau đầu, đã tinh ranh lại còn gan lớn. Ngày ấy trong viện, bản tiên quân từng dọa nó và Lý Tấn Thù – con trai của Lý Tư Nguyên một trận. Sau đó ta lại bị người ta coi là hổ tinh hạ phàm, cả ngày lượn qua lượn lại trong vương phủ, Tấn Thù cứ nhìn thấy ta là chạy, chỉ dám nép sau cây cột nơi góc phòng, ló nửa cái đầu ra nhìn lén. Còn Tấn Ninh thì lại vui tươi hớn hở mà bám đuôi ta, ban đầu thì chỉ đi theo, sau lại lén lén lút lút ném mấy viên đá nhỏ vào lưng ta. Có một ngày, ta đang ngồi nghỉ tạm trong đình ở vườn sau, nó lăn từ trong bụi cỏ ra, nhào vào đầu gối ta, mở to đôi mắt tròn xoe, hỏi bằng giọng cực kỳ trịnh trọng: “Tiểu thúc thúc, ai cũng nói thúc là do yêu tinh bạch hổ biến thành, có phải gạt người không đó?”.

    Ta nói: “Là Bạch Hổ Tinh, không phải yêu tinh bạch hổ”. Bản tiên quân biến thành hổ tinh cũng coi như xong, giờ lại bị nói thành hổ yêu tinh thì còn gì là mặt mũi thần tiên nữa?

    Lý Tấn Ninh phùng má nói:’“Nói tiểu thúc thúc là yêu tinh bạch hổ nhất định là gạt người thôi!!! Mặt con hổ trông tròn tròn, mặt tiểu thúc thúc có tròn đâu, tiểu thúc thúc không phải con hổ!”.

    Ta nghe thế mà lệ nóng dâng đầy hốc mắt, xem đi xem đi, thằng bé này hiểu biết đến nhường nào. Cái vương phủ này từ trên xuống dưới cả đống người, lại chẳng có ai bằng một thằng bé mới bảy, tám tuổi ranh.

    Ta vươn tay xoa đầu Lý Tấn Ninh, nó lập tức lộ ra hàng răng cửa bị thiếu mất hai cái, sau đó dùng cả tay lẫn chân mà bò lên đầu gối ta, “Tiểu thúc thúc, thúc không phải hổ yêu tinh, vậy có kể được chuyện về hổ yêu tinh không?”.

    Ta nở một nụ cười thật hiền từ mà đáp: “Được chứ. Không riêng gì hổ yêu tinh, cả chuyện về hồ ly tinh, yêu tinh gấu đen, yêu tinh nhện, yêu tinh hoẵng, tiểu thúc thúc cũng kể được”.

    Lý Tấn Ninh túm lấy vạt áo trước của ta “Yêu tinh gấu đen!!! Cháu muốn nghe chuyện yêu tinh gấu đen!!!”.

    Bản tiên quân ho một tiếng thông cổ họng, sau đó kể một đoạn về yêu tinh gấu đen, vừa mới kể được một nửa, Lý Tấn Ninh đã nằm sấp trên người ta mà ngáy khò khò, nước miếng rớt đầy lên áo của bản tiên quân.

    Ta hết cách, đành bế nó về nội viện, giao cho nhũ mẫu. Từ đó về sau Lý Tấn Ninh liền dính chặt lấy bản tiên quân ngày nào cũng phải chui vào Hàm viện một hai lần.

    Lúc này, Tấn Ninh nhận ra ta trông thấy nó, liền lao từ chỗ cánh cửa lại ngay lập tức, sau đó vặn vẹo thân người, bò lên trên đầu gối của bản tiên quân, “Tiểu thúc thúc, cháu muốn ăn trứng chim nướng”.

    Trán bản tiên quân nhói lên: “Chỗ này làm gì có trứng chim nướng, về mà đòi mẹ cháu ấy, bảo nhà bếp làm chim cút nướng cho mà ăn”.

    Tấn Ninh lắc đầu quầy quậy, “Không ăn chim cút nướng đâu, trên cái cây ở hậu viện có một tổ chim, tiểu thúc thúc, chúng ta tới đó chọc tổ chim xuống là có trứng chim liền”. Thằng ranh con này đúng là biết không ít.

    Ta vừa mới đối phó với Thiên Xu Tinh quân, tổn thất không ít nguyên khí, còn lòng dạ nào mà đi dỗ trẻ con chứ, liền nghiêm mặt nói: “Thôi ngay, lấy tổ chim gì, ngã lộn cổ xuống thì làm thế nào!!! Ngoan ngoãn về phòng luyện viết chữ đi!”.

    Tấn Ninh méo miệng, móng vuốt bé xíu vẫn cứ túm chặt áo ta, không chịu buông ra, “Cháu không về. Cháu muốn nghe chuyện về yêu tinh thằn lằn. Tiểu thúc thúc kể đi!”.

    Thôi được rồi, dù sao thì tiểu tổ tông này nghe đến phân nửa cũng sẽ lăn ra ngủ, ngủ rồi thì bản tiên quân sẽ thoát nợ. Yêu tinh thằn lằn? Bịa chuyện yêu tinh thằn lằn thế nào bây giờ?

    Kể được một nửa, Tấn Ninh quả nhiên đã ngáy khò khò. Ta ôm nó ra khỏi cửa, nhũ mẫu của đứa cháu đích tôn này cũng đã sớm thành quen, đợi sẵn ở trong viện, hành lễ với ta, vừa cười vừa nói: “Lại tới làm phiền Tam công tử rồi”. Sau đó bà ấy đỡ lấy Tấn Ninh, trở về Thân viện dành cho cháu đích tôn, ta cuối cùng cũng được yên tĩnh một mình.

    Bóng đêm vừa tới, trong vương phủ đèn đuốc sáng trưng.

    Ta dùng xong bữa tối, tắm rửa thay y phục, liền gọi nha hoàn hầu hạ bên sương phòng[1] tới hỏi: Tình hình của vị công tử trong sương phòng thế nào rồi? Thời gian cũng không còn sớm, bản tiên quân cũng nên đi “hầu” Thiên Xu ngủ rồi.

    [1] Tứ hợp viện là một loại kiến trúc cổ ở miền bắc Trung Quốc, có quy tắc cố định như sau: Phía bắc là chính phòng, hai bên đông – tây là sương phòng, phía nam là đào tọa. Cả bốn phía đều là phòng ở, chính giữa là sân nhà, hành lang sẽ nối liền chỉnh thể kiến trúc. Theo lệ cũ, con trưởng và thứ sẽ ở sương phòng.

    Nha hoàn nói: “Thân thể của vị công tử không được tốt, lúc gần tối chỉ uống vài ngụm trà, ho một hồi liền mê man ngủ, ban nãy vừa mới tỉnh, nô tỳ đang ra ngoài hâm lại trà cho ngài ấy”.

    Nguồn ebooks’: luv-ebook.com

    Ta “ừ” một tiếng, sau đó nhẹ chân bước tới trước cửa sương phòng, nghe như có tiếng vật gì ngã xuống đất, đẩy cửa phòng ra, dưới ánh đèn lờ mờ ảm đạm, chỉ thấy Mộ Nhược Ngôn đang lơ lửng trên không, dây lưng bằng lụa trắng vắt qua xà nhà chẹn ngang cần cổ.

    Lòng ta thầm hô một tiếng “xong rồi”, ai ngờ Thiên Xu Tinh quân lại không chịu được nhục nhã đến mức này, buổi chiều ta chỉ mới nói có mấy câu y đã nảy ý định tìm cái chết. Ta vội vàng lao tới đỡ y xuống, Mộ Nhược Ngôn mà chết rồi thì ta biết ăn nói với Ngọc Đế thế nào.

    Mộ Nhược Ngôn nhẹ lả người trong vòng tay ta, hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt trắng xanh, ta đặt ngón tay dưới mũi y, hoàn toàn không thấy hơi thở, ấn huyệt nhân trung, vỗ mạnh sau lưng… Làm đủ kiểu mà y vẫn chẳng nhúc nhích gì, thật đáng hận, việc đến nước này rồi mà lão già Mệnh Cách vẫn không xem là tình huống nước sôi lửa bỏng, bản tiên quân vẫn không sử dụng được nửa phần tiên thuật. Ta chẳng còn cách nào khác, đành kề miệng lại gần môi Mộ Nhược Ngôn, truyền cho y một ngụm tiên khí.

    Hai miệng kề nhau, đôi môi của Thiên Xu lạnh lẽo, nhưng lại rất mềm. Bản tiên quân vừa chạm đến, liền thấy chột dạ trong lòng. Thiên Xu Tinh quân bị ta hôn một cái thế này, coi như ta được hời, đành xem như báo đáp ta hai lần cứu mạng y.

    Ta dùng đầu lưỡi cạy khớp hàm của Thiên Xu ra, truyền một ngụm tiên khí, ngẩng đầu, lau miệng. Hoành Văn Thanh quân mà biết chuyện này thì thể nào bản tiên quân cũng bị nhạo báng tới chết cho coi.

    Thiên Xu hồi được một hơi thở, lông mi khẽ động, bị ta vỗ mạnh sau lưng vài cái, tức khắc liền ho khù khụ, từ từ mở mắt ra. Ta nở một nụ cười dữ tợn, “Muốn tìm cái chết ngay trước mũi bản công tử sao??? Ta mất bao công mới tóm được ngươi về, sao có thể để ngươi chết dễ dàng thế được!”.

    Một hai chục năm trước Ngọc Đế cũng khiến Thiên Xu chịu không ít khổ, ta chẳng tốn bao nhiêu sức lực đã nhấc được y lên, ném về giường. Ánh mắt Mộ Nhược Ngôn lúc này sắc bén, lạnh lẽo mà thê lương, liếc ta một cái, sau đó nhắm nghiền mắt lại, bên môi chợt hiện một nụ cười khổ sở.

    Trong lòng bản tiên quân cực kỳ sầu muộn, rất đỗi thê lương. Thế nhân ai cũng nói người tốt khó làm, thật ra người xấu còn khó làm hơn. Nhìn bộ dạng Thiên Xu lúc này, ta thực sự rất rất không đành lòng. Vài nghìn năm trước lúc ta mới lên thiên đình, được Tiên sử dẫn đi bái kiến chúng tiên, đã nhìn thấy Thiên Xu Tinh quân lần đầu trên đám mây mù nơi thiên cung Cửu Trùng. Lúc đó y vừa mới bước ra từ cung Bắc Đẩu, sáu người còn lại trong Bắc Đẩu Thất Tinh theo phía sau lưng. Giữa vầng hào quang màu bạc trông thấy một bóng người thanh tao phong nhã, đầu cài trâm ngọc, khoác áo bào thuần trắng, khiến người ta không dám đường đột đến sát để nhìn, lại không kìm được khát vọng dõi mắt theo, quả thực là thượng phẩm trong các vị thần tiên. Được sự chỉ dẫn của Tiên sử, ta nghiêng người kính cẩn, phủ phục nghênh đón, “Tiểu tiên là Tống Dao lên thiên đình, xin được ra mắt Tinh quân”.

    Đường nhìn trong trẻo lạnh lùng như tinh tú trên trời chỉ dừng lại trên người ta trong chớp mắt, y gật đầu đáp lễ, còn chẳng thèm khách sáo mà nói một câu, liền nghênh ngang đi mất. Đến Ngọc Đế còn chẳng qua quýt tới mức độ ấy.

    Lúc đó Thiên Xu Tinh quân cao cao tại thượng sao ngờ tới được hôm nay lại lưu lạc đến nông nỗi thế này. Mà căn nguyên của cái bộ dạng thê thảm này, phần lớn là từ bản tiên quân mà ra.

    Nghiệp chướng, bản tiên quân đang gây nghiệp chướng, Ngọc Đế rõ là đang ép bản tiên quân gây nghiệp chướng mà…

    Trong lòng tuy đau khổ, nhưng miệng thì vẫn phải tiếp tục hung hăng, “Thiếu gia của phủ Mộ thừa tướng lại giống đám đàn bà con gái tìm dây treo cổ. Ngươi cũng biết đấy, những người chết vì treo cổ, lưỡi ít nhất sẽ nhô ra một tấc, mấy thứ trắng trắng vàng vàng trong bụng cũng sẽ nôn ra bằng hết. Hạ nhân trong vương phủ ta đi nhặt xác cho ngươi, riêng cọ sàn thôi cũng phải cọ đến nửa ngày rồi. Ngươi muốn tổ phụ, thúc phụ, phụ thân, mẫu thân ngươi ở dưới âm tào địa phủ trông thấy bộ dạng quỷ treo cổ của ngươi sao?”.

    Vẻ mặt Mộ Nhược Ngôn đờ đẫn, không nhúc nhích gì.

    Ta tháo giày và tất của y ra, dịch người y vào trong giường, đắp gọn chăn. Sau đó mở cửa gọi nha hoàn lấy một bộ chăn đệm, gối đầu khác tới.

    Hai tiểu nha hoàn ôm chăn đệm đi vào phòng, trông thấy dải thắt lưng còn đang vắt vẻo trên xà nhà, mặt mày biến sắc. Ta lạnh mặt, sai các nàng đặt đồ ở đó, lấy dây lưng xuống. Đám nha hoàn không dám nhiều lời, cúi đầu bước khỏi phòng.

    Ta cởi bỏ áo ngoài, trải chăn ra, rồi nói với Thiên Xu lúc này đang nhắm mắt nằm quay mặt vào tường, “Từ hôm nay trở đi, ngươi phải ngủ cùng bản công tử, năm tháng còn dài, ngươi nhất định sẽ biết được ta tốt thế nào”.

    Đèn dầu tắt, trong phòng tối đen một mảnh, ta nằm trên giường, nhắm hai mắt lại. Người nằm bên cạnh hơi thở mỏng manh, không hề nhúc nhích.

    Ta đoán Thiên Xu không ngủ được.

    Sau khi sơn tặc bắt y lên núi, khiến y hôn mê nửa ngày. Ta cướp y về Đông Quận Vương phủ xong, y lại ngủ nửa ngày. Ban nãy mới treo cổ tự tử, lại ngất xỉu một phen cứ tính thế thì y đã ngủ cả ngày hôm nay rồi.

    Ta ngáp một cái, lật người hướng ra phía ngoài, y ngủ được hay không bản tiên quân cũng chẳng quản nổi, hôm nay náo loạn cả một ngày, mí trên và mí dưới của ta đã sớm chống đỡ không nổi, muốn áp sát nhau mà thắm thiết nồng nàn lắm rồi, bản tiên quân liền chuyên tâm tĩnh khí, điều hòa nội tức. Lại nghe thấy có tiếng ai đó đang mơ hồ gọi phía trên đỉnh đầu, mong manh như tiếng ruồi tiếng muỗi, “Tống Dao Nguyên quân… Tống Dao Nguyên quân…”.

    Ta giơ tay khua khoắng trong không trung, trùm chăn kín đầu định bụng ngủ tiếp. Cảm giác chết lặng lại dần lan từ trước ngực đến tứ chi, từ từ trôi nổi. Ta hé mắt nhìn, chỉ thấy ánh vàng lấp lánh, bản tiên quân đang lơ lửng giữa không trung, vội vàng cúi đầu nhìn xuống, mang máng thấy có hai hình người đang nằm bất động trên giường. Bản tiên quân từ từ bay lên cao, xuyên qua xà nhà, xuyên qua mái ngói, dừng lại trên nóc nhà. Mệnh Cách Tinh quân đứng dưới ánh trăng vuốt vuốt chòm râu, cười tủm tỉm nói: “Tống Dao Nguyên quân”.

    Ta cố nhấc mí mắt lên một chút, uể oải đáp lời: “Nắm trong tay một quyển sách cai quản số mệnh của chúng sinh, thế mà Tinh quân vẫn còn rảnh rỗi, giờ giờ phút phút nhớ tới chuyện này. Động một tí là lại lôi ta ra mà nói dăm ba câu, tiên đạo cao thâm của lão, Tống Dao này kính phục sát đất. Lúc này gọi ta ra đây, không biết Tinh quân có việc gì căn dặn?”.

    Hai con mắt của lão già Mệnh Cách nheo thành khe nhỏ, “Không phải tới lúc này Nguyên quân mới có thời gian rảnh hay sao. Hôm nay phá giấc ngủ ngon của ngài, sau này trở về thiên đình ta xin tặng Nguyên quân một chiếc giường mây xem như quà tạ tội. Nguyên quân à, những chuyện xảy ra tối hôm nay, ta đều đã thấy cả rồi”.

    Hả, Mệnh Cách Tinh quân nói thấy là thấy Thiên Xu treo cổ tự sát, hay là thấy ta giúp y truyền tiên khí? Ta thở dài mà nói: “Tinh quân nhìn thấy thì tốt rồi, ta đang muốn nói với ngài đây. Làm phiền Tinh quân thay ta nói một câu trước mặt Ngọc Đế với, cái chuyện thiên kiếp này, xin Ngọc Đế hãy phái một vị tiên khác xuống làm đi thôi. Tiểu tiên khó mà hoàn thành trọng trách này được. Thiên Xu tính tình cương trực, vừa dằn vặt hắn một chút thôi hắn đã đi tìm cái chết. Tiểu tiên phụng chỉ hành sự, nếu chẳng may một phút sơ sẩy, Thiên Xu chết thật, lúc ấy lỗi thuộc về ai bây giờ? Việc này ta không làm nữa”.

    Mệnh Cách nói: “Tối nay ta mời Nguyên quân ra đây cũng là để nói việc này. Ngọc Đế đã sớm dùng phép tiên trên người Mộ Nhược Ngôn, không qua hết được tình kiếp thì đời này của hắn không chấm dứt được. Nguyên quân cứ thỏa sức hành động, không cần lo lắng làm gì”.

    Trời xanh ơi, Ngọc Đế thật là thất đức quá đi mất. Khiến Thiên Xu ngay cả chết cũng không chết được, không phải chỉ là có tư tình với Nam Minh Đế quân thôi ư, sao lại phải trừng phạt đến mức này!

    Ta từ nóc nhà về lại trong phòng, nhập vào xác Lý Tư Minh. Bên cạnh, Thiên Xu vẫn đang nằm bất động, nếu bản tiên quân mà là y, lâm vào tình cảnh này không biết sẽ ra sao? Ta nhích về phía mép giường một chút, để y ở phía trong có thể nằm rộng rãi hơn. Lật người hướng ra ngoài, vừa chìm vào mộng, mở mắt trời đã sáng choang.

    Ta nhỏm dậy, lật chăn ra, Thiên Xu nằm bên cạnh hơi thở dài vẫn đều đặn, tựa như còn đang trong giấc ngủ say. Phỏng chừng y đã thức trắng gần cả một đêm, đến giờ tâm sức kiệt quệ, không chịu được mà thiếp đi rồi. Ta nghiêng người nhìn dung nhan Mộ Nhược Ngôn khi ngủ, hai mắt thong dong khép lại, đôi mày dài giãn ra, vẻ mặt điềm tĩnh.

    Y lâm vào tình cảnh này, có được một giấc ngủ ngon cũng chẳng dễ dàng gì. Ta nhẹ nhàng xuống giường, mở cửa phòng ra, chờ nha hoàn bưng nước tới rửa mặt xong, liền tới sảnh nhỏ dùng cơm.

    Bản tiên quân nằm cùng giường, dùng chung gối, cùng ngủ một đêm với vị công tử yếu ớt mảnh mai đoạt được về – câu chuyện phong lưu này xem ra chưa tới buổi trưa đã lan khắp ngóc ngách của vương phủ, ai ai cũng biết. Ta loanh quanh trong viện, chỉ thấy nô bộc với tiểu tư[2] , nha hoàn với nhũ mẫu, đang túm năm tụm ba với nhau, lén lén lút lút nhỏ giọng xì xào, còn thường thường ngó mắt về phía đông sương của Hàm viện, vừa liếc thấy bản tiên một cái, cả đám liền lập tức rụt đầu ngậm miệng, vội vã bỏ đi.

    [2] Tiểu tư: Gã sai vặt.

    Ta chỉ xem như không nhìn thấy. Tận hưởng “nam phong”[3] cũng chẳng phải chuyện gì hiếm gặp, năm đó lúc bản tiên quân vẫn còn là người trần mắt thịt, trong đám vương tôn lắm tiền nhiều của cũng có khối kẻ nuôi dưỡng nam sủng, huống gì là hôm nay? Ta dứt khoát chọc thủng lớp giấy ở cửa sổ này luôn, đi tìm Lý Tư Nguyên trước, “Nhị ca, trong số những người bắt về hôm trước, có một thư sinh dung mạo rất được, tiểu đệ trông mà thích vô cùng, muốn giữ lại trong viện. Nhị ca có thể đáp ứng đệ không?”.

    [3] Nam phong là cụm từ dùng để chỉ hiện tượng đồng tính luyến hoặc hoạt động đồng tính luyến.

    Lý Tư Nguyên nhất định đã nghe được tin này rồi, nhìn ta, cười cực kỳ thâm ý, “Thì ra tam đệ lại thích cái này”.

    Ta nói: “Lúc đầu đệ cũng không biết, nhưng vừa nhìn hắn một cái, chẳng biết thế nào, liền không nhịn được mà muốn… Tiểu đệ biết lai lịch của hắn không rõ ràng, để hắn bên cạnh, nhất định sẽ trông coi cẩn thận, không quên tra xét”.

    Lý Tư Nguyên nói: “Nếu có tra xét ra cái gì thật, tam đệ nỡ xuống tay giết hay sao?”.

    Da mặt ta co giật một chút, sau đó khẽ thở dài, “Quả thực nhị ca đã hỏi đúng vào chỗ hiểm mất rồi. Nếu quả thật tra xét ra cái gì… Vẫn cứ xin nhị ca hạ thủ lưu tình giao cho tiểu đệ, cho hắn kết cục thống khoái, đừng… đừng giày vò hắn làm gì”.

    Lý Tư Nguyên bật cười ha hả, thong thả bước từ sau bàn tới, vỗ vai ta: “Đúng là nhìn không ra, chẳng ngờ tam đệ lại là kẻ si tình thương hương tiếc ngọc!!! Hôm qua ta đã đi tra xét mấy gã hộ vệ còn lại rồi, không tra ra vấn đề gì đáng ngại cả. Đệ cứ giữ kẻ đó lại đi. Đợi đến lúc cha về, nhị ca sẽ thay đệ nói vài lời tốt đẹp trước mắt lão nhân gia”.

    Ta vội vàng đa tạ, bộ dạng cực kỳ vui sướng, “Đa tạ nhị ca! Đa tạ nhị ca!”.

    Lý Tư Nguyên nói: “Chỉ cảm ơn suông thế thôi à, không định mời nhị ca uống một chầu sao?”.

    Tiện tay cho ta một ân huệ, buổi tối còn vắt của ta thêm một chầu rượu ngon.

    Ta lại gọi tất cả đám nô bộc, tiểu tư, nha hoàn tới trước mặt, mở rộng cửa mà nói rõ ràng: “Từ hôm nay trở đi, Ngôn công tử ở đông sương là người của bản công tử. Các ngươi đối đãi với công tử phải cung kính, săn sóc như khi hầu hạ bản công tử, không được phép sai sót nửa phần. Nếu bản công tử biết được các ngươi dám thốt ra nửa câu bất kính với Ngôn công tử, bất kể là trước mặt hay sau lưng, hoặc giả hầu hạ có nửa điểm không chu đáo…”. Ta cười lạnh, buông tay, chén trà rơi xuống đất, “choang” một tiếng, vỡ tan tành, “Vậy thì cái chén này chính là tương lai của các ngươi, đã rõ cả chưa?”.

    Đám hạ nhân run như cầy sấy, đồng loạt quỳ sụp xuống, dập đầu nói: “Tuân mệnh”.

    Ta rất vừa lòng, đứng dậy khỏi ghế, bản tiên quân diễn vai phản diện, kỹ thuật đúng là ngày càng thuần thục.

    Đương nhiên, ta cũng không quên lấy việc này đi giày vò Thiên Xu Tinh quân một phen. Bản tiên quân nghênh ngang đi vào trong đông sương phòng, Thiên Xu đang đứng bên song cửa, ngày hôm trước nghe lão già Mệnh Cách tán thưởng việc bản tiên quân độ khí cho y, cũng hiểu ra làm việc cần phải thẳng tay. Thế là ta chậm rãi bước qua bên đó, kéo Thiên Xu ôm hờ vào trong ngực, nở nụ cười thèm khát: “Hiện giờ tất cả mọi người trong vương phủ đều đã biết ngươi là người của ta rồi. Ta đã sai quản gia thay một cái giường lớn đặt trong phòng chính, từ hôm nay trở đi ngươi sẽ ngủ cùng ta trong đó”.

    Thân thể cứng đờ của Mộ Nhược Ngôn run lên một chút, khép hờ đôi mắt trong trẻo mà lạnh lùng kia lại, nở một nụ cười tang tóc, sau đó đột nhiên ho lớn, ho như muốn dứt cả ruột gan, ho ra hai ngụm máu bầm, vương trên ống tay áo của ta, sau đó đẩy bật ta ra, khiến bản tiên quân một phen loạng choạng, y đứt quãng mà rằng: “Mộ Nhược Ngôn ta sinh ra là trang nam nhi thân cao bảy thưóc, nghe lời dạy dỗ của các bậc thánh hiền… Thà chết cũng không để cho hạng tiểu nhân như ngươi làm nhục…”.

    Cuối cùng đâm đầu thẳng vào tường, bản tiên biết y có đâm cũng đâm không chết được, thế nên ngăn cũng không kịp thời cho lắm, tay vừa mới túm được ống tay áo của Mộ Nhược Ngôn, thì cái trán y đã đập vào mặt tường rồi, máu tươi đầm đìa, hôn mê bất tỉnh.

    Hình như ban nãy ta lại đùa quá trớn…

    Gọi người, truyền đại phu, đắp thuốc, kê đơn, sắc thuốc, nhốn nháo đến rối tinh rối mù.

    Bản tiên quân ngồi ở đầu giường của Thiên Xu, cực kỳ sầu muộn. Ta cảm thấy lần này Ngọc Đế phái ta xuống hạ giới, không phải để ta giày vò Thiên Xu, rõ là để Thiên Xu giày vò ta thì có.

    Ví như hiện tại, Thiên Xu đang hôn mê bất tỉnh, hàm răng cắn chặt vào nhau, nước thuốc không vào miệng được. Bản tiên quân chỉ có thể bưng chén thuốc lên, uống một ngụm, sau đó mớm đến tận miệng y. Ngươi nói xem, rốt cuộc là y thiệt thòi, hay là bản tiên quân lỗ vốn?

    Lão già Mệnh Cách Tinh quân kia đã bảo Thiên Xu không chết được, nói cũng dễ dàng, cũng nhẹ nhàng lắm cơ. Y chết rồi thì càng dễ xử, tìm một cái quan tài mà nhét vào, sau đó đem chôn là xong chuyện. Y không chết, lại “đòi” ngất xỉu, triền miên trên giường bệnh, chờ ta hầu hạ. Lão già đó có giỏi thì tới hầu y thử cho bản tiên quân xem???

    Bản tiên quân không dám mắng Ngọc Đế, bèn mắng Mệnh Cách Tinh quân cho hả giận. Mắng lão già kia một câu, lại mớm cho Thiên Xu một ngụm thuốc. Liếc mắt nhìn sang, cạnh khe hở của cánh cửa phòng, chỗ giấy dán cửa có thấp thoáng bóng mấy người, nhất định là đám nha hoàn, tiểu tư đang nhìn lén rồi.

    Vài ngày trước, từ trên xuống dưới vương phủ còn đang coi bản tiên quân như ngôi sao xấu, sau ngày hôm nay, ánh mắt của tất cả đám hạ nhân nhìn ta quả thực đã thay đổi một trời một vực, bao hàm lĩnh ngộ, đồng tình và khâm phục. Khâm phục ta là một kẻ si tình.

    * * *

    Ta chỉ sợ Thiên Xu tỉnh dậy lại đi đập đầu vào tường lần nữa, liền úp sấp người bên mép giường y, ngủ tạm một đêm. Ngày hôm sau đầu bù tóc rối, người chẳng ra người mà quỷ cũng không ra quỷ. Vài nha hoàn, tiểu tư cùng tới khuyên ta đi rửa mặt, dùng cơm, cố lắm mới chỉnh trang lại được cho ta bộ dạng giống người.

    Buổi sáng, ta lại tới mớm thuốc cho Thiên Xu, mớm được một nửa thì y tỉnh, phát hiện ta lại dám dùng phương thức bỉ ổi đó để cho y uống thuốc, vừa nhục nhã vừa tức giận, định cắn lưỡi tự sát. Lúc ấy ta vừa mới mớm cho y một ngụm thuốc xong, còn chưa kịp ngẩng đầu, liền vội vội vàng vàng giữ chặt lấy cằm y, trong lúc cấp bách liền lấy miệng đi chặn, sơ ý trượt tay, bị hàm răng của y khép chặt lại, răng y cắm phập một cái vào đầu lưỡi của ta, máu tươi phun ra, đau đến đứt gan đứt ruột.

    Đầu lưỡi của bản tiên quân sưng mất mấy ngày, ú a ú ớ, chỉ có thể uống trà lạnh, cả canh nóng cũng không ăn nổi. Sau khi Thiên Xu cắn bản tiên quân bị thương xong, có thể đã trút được vài phần phẫn hận, cũng có thể đã tự cắn lưỡi của bản thân mấy lần, phát hiện cách này không dùng được. Nói chung, chưa thấy động tĩnh gì nữa.

    Ta còn đang mừng thầm, đã thấy nha hoàn chạy tới báo, Ngôn công tử không uống thuốc, một hạt cơm cũng không ăn, một giọt nước cũng không uống.

    Trời ơi là trời, y lại chơi trò tuyệt thực rồi.

    Ta bóp huyệt thái dương, bành đầu lưỡi ra mà nói: “Cứ để hắn đói đi, dù sao đói cũng không chết được”.

    Nói thì nói vậy, nhưng Mộ Nhược Ngôn vốn đã chỉ còn da bọc xương, lại để y đói thêm vài ngày nữa thì chắc đói thành bộ xương khô luôn. Nếu y đột nhiên muốn hít thở không khí trong lành, nửa đêm ra sân đi dạo, chỉ sợ sẽ hù chết người ta.

    Bản tiên quân bôi một ít thuốc giải nhiệt lên đầu lưỡi xong, liền tới đông sương một chuyến. Mộ Nhược Ngôn hơi thở yếu ớt, gương mặt càng trắng hệt như tờ giấy, lúc này đang ngồi trên ghế, thấy ta bước vào phòng, y liền nhắm nghiền hai mắt, giả bộ đang ngồi thiền.

    Ta bành đầu lưỡi, cố gắng phát âm thật rõ ràng: “Ngươi đã một lòng muốn chết, sao không tìm cách nào tử tế một chút. Tuyệt thực chứ gì? Bản công tử nghe nói, quỷ chết đói địa phủ không nhận, sẽ hóa thành linh hồn lang bạt, chuyên cắn xé những linh hồn lang bạt khác, hoặc ăn dương khí của con người. Muốn được đoàn tụ với người thân của ngươi, còn cả vị Đan tướng quân trăm năm sau nữa ư, nằm mơ giữa ban ngày!”.

    Xoay người định đi, lại đột nhiên nghe Thiên Xu mở miệng: “Không ngờ Lý công tử lại biết rất nhiều về những chuyện quỷ thần”.

    Ta quay đầu lại, nhếch mép đáp: “Người ta đồn rằng bản công tử là hổ tinh hạ phàm, hổ tinh, đương nhiên phải biết nhiều chuyện thần tiên ma quái rồi”. Nhìn thấy gương mặt của Thiên Xu, đầu lưỡi của bản tiên quân lại bắt đầu đau nhói, nói nhiều vô vị, ta ném lại một câu, sau đó bước khỏi phòng.

    “Ngươi không tin lời ta nói thì cứ thử chết đói mà xem.”

    Buổi tối, nha hoàn Lạc Nguyệt báo lại rằng, Ngôn công tử đã ăn cơm rồi.

    Bản tiên quân lúc ấy cũng đang dùng bữa, nghe được tin vui ấy, quên luôn việc thổi nguội canh nóng, đút luôn một muôi vào miệng, đau đến độ ngũ quan lệch cả vị trí. Lạc Nguyệt đứng bên cạnh, nói mà hai mắt đỏ bừng, “Thiếu gia, chuyện ngài đối xử tốt với Ngôn công tử, ai ai cũng thấy. Ngôn công tử chỉ cần không phải là người có trái tim bằng sắt. nô tỳ tin nhất định sẽ có một ngày công tử ấy hiểu ra tấm lòng của thiếu gia”.

    Hai hàng nước mắt của bản tiên quân suýt trào ra đến nơi.

    Tấm lòng ta dành cho y ư. Ngọc Đế ơi là Ngọc Đế, ngài có thật phái ta xuống đây để hành hạ Thiên Xu không thế?

    Ngôn công tử ăn cơm rồi, Ngôn công tử uống thuốc rồi, đầu lưỡi của bản tiên quân đã khỏi rồi, vết sẹo của Ngôn công tử đã biến mất rồi.

    Thiên Xu muốn chết mà không được, chả khác chi cái xác không hồn, ánh mắt trống rỗng, vẻ mặt thẫn thờ. Không khóc không cười không nói không năng, mặc người sắp đặt. Bản tiên quân chuyển y vào trong phòng, cùng ngủ cùng ăn. Y ăn ít, ta cũng không ép buộc. Đến đêm, một cái giường lớn, mỗi người nằm một nửa, y nghiêng người mà ngủ, không nhúc nhích chút nào, ta cũng chẳng thèm để ý. Cứ thế qua vài ngày, Mộ Nhược Ngôn vẫn cứ như một vũng nước tù, tĩnh lặng không gợn sóng. Có lần ta thấy y lấy miếng ngọc trước ngực ra nhìn, chỉ có lúc ngắm nhìn miếng ngọc ấy, đôi mắt y mới hơi lóe lên ánh sáng.

    Nguồn ebook: Loading...

    Y tĩnh lặng như gương soi, nhưng ta phải gợn cho mặt hồ nổi sóng. Ngọc Đế phái bản tiên quân xuống trần, là để thay y bố trí tình kiếp, không phải xuống hầu y ăn uống ngủ nghỉ. Mấy ngày gần đây, ta thường ôm hờ lấy Mộ Nhược Ngôn, nói vài câu buồn nôn, cợt nhả. Mộ Nhược Ngôn lại cứ như đã nhìn ra bản tiên quân chỉ dùng đến võ mồm chứ không động tay chân, ta nói thì y nghe, hoàn toàn không phản ứng gì.

    Có một ngày, ta dẫn Mộ Nhược Ngôn tới căn đình hóng mát bên hồ Ánh Tuyết trong hậu hoa viên nghỉ tạm. Ta biết y không thích bị người khác săm soi, liền bảo hạ nhân lui cả xuống, không có chuyện gì thì không được lại gần. Mộ Nhược Ngôn ngồi đờ ra như khúc gỗ, mặc ta muốn nói gì thì nói, y đều thẫn thờ không phản ứng gì, cực kỳ nhàm chán. Bản tiên quân rã họng nói với cái cọc gỗ hình người ấy cả nửa ngày, miệng khô lưỡi khô, bên cạnh lại không có ai hầu hạ, chỉ đành tự mình đi tìm ít trà để uống.

    Cầm theo bình trà trở lại đình nghỉ mát, trên con đường mòn len giữa những bụi hoa, xa xa nhìn về phía căn đình, ta trông thấy Mộ Nhược Ngôn đang cầm miếng ngọc kia trên tay, nhìn đến ngẩn người.

    Bản tiên quân mừng như điên, thời điểm dằn vặt Thiên Xu đã tới rồi.

    Bản tiên quân sải bước như bay vào trong đình, dằn ấm trà xuống bàn đá, lạnh giọng nói: “Ban nãy ngươi đang nhìn cái gì?”.

    Mộ Nhược Ngôn ngẩng đầu nhìn ta, vẻ hoảng loạn trong mắt chỉ lóe lên trong khoảnh khắc, sau đó liền thừ ra như cũ, hững hờ đáp lại: “Ngắm phong cảnh”.

    Ta nở nụ cười dữ tợn, lôi tay trái của y, dùng sức cạy ra, nắm lấy dây buộc, giơ miếng ngọc bội lên: “Đây là cái gì?”

    Mộ Nhược Ngôn nói: “Là một miếng bội sức[4] gia truyền tầm thường mà thôi”.

    [4] Bội sức: Đồ trang sức đeo trên đai lưng.

    Ta nắm ngọc bội vào trong tay, giơ lên: “Bội sức tầm thường?! Là bội sức tầm thường Đan Thành Lăng tặng ngươi chứ gì”. Ta chưa từng nghe mấy ông chồng bị cắm sừng gào thét thế nào với mấy bà vợ ngoại tình, chỉ đành dựa theo lẽ thường mà diễn.

    Ta túm chặt lấy bờ vai đơn bạc của Mộ Nhược Ngôn, đau xót mà lắc lấy lắc để, “Lý Tư Minh ta có chỗ nào không sánh bằng tên họ Đan đó, bản công tử đối xử với ngươi như thế, tại sao trong lòng ngươi, trong mắt ngươi vẫn chỉ có một mình gã Đan Thành Lăng đó là thế nào!!”.

    Ta thừa nhận, câu này có hơi buồn nôn, nhưng giờ phút này, thật lòng bản tiên quân cũng chẳng nghĩ được ra câu nào khác hơn cả.

    Ta buông tay, lùi lại một bước, mặt mày hung tợn, nói: “Ta quả thực không biết những lời ngươi nói câu nào là giả câu nào là thật. Nếu miếng ngọc chỉ là một thứ bội sức tầm thường…”. Ta nhấc tay, vung tay về phía hồ, điểm đen vẽ nên một đường cong giữa không trung, làm bọt nước bắn lên tung tóe.

    Sắc mặt Mộ Nhược Ngôn trắng bệch, y đứng dậy, nở một nụ cười chua chát, “Tại hạ cũng không biết, những lời mà Lý công tử nói, rốt cuộc câu nào là thật câu nào là giả. Công tử bắt nhốt tại hạ trong quý phủ, rốt cuộc là vì cái gì, tại hạ nghĩ nát óc cũng không ra”.

    Ta bắt ngươi về đây chính là để giày vò hành hạ, chuyện này là thiên cơ, ngươi đoán được mới tài.

    “Ý dường như thế kia rồi lại làm thế này, ý như thế này rồi lại làm thế kia. Tại hạ chỉ là một trọng phạm bị triều đình truy nã, chỉ như khối gỗ mục ven đường, không biết có gì đáng để cho các hạ khăng khăng một mực, hao tâm tổn trí.”

    Thiên Xu ơi là Thiên Xu, người khăng khăng một mực, hao tâm tổn trí là lão Ngọc Đế kia kìa, bản tiên quân chỉ phụng chỉ làm việc thôi, cũng có sung sướng gì đâu.

    Mộ Nhược Ngôn đưa mắt nhìn ta, đột nhiên bật cười, “Lý công tử, ngươi cũng đâu phải kẻ thích đoạn tụ”.

    “Hả? Ngươi…” Bản tiên quân ngẩn cả người, chẳng lẽ y đã nhìn ra? Ta ổn định tâm trạng, không thể có chuyện đó, vở kịch này bản tiên quân đã diễn đến cảnh giới bi đát lâm ly tột đỉnh, tuyệt không thể có sai sót gì được.

    Mộ Nhược Ngôn dựa người vào lan can mà nhìn ta, tay áo tung bay trong cơn gió nhẹ, phảng phất như…

    Phảng phất như Thiên Xu Tinh quân cao cao tại thượng đứng giữa quầng sáng bạc đạm nhiên cùng áng mây ngũ sắc rực rỡ ta trông thấy vào cái ngày đầu tiên được lên thiên cung Cửu Trùng.

    ©STENT: Loading...

    “Lý công tử, quỷ chết dưới nước có gì cần chú ý không vậy?”

    Ta còn chưa kịp hoàn hồn, Mộ Nhược Ngôn đi qua lan can, nhún người nhảy vọt xuống hồ nước

    Thiên hoàng ơi, chẳng lẽ lão già Mệnh Cách đó đứng sau lưng mà ám ta sao? Tại sao cứ hễ bản tiên quân ra tay y như rằng Thiên Xu lại tìm đường tự tử…

    Ta nhìn chằm chằm vào một lọn tóc đen dần dần chìm xuống khỏi mặt nước, trong lòng thầm nghĩ, chi bằng cứ để y ngâm nước chốc lát, ngâm rồi biết bản thân không chết nổi, thế là sẽ không có lần sau. Ngộ nhỡ Thiên Xu Tinh quân đem mười tám phương pháp tự tử ra thử hết một lần, sau khi vớt lên rồi y lại tiếp tục đi cắt cổ, đi nhảy vực, đi uống thuốc độc. Cuối cùng y không chết, nhưng bản tiên quân lại hầu hạ người ta đến độ thân tàn ma dại thì chết dở.

    Ở trên thiên đình, phép tiên đầu tiên bản tiên quân học là phép tách nước.

    Bởi vì, thật ra, bản tiên quân có chút… sợ nước.

    Ta nhìn mặt nước đăm đăm, thấy hơi chóng mặt. Thiên Xu vẫn không chịu nổi lên, cũng không phải chuyện gì to tát.

    Bản tiên quân đắc đạo bao năm, lên trời cao xuống hoàng tuyền, há lại sợ một cái hồ ư?

    Vứt bỏ áo ngoài, ta lao đầu xuống nước, nước hồ rất không khách khí mà theo đường mũi, theo đường mồm ồng ộc chui vào. Bản tiên quân bị sặc đến độ đầu váng mắt hoa, suy tính xem mình nên giơ tay ra trước hay đá chân ra trước, cái hồ lớn thế này, không biết Thiên Xu chìm ở chỗ nào.

    Lỗ tai càng lúc càng ong lên, đầu càng ngày càng nặng, không ổn, Lý Tư Minh chịu không nổi rồi!

    Có một thanh âm bé xíu vẳng bên tai, “Tống Dao Nguyên quân, Tống Dao Nguyên quân, Thiên Xu Tinh quân ở chỗ này…”.

    Cơ thể đột nhiên nhẹ bẫng, nước hồ xung quanh tách ra, bốn phía là khoảng không cực lớn. Một con rùa già ở đáy hồ dập đầu bái lạy ta, “Tiểu thần Thủ Chẩn, là kẻ cai quản toàn bộ thủy tộc trong hồ này, xin ra mắt Nguyên quân”.

    Không ngờ chỉ là một cái hồ trong vương phủ, thế mà lại có thủy thần cư ngụ.

    Càng không ngờ được, ta đường đường là Tống Dao Nguyên quân, sau khi mất đi phép tiên, lại thiếu chút nữa chết đuối tại cái hồ trong vương phủ này.

    Bên cạnh lão rùa già, là Mộ Nhược Ngôn đang nằm, hai mắt nhắm nghiền. Lão rùa nói: “Tinh quân uống phải mấy ngụm nước, đã hôn mê bất tỉnh rồi, sau khi lên bờ nghỉ ngơi một chút là sẽ ổn. Tiểu thần không ra tay đúng lúc, xin Nguyên quân đừng trách”.

    Ta chắp tay cười đáp: “Lão Chẩn khách khí rồi, nếu không có ngài, sợ rằng ngay cả bản tiên quân cũng sẽ mất mạng trong cái hồ này. Để lão chê cười rồi, chê cười rồi”.

    Lão rùa nói: “Nguyên quân không dùng được phép tiên, thế nên mới sợ nước. Tiểu thần đây có một viên Tích Thủy Châu, nếu Nguyên quân không chê thì xin hãy mang theo nó liền có thể ở trong nước mà đi lại như thường”.

    Ta nói một câu cảm tạ, nhận lấy Tích Thủy Châu, bế Thiên Xu lên, sau đó rẽ nước lên bờ, nâng đầu Mộ Nhược Ngôn lên, bắt đầu việc làm quen thuộc – độ khí.

    Vừa mới dùng đầu lưỡi cạy khớp hàm của y ra, truyền được ngụm khí thứ hai, bên người lại đột nhiên vang lên tiếng người, “Tiểu thúc thúc, thúc đang làm gì thế?”.

    Bản tiên quân ngẩng phắt đầu lên, cái mặt già nua hơi nong nóng, chỉ thấy Tấn Ninh đang mút ngón tay, hai mắt tròn xoe, đen láy nhìn chòng chọc vào ta, chớp chớp liên hồi. Tấn Thù thì trốn sau lưng nó, chỉ lộ ra nửa gương mặt bé xíu.

    Ta ho khan một tiếng, “Vị thúc thúc này bị rớt xuống nước, tiểu thúc thúc đang giúp hắn độ khí”.

    Tấn Ninh nghiêng nghiêng cái đầu, “Độ khí? Độ khí là cái gì? Cháu từng thấy cha làm chuyện này với mẹ rồi, đại bá bá nói với cháu cái đấy gọi là hôn, thành thân rồi mới làm được. Tiểu thúc thúc với vị thúc thúc này đã thành thân rồi sao? Cớ gì lại hôn. Vì sao tiểu thúc thúc lại nói nó là độ khí”.

    Bản tiên quân cười khan mấy tiếng, lớp da mặt dày đã tu luyện vài nghìn năm suýt nữa thì rớt xuống vì xấu hổ, “Khụ, chuyện này… Hành động này của tiểu thúc thúc, nhìn thì có vẻ rất giống hôn, nhưng thật ra dùng để cứu mạng người. Nam nhân và nữ nhân mới có thể thành thân, tiểu thúc thúc và thúc thúc này thành thân thế nào được? Vậy nên cái này là độ khí, không phải hôn”. Ta vươn tay xoa đỉnh đầu Tấn Ninh, “Đừng nói với người khác đấy”.

    Con mắt của Tấn Ninh lóe lên một cái, sau đó nó ưỡn bộ ngực nhỏ lên mà nói: “Tiểu thúc thúc yên tâm đi, cháu nhất định không nói với ai đâu. Cháu hiểu rồi, nam nhân với nữ nhân thì là hôn, tiểu thúc thúc với thúc thúc đều là nam nhân, thì gọi là độ khí”.

    Bản tiên quân sặc nước bọt, suýt nữa thì lăn ra ngất.

    Tấn Ninh ngồi xổm xuống cạnh ta, nhấm đầu ngón tay, nhìn Mộ Nhược Ngôn chằm chằm, nói bằng giọng cực kỳ nghiêm túc, “Tiểu thúc thúc, cháu cũng muốn giúp vị thúc thúc này độ khí, có được không vậy?”.

    Một ngụm tiên khí của bản tiên quân thiếu chút nữa là đi chệch hướng, ta sa sầm mặt xuống, nghiêm nghị nói, “Độ khí là một môn võ công, cháu còn nhỏ, không luyện được, càng không thể sử dụng. Đợi sau này trưởng thành rồi, tự nhiên sẽ lĩnh hội được cái này. Tiểu thúc thúc phải đưa thúc thúc này trở về, cháu ngoan ngoãn ở chỗ này chơi với ca ca đi”. Ta xốc Mộ Nhược Ngôn lên, bước nhanh về phía Hàm viện. Lúc đi qua chỗ ngoặt của đường mòn, liếc mắt nhìn lại, thấy Tấn Ninh vẫn đang đứng yên tại chỗ, mở to mắt nhìn theo ta.

    Trên chiếc giường trong phòng ngủ, Mộ Nhược Ngôn ho ra vài ngụm nước, hơi thở thông thuận, cuối cùng cũng dần tỉnh lại.

    Ta ngồi bên mép giường, nhìn sâu vào trong mắt y, đắp chăn lên cao một chút, “Quỷ chết đuối bụng sẽ phình ra như trục bánh xe, đầu to như cái đấu, là loại khó coi nhất trong tất cả họ hàng nhà quỷ”.

    Hai mắt của Mộ Nhược Ngôn đen kịt, không nhìn thấy đáy. Ta tiếp tục nói: “Quỷ chết do cắt cổ thì sẽ mọc thêm một cái miệng ngay giữa cổ, cháo lỏng vào đằng miệng trên, sẽ tuôn hết ra từ cái miệng dưới cổ, không thể thưởng thức đồ cúng tế. Quỷ rơi vực không có tứ chi, chỉ có thể lết trên mặt đất. Quỷ uống thuốc độc sắc mặt cháy đen, thất khiếu[5] không ngừng chảy máu, miệng không thể nói, phun ra nuốt vào toàn là khí độc. Quỷ chết cháy thì sau khi chết cháy bộ dạng thế nào, lúc làm quỷ bộ dạng cũng y như thế. Còn cả quỷ nuốt vàng[6] nữa…”.

    [5] Thất khiếu: Bảy lỗ trên mặt gồm hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, và miệng.

    [6] Vàng đơn chất không độc với người, chỉ có điều khối lượng của vàng lớn, khi nuốt xuống gây áp lực lên dạ dày không thể thải ra ngoài, nhất thời không chết, người nuốt vàng sẽ bị dằn vặt bởi cơn đau đến chết.

    Ta cười, “Thế nên, nếu muốn tới gặp Diêm Vương, Phật Tổ, Ngọc Hoàng Đại Đế một cách suôn sẻ, chỉ có thể theo mệnh trời, thành thật ngoan ngoãn mà chờ quỷ sai tới bắt thôi”.

    Hai mắt của Thiên Xu không chớp nhìn ta chăm chú, bản tiên quân khẩn khoản nói, “Chỉ thử một lần thôi nhé, có được không?”.

    Mộ Nhược Ngôn vẫn cứ nhìn ta, không nói năng gì, tình cảnh này có chút kỳ dị.

    Bản tiên quân bị y nhìn như vậy, đột nhiên thấy hổ thẹn dâng trào, không nhịn được mà nói: “Ngươi yên tâm, ta…”.

    Đúng vào lúc này, cửa phòng đột nhiên bị xô mở, một thứ gì đó vọt vào nhanh như chớp, “Tiểu thúc thúc…”.

    Ta nhắm mắt chán chường, thằng quỷ nhỏ này sao lại tới nữa rồi. “Lúc ở hoa viên không phải ta đã bảo cháu đi chơi rồi sao. Tấn Thù đâu? Ngoan, tiểu thúc thúc còn có việc.”

    Tấn Ninh túm chặt lấy vạt áo ta, vẻ mặt rơm rớm nước mắt, nói: “Tiểu thúc thúc, đau…”.

    Ta ấn phần thái dương đang nện thình thịch như nổi trống xuống, “Đau chỗ nào? Có phải va phải cái gì ở hoa viên không? Ngoan, về tìm mẹ cháu đi, bảo mẹ gọi đại phu tới”.

    Tấn Ninh kéo tay ta lên, há rộng miệng ra, “Chỗ này, răng lung lay rồi, đau lắm”.

    Ta vươn tay sờ sờ một chút cái răng hàm đang lung lay sắp gãy trong miệng Tấn Ninh, “Cháu đang tuổi thay răng, cái này rụng rồi thì sẽ mọc cái mới. Thay răng sửa thì sao lại đau được?”.

    Tấn Ninh dùng cả tay lẫn chân mà bò lên đầu gối ta, “Vốn cũng không đau, nhưng cha nói hôm nay tổ phụ với bá bá sẽ về, có thịt hươu rừng ăn, cháu muốn ăn thịt hươu rừng, răng cứ lung lay, khó chịu lắm, cháu muốn giật phắt nó ra cơ!”.

    Bản tiên quân cảm thấy may mắn vạn phần, may mà ta đắc đạo thuở thiếu niên, thăng thiên thành tiên. Nếu thành thân rồi, sinh ra đứa con giống thế này, chỉ riêng nổi điên thôi cũng phải mất đến mười năm tuổi thọ.

    Tấn Ninh ngồi trên đầu gối ta, vặn vẹo liên hồi, Mộ Nhược Ngôn đã xốc chăn lên, ngồi thẳng dậy, Tấn Ninh lập tức xoay người lại, chớp chớp mắt nhìn về phía Mộ Nhược Ngôn, gọi: “Thúc thúc”.

    Mộ Nhược Ngôn giương cao lông mày, khuôn mặt lộ ra một chút ý cười. Tấn Ninh lập tức như cá gặp nước, giãy từ đầu gối của ta xuống đất, “Thúc thúc, răng cháu bị đau”.

    Mộ Nhược Ngôn nói, giọng rất hiền hòa: “Đau lắm sao?”.

    Tấn Ninh nhào tới bên giường, gật đầu lia lịa. Ta thấy nó nhìn Thiên Xu chòng chọc, ánh mắt lấp lánh, rất có ý muốn bò thẳng lên người y, trong lòng liền cảnh giác, giờ này thân thể Mộ Nhược Ngôn như vừa mới được dán lại bằng hồ, sao mà chịu nổi cái xác tròn vo của tiểu tổ tông này.

    Móng vuốt nhỏ xíu của Tấn Minh vin lên đầu gối của Mộ Nhược Ngôn, chớp chớp đôi mắt long lanh nước, há rộng miệng, trưng ra nụ cười nịnh nọt, chỗ thiếu răng còn vắt vẻo một dải nước miếng bàng bạc, “Hàm răng cháu đau… Thúc thúc, cùng Tấn Ninh độ khí chữa…”.

    Ta lập tức bịt ngay cái miệng gây tai họa đó lại, mặt lạnh te, túm lấy cổ áo, xách ngôi sao chổi này ra khỏi cửa. Hai chân Tấn Ninh khua khoắng loạn xạ, kêu gào ầm ĩ, “Tiểu thúc thúc xấu xa!!! Tiểu thúc thúc không cho thúc thúc giúp Tấn Ninh độ… Hu hu hu”.

    Ta lôi Tấn Ninh ra tận sân, thằng quỷ con khóc lóc ầm ĩ, nước mũi rớt đầy người bản tiên quân. Đám nha hoàn đứng trong hành lang khúc khích cười trộm, ta giả bộ không nhìn thấy, trầm giọng nói: “Nhũ mẫu đâu rồi? Người đâu, đưa tiểu thiếu gia về phòng!”.

    Hai tiểu nha hoàn mím môi chạy lại, dỗ dành mà dẫn tiểu tai họa đi. Lại thấy một người vội vội vàng vàng chạy từ ngoài viện vào, quỳ xuống bên cạnh bản tiên quân, nói: “Tam công tử, vương gia và đại công tử đã trở về rồi, có dẫn theo một vị khách quý, hiện đang ở sảnh chính. Vương gia có dặn Tam công tử tới sảnh chính ngay”.

    Bản tiên quân vội vã thay áo ngoài khác, chạy tới tiền sảnh, Tư Hiền,Tư Nguyên đều đứng bên dưới, một vị công tử áo xanh đang ngồi ở ghế khách, mái tóc đen như mực nửa buộc lại bằng ngọc quan[7] , nửa xõa bên vai, đạm mạc thanh nhã.

    [7] Thời cổ đại, trang sức đội trên đầu chủ yếu gồm bốn loại: Quan, Miện, Biện và Trách. Trong đó quan là thứ chuyên dùng cho tầng lớp quý tộc. Ngọc Quan là quan được làm bằng ngọc.

    Ta bước qua ngưỡng cửa, Đông Quận Vương nói: “Sao lại lề mề như thế, để khách quý phải chờ. Để ta giới thiệu với con, vị Triệu công tử này là mạc trọng[8] cha mời về, từ nay về sau sẽ ở lại trong phủ. Con nhất định phải cung kính đối đãi, không được thất lễ với người ta”.

    Vị công tử áo xanh đứng dậy, bản tiên quân vừa kinh sợ lại vừa hân hoan, phảng phất như có gió xuân thổi qua, ba nghìn tán đào rực rỡ khai hoa.

    Hắn đứng giữa ba nghìn tán đào, phong nhã khôn cùng, nở với ta một nụ cười nhẹ như gió thoảng.

    “Tại hạ Triệu Hoành, xin ra mắt Tư Minh công tử.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:58
  6. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 5
    Mời đọc
    Bản tiên quân như một gốc cây già cỗi bị sương đánh tuyết đè, chợt thấy gió xuân thổi tới, một thoáng không dằn lòng được, đầu cành đã rộ kín hoa thơm.

    Nói đơn giản dễ hiểu hơn một chút, hiện giờ bản tiên quân đang vui như mở cờ trong bụng.

    Trong khoảnh khắc nở hoa ấy, ta nhìn chăm chăm vào người đối diện hơi lâu một chút, bất giác nở nụ cười, phỏng chừng cũng vì không chú ý mà dư thừa chút hân hoan. Lý Tư Nguyên đứng sau lưng ta “khụ khụ khụ” mấy tiếng liền. Ta mau chóng tỉnh ra, lại định chạy tới nắm chặt lấy hai tay đối phương như hồi trước, chỉ thấy Lý Tư Nguyên càng “khụ khụ khụ” dữ dội hơn.

    Sắc mặt Đông Quận Vương thoáng chút lo âu: “Nguyên Nhi, sao con cứ ho mãi thế, chẳng nhẽ đã bị nhiễm phong hàn rồi?”.

    Lý Tư Nguyên nói: “Không sao đâu ạ, chắc tại ban nãy có gì đó mắc trong cổ họng thôi ạ…”. Anh ta nói xong liền bật cười ha hả, “Tam đệ đúng là đã ngưỡng mộ dáng vẻ, phong thái của Triệu công tử quá rồi, bắt chuyện cũng không biết mở lời thế nào, ha ha…”.

    Lúc này bản tiên quân mới hoàn hồn lại, chắp tay lễ độ nói: “Ngưỡng mộ đã lâu, tại hạ Lý Tư Minh, Triệu công tử xin đừng khách khí”.

    ©STENT

    Trên thiên giới đã dính lấy nhau cả mấy nghìn năm thế mà trước mặt người khác vẫn phải giả bộ khách sáo đúng là thú vị, thú vị.

    Đông Quận Vương nói: “Cha phải khẩn khoản thỉnh cầu Triệu công tử suốt mấy ngày, công tử đây mới chịu vào trong vương phủ làm khách, ba người các con đối đãi với công tử nhất định phải cung kính, khiêm nhường. Sau này chỉ cần gọi ‘Triệu tiên sinh’ là được”.

    Khẩn khoản thỉnh cầu mấy ngày? Tên này nhất định đã sớm giăng sẵn bẫy chờ ngươi đi mời hắn về, ngoài mặt thì ra vẻ ung dung không thèm để ý, nhưng trong lòng thì tìm đủ trăm phương nghìn kế để vào được trong này.

    “Triệu tiên sinh” cười cũng ra dáng lắm, “Vương gia thật khách khí quá, Triệu Hoành làm sao dám nhận”.

    Đông Quận Vương vội nói: “Đâu có, đâu có”, nói xong liền dặn dò kẻ dưới chuẩn bị một gian phòng thượng hạng cho Triệu tiên sinh, hầu hạ tắm rửa thay y phục, kế đó bày tiệc rượu mời khách để tẩy trần.

    Bên cạnh Triệu tiên sinh lúc nào cũng có cả đám người vây quanh hầu hạ, bản tiên quân đành trở về Hàm viện, tâm tình như đứng đống lửa như ngồi đống than, kể cho cái cột gỗ hình người tên là Thiên Xu ấy vài chuyện thế gian ít ai biết đến. Nói là kể cho y nghe, cũng coi như tự lẩm bẩm một mình để giết thời gian.

    “… Sau khi Khương Tử Nha tới Tây Kỳ rồi…” Nguyên Thủy Thiên Tôn từng lải nhải với bản tiên quân công trạng mà đồ nhi của ông ta lập được tới tận mấy lần, nhưng giờ này ta nghĩ nát óc cũng chẳng nhớ ra. “Khụ, khi Dương Tiễn ra sức chém Hoa Sơn, đất trời biến sắc, tinh tú ngả nghiêng. Con yêu tinh gấu đen đó nhảy ra khỏi núi, ‘Tên Trương đạo sĩ kia, ta tu luyện ở chốn này, chưa từng làm hại đến ai, vì sao ngươi cứ khăng khăng đòi lấy mạng của ta!’”.

    “Lý công tử.” Lần đầu tiên Mộ Nhược Ngôn chủ động nói chuyện với bản tiên quân, nhất thời ta không phản ứng kịp, người cứ ngơ ra.

    “Có phải ngươi chê ta nói quá nhiều, quấy rầy ngươi không? Vậy để ta ra sân dạo một chút, ngươi cứ nghỉ ngơi đi.”

    “Không sao.” Mộ Nhược Ngôn lại lộ ra ý cười nhẹ tênh, nụ cười này của y, tựa như ánh nắng ôn hòa chiếu vào mặt nước.

    “Quan Công đấu với Tần Quỳnh[1] là một quyển sách hay, Khương Thái Công, Nhị Lang Thần cùng Trương Đạo Sĩ – ba anh hùng đại chiến gấu đen cũng là một câu chuyện ly kỳ.”

    [1] Quan Công đấu với Tần Quỳnh: Đây vốn là một vở tương thanh (một loại hát nói dân gian) của Hầu Bảo Lâm. Quan Công, hay còn gọi là Quan Vũ, là đại tướng của nhà Thục thời Tam Quốc. Tần Quỳnh lại là đại tướng cuối đời Tùy đầu đời Đuờng. Hai người cách nhau đến mấy trăm năm, gặp nhau cũng còn không được, chứ đừng nói gì đánh đấm. Thế nên, vở tương thanh này mang tính châm chọc, mỉa mai. Câu “Quan Vũ đấu với Tần Quỳnh” cũng lưu truyền rộng rãi, để chế nhạo những kẻ đã không biết lại thích huênh hoang.

    Ta ngượng ngùng ho khan một tiếng, “Hôm nay ngươi bị rơi xuống nước, thân thể nhiễm lạnh, cứ nằm nghỉ một lát cho ấm người đi. Ta… khụ… để bản công tử sai người nấu cho ngươi chút canh gừng”.

    Ta đi lòng vòng khắp ngõ ngách trong viện, lần khần tới khi trời tối hẳn. Trong bữa tiệc tẩy trần ta cũng chỉ khách sáo nói được mấy câu, tiệc tan, ai về phòng nấy. Bản tiên quân rửa mặt tắm gội, cùng Mộ Nhược Ngôn kề đầu mà ngủ, nửa đêm thanh vắng, lại nghe thấy tiếng cười khẽ vang trên đỉnh đầu: “Tống Dao ngươi có cơ hội được ngủ cùng với Thiên Xu Tinh quân, đã say mộng tiên rồi đây ư?”.

    Bản tiên quân bị nhốt trong xác phàm của Lý Tư Minh bị hắn chọc cho một câu, không sao trả đũa được, thẳng tay lật chăn, nhỏm người định dậy. Trên đỉnh đầu lại vọng xuống tiếng nói: “Dậy làm gì, đêm khuya làm bừa, quấy rầy đến Thiên Xu thì không hay. Ngươi nằm xuống đi, ta sẽ thả ngươi ra”.

    Tâm trí thanh linh, tứ chi hoàn toàn thả lỏng. Ta thoát ra khỏi thân thể của Lý Tư Minh, đưa mắt nhìn bốn phía, bước ra khỏi cửa. Hắn đứng dưới ánh trăng, nói: “May mà có phép Tiên Ẩn, nếu không cái tình cảnh này của ta với ngươi bị kẻ nào nhìn thấy, nhất định lại lan truyền chuyện ma quỷ”.

    Bản tiên quân nhịn cả nửa ngày, cuối cùng cũng có thể lao về phía trước, “Hoành Văn!”.

    Hoành Văn Thanh quân phe phẩy cây quạt rách của hắn nói, “Ta ở trên thiên đình thấy ngươi ôm ấp Thiên Xu vô cùng thân mật, nhịn không được phải xuống đây nhìn tận mắt, ngóng từ xa đúng là không bằng nhìn gần”.

    Chẳng lẽ lúc bản tiên quân chịu tội dưới này, cả đám tiên bạn tiên bè đều xúm cả lại, đứng trên mây cao xem kịch sao? Cơ mặt ta co giật, nói: “Làm sao ngươi nhìn được?”.

    Hoành Văn nói: “Những ngày trên thiên đình nhàn nhã tự tại, khó tránh khỏi có chút cô đơn. Mệnh Cách có một tấm Kính Quan Trần, có thể nhìn được những chuyện dưới thế gian. Thỉnh thoảng mang tới cùng ta quan sát một phen”.

    Không ngờ trong tay lão già Mệnh Cách lại còn có thứ như vậy, không biết ngoài Hoành Văn ra, lão còn dẫn ai đi nhìn cùng nữa không. Vừa nghĩ tới chuyện có vài đôi mắt đang chăm chú dõi xuống từ trời cao khi ta ôm Thiên Xu mà độ khí, mà mớm thuốc, là cái bản mặt già nua của bản tiên quân lại không nhịn được mà nóng bừng lên.

    “Ngươi đã trông thấy qua cái kính đó, cũng nên hiểu từ sau khi xuống trần ta đã phải trải qua những ngày thế nào. Lần này ngươi xuống trần là do Ngọc Đế hạ lệnh, hay là lén lút hạ phàm?”

    Bản tiên quân và Hoành Văn đã làm bạn mấy nghìn năm, tính tình hắn thế nào ta sớm rõ như lòng bàn tay ngoài miệng thì cay nghiệt, nhưng nhất định là do thấy ta ở nhân gian thê thảm quá, mới cố ý hạ giới giúp ta một tay.

    Hoành Văn khoan thai nói, “Mệnh Cách Tinh quân chết ngập trong đống việc nhỏ việc to, không rảnh chiếu cố chuyện dưới đây. Nam Minh Đế quân đời này là kẻ kiêu hùng kiệt xuất, Ngọc Đế sợ ngươi không có phép tiên thì đánh không lại hắn, cần có người trợ giúp. Tính đi tính lại, trên tiên giới chỉ có ta là có chút rảnh rỗi, ta và ngươi lại thân hơn người khác, liền phái ta xuống đây”.

    Sau khi Hoành Văn hạ giới, cố ý tạo một cơ hội “tình cờ gặp gỡ” với Đông Quận Vương và Lý Tư Hiền dọc đường từ biên trấn[2] về Thượng Xuyên, cùng hai người này ngồi trong quán trà ven đường, đàm đạo về binh pháp thế cục. Hoành Văn Thanh quân là ai? Là vị Thượng quân cai quản học vấn của thế gian trên thiên đình. Chỉ nói vài câu đã dọa cho Đông Quận Vương đầu váng mắt hoa, hô lớn “tiên sinh đúng là người trời đây mà”, nằn nì đến ba bốn lượt mới thỉnh được “pho tượng thần” này về nhà.

    [2] Biên trấn: Là thị trấn quan trọng ở vùng biên giới.

    Mấy ngày qua, bản tiên quân không ít lần oán trách Ngọc Đế, quả thực ta đã sai rồi. Ngọc Đế ngài tuy rằng thỉnh thoảng có hơi thất đức một tí, nhưng phẩm hạnh thần tiên vẫn cao sừng sững, anh minh nhân từ. Để Hoành Văn hạ giới, như tặng bát canh sâm giữa trời tuyết giá, quá nhân từ; như thêm cánh cho mãnh hổ, quá anh minh.

    Bản tiên quân cùng Hoành Văn đứng bên bờ hồ sen, ta đưa mắt nhìn hắn, hết ngắm trên lại ngắm dưới, lòng đầy hân hoan. Hoành Văn nhìn ta cười, “Lần này hạ giới, ta dùng cái tên ngươi đã đặt cho ta ngày trước, Triệu Hoành”.

    Ta im lặng cười mấy tiếng, đột nhiên nhớ ra một chuyện, “Phòng ngủ dành cho ngươi ở chỗ nào, dẫn ta đi xem thử, sẵn tiện nhớ đường luôn”.

    Hoành Văn vui vẻ dẫn ta đi về phía trước, thì ra chỗ hắn ở ngay trong chính sương bên trái, vừa ra khỏi Hàm viện là đã tới rồi. Ta nhìn vào trong phòng, giữa bóng đêm lờ mờ không thấy rõ được gì. Lần mò tới bên giường, bản tiên quân ngồi xuống, không khỏi than thở: “Nhìn thấy giường liền muốn ngủ, mấy ngày nay ta đã ngủ được giấc nào tử tế đâu”.

    Hoành Văn nói: “Ngươi muốn ngủ thì cứ ngủ, dù sao Lý Tư Minh với Thiên Xu vẫn đang nằm cùng trên một chiếc giường. Trước khi trời sáng ta sẽ đưa ngươi về”.

    Bản tiên quân cũng chẳng khách sáo với hắn làm gì. Mấy ngày qua, ban ngày thì bị giày vò, ban đêm còn phải nghĩ đến Thiên Xu đang nằm bên cạnh, lúc lật người không được đè vào, lúc ngủ không được mở miệng ra ngáy kẻo lại làm đối phương giật mình. Lo lắng đủ bề, không sao yên tâm mà ngủ cho được. Bản tiên quân xoay người lên giường, nằm phía trong, ngáp dài một cái, mơ màng muốn ngủ.

    Hoành Văn nằm xuống bên cạnh, ta nói: “Tối nào ngươi cũng lôi ta ra đi, để Lý Tư Minh nằm cạnh Thiên Xu là được rồi, bản tiên quân tự mình đi tìm giường để ngủ”.

    Hoành Văn thong thả nói: “Ngươi nói kiểu gì thế, được cùng Thiên Xu Tinh quân đêm đêm chung giường, ngươi lại còn kén cá chọn canh, không sợ bị thiên lôi đánh chết sao. Ta ở trên trời nhìn ngươi ôm Thiên Xu, độ khí rồi mớm thuốc, trông cũng thích thú lắm kia mà, sao tới trước mặt ta rồi lại bắt đầu làm bộ làm tịch là thế nào”.

    Hắn áp đầu lại gần bên tai bản tiên quân, thấp giọng nói: “Ngươi có được lộc tiên của Thiên Xu Tinh quân, trong lòng có dao động không đấy”.

    Ta vươn tay ôm chặt lấy Hoành Văn, hơi nhỏm người dậy nở nụ cười háo sắc nói, “Thiên Xu tuy thanh tú, nhưng sao so được với phong thái hào hoa của Hoành Văn Thanh quân đạm nhã vô song, đệ nhất trên thiên giới. Có Thanh quân bên cạnh, trong mắt Tống Dao còn có thể dung nạp thêm ai khác sao. Mấy ngàn năm qua Tống Dao ta chỉ có một cái tà tâm, ấy là muốn được cùng với Thanh quân vu sơn[3] một tối. Nếu như Thanh quân bằng lòng…”.

    [3] Truyền thuyết kể rằng, Viêm Đế có một người con gái, tên Dao Cơ, nhưng chưa gả chồng thì đã mất. Nàng được chôn ở núi Vu Sơn, dân gian tôn làm thần nữ. Có một ngày Sở Vương đến dạo chơi ở đất Cao Đường, nơi có hai ngọn núi là Vu Sơn và Vu Giáp. Nhà vua mệt mỏi nằm nghỉ dưới chân núi, mơ thấy có một người con gái xinh đẹp tuyệt trần, tự xưng là Thần nữ núi Vu Sơn, là người “Triêu vi hành vân, mộ vi hành vũ” (Buổi sáng làm mây, buổi tối làm mưa), cùng nhà vua ân ái một đêm. Sau đó Sở Vương đã kể lại chuyện này cho Đại phu Tống Ngọc nghe, ông đã viết một bài “Phú Cao Đường” rất nổi tiếng để ghi lại chuyện này. Từ đó về sau, người đời cũng thường dùng những cụm từ như “Mây mưa”, “Vu Sơn” để ám chỉ chuyện ân ái.

    Hoành Văn thấp giọng nói: “Nếu ta bằng lòng, thì sao?”.

    Bản tiên quân thu ngay nụ cười háo sắc lại, nghiêm trang đáp, “Thanh quân thuận theo ta, sau đó thiên binh thình lình giáng xuống, tóm cổ hai ta về thiên đình. Ngọc Đế nhất định sẽ khai ân với Thanh quân, giam cầm mấy ngày, giáng chức vài bậc, nhiều lắm cũng chỉ bị giáng xuống làm Nguyên quân cỡ như ta là cùng. Tống Dao ta nhẹ thì ‘xoẹt’ một tiếng trên Tru Tiên Đài, nặng thì ‘xoẹt’ một tiếng, bổ thêm đạo sét trời, hoàn toàn sạch sẽ”.

    Hoành Văn vươn tay xô ta về lại gối, nói: “Ngươi đã biết được thiệt hơn trong đó, lúc ở với Thiên Xu phải nhớ có chừng có mực, bố trí kiếp nạn rồi lại rơi vào kiếp nạn, kết cục thế nào ngươi cũng đoán được. Đến lúc đó ta chưa chắc đã bảo vệ nổi ngươi”.

    Thì ra là sợ bản tiên quân truyền cho Thiên Xu vài ngụm khí lại truyền ra cảm tình. Ta ngáp một cái, nói: “Ngươi yên tâm đi, lúc ta còn ở nhân gian có một thầy tướng số nổi danh đã phán rằng ta ‘mệnh phạm cô loan’, số mệnh muôn kiếp không thê tử, có đầu thai một trăm lần cũng không ai để ý đến ta đâu. Ta nói với ngươi chưa nhỉ, trước lúc lên thiên đình…”.

    Hoành Văn nói, âm tiết mơ hồ: “Ừ, nói đến mấy lần rồi…”, sau đó xoay người lại, im lặng không lên tiếng. Bản tiên quân nhíu mày nói: “Ngươi còn chưa nghe xong cơ mà, sao đã biết ta định nói chuyện nào, vừa mở miệng đã bảo nghe mấy lần rồi”. Đúng là chả cho huynh đệ tí thể diện nào cả.

    Hoành Văn cũng chẳng thèm lên tiếng đáp lời, coi bộ…

    Đã ngủ mất rồi.

    Bản tiên quân bất đắc dĩ thở dài một hơi, xoay người vào trong.

    Chuyện đó, chắc ta đã kể cho hắn nghe rồi.

    Mấy chuyện hồ đồ bản tiên quân trải qua ở trần thế trước lúc thành tiên, chỉ sợ đều đã dông dài với Hoành Văn mấy lần là ít. Nhưng sở dĩ bản tiên quân cho rằng chuyện ấy đáng kể thêm lần nữa, quả thực cũng có lý do riêng.

    Bởi vì trong vài nghìn năm kể từ khi bản tiên quân còn làm người cho đến lúc thành tiên, đó là chuyện duy nhất có thể coi như dính dáng được tới chữ “Tình”.

    Là lần duy nhất ta chân thành yêu mến lúc còn là người trần mắt thịt.

    Ngày đó, bản tiên quân đương độ thiếu niên, cả ngày ở ngoài đường chơi bời tìm vui, tự cho mình là kẻ phong lưu. Có một ngày, trên đầu con phố lớn ở Trường An, trong khoảnh khắc khi ta đột nhiên quay đầu lại, đã trông thấy một giai nhân tựa vào lan can mà đứng. Chỉ một cái liếc mắt ấy, nàng liền trở thành số kiếp đã định trước của ta.

    Nàng là ca kỹ chốn thanh lâu, mười cuộn lăng la[4] mới đổi được của nàng một khúc thanh ca[5] , trăm lượng vàng mới có thể cùng nàng một đêm xuân. Ta hào phóng vung tiền, vàng nghìn lượng, dễ dàng đổi lấy buổi tối với giai nhân. Lại không muốn ép nàng phải uất ức cùng ta lên giường, giả ý uyên ương, đêm đêm hai ta chỉ ngồi cùng nhau tán gẫu, ta tìm đủ mọi cách khiến nàng vui vẻ, chỉ vì muốn nàng cam tâm tình nguyện mở lời nói một tiếng yêu.

    [4] Lăng la: Một loại vải quý ở thời cổ đại, chất liệu tương tự lụa mỏng hiện nay.

    [5] Thanh ca: Là khúc ca không có nhạc khí như đàn, tiêu đệm cho, hay còn gọi là hát chay.

    Kết quả, nàng chẳng yêu ta, lại nhắm trúng một gã tú tài nghèo kiết xác.

    Những thứ châu báu trang sức, đồ cổ, đồ ngọc, nghiên mực cổ, đàn quý… ta tặng cho, nàng đều mang đi bán hết, thuê phòng cho tên nghèo kiết xác kia có chốn dùi mài kinh sử, chuẩn bị trên dưới, tham dự khoa cử. Kết quả tên thư sinh nghèo kiết kia đề tên trên bảng vàng, đạt danh Trạng Nguyên, dẫn theo kiệu hồng rước nàng vào phủ, hai người rốt cuộc thành đôi, nàng trở thành thê tử của kẻ khác. Đầu đường cuối phố, lại thêm một giai thoại có thể truyền lưu tới muôn đời.

    Mà ta, là vai công tử coi tiền như rác phụ giúp một tay trong giai thoại đó.

    Thất bại thê thảm trước cửa ải ái tình, không cần nói cũng biết ngày đó bản tiên quân suy sụp tinh thần thế nào. Ta ban ngày uống rượu, tối đến ngâm thơ. Thương xuân của Tiểu Lý[6] , thu buồn của Vi Trang, giấc mộng Dương Châu mười năm say của Tiểu Đỗ[7] , thơ đau thương buồn bã, từ lạnh lẽo chán chường, bài nào bài nấy lật ngược lại ta đều có thể đọc vanh vách.

    [6] Tiểu Lý: Lý Thương Ân.

    [7] Tiểu Đỗ: Đỗ Mục. Người đời hay gợi Lý Thương Ân và Đỗ Mục là tiểu Lý – Đỗ để phân biệt với cặp Lý – Đỗ (Lý Bạch – Đỗ Phủ).

    Đau thương vì tình ái, đau từ tiết Trùng Dương năm cũ đến tiết Đoan Ngọ năm sau, nàng tới miếu thắp hương, ta cản lối nàng giữa đại điện, hỏi nàng gã tú tài đó rốt cuộc có chỗ nào tốt hơn ta, ta đối đãi nàng bằng cả tấm chân tình, nàng lại một lòng hướng về tên ấy.

    Nàng nói với ta rằng, công tử luôn miệng nhắc đến chữ tình, kỳ thực lại không hiểu cái gì gọi là tình, cái mà ngài gọi là tấm chân tình đó chẳng qua cũng chỉ là không tiếc tay chi vàng ngàn lượng, cái gọi là luyến mộ chẳng qua là tặng thiếp đàn quý, quạt thơm, vòng ngọc, trâm vàng.

    Tướng công ngày ấy tuy nghèo khó, nhưng có thể cùng thiếp trao tâm đổi dạ. Công tử là thiếu gia giàu sang quyền thế, chỉ sợ ngay cả mỳ vằn thắn bên đường cũng chưa từng ăn thử, nhầm tưởng háo thắng là chân tình, làm sao có thể hiểu được đạo lý khi đôi bên lưỡng tình tương duyệt, thì khi đó trong công tử đã có ta.

    Ta buồn bã bước ra khỏi miếu, bồi hồi ở đầu đường. Hơn một năm khổ vì tương tư, sầu vì tình không như ý, lại bị nàng nói là nhất thời xốc nổi, chẳng đáng một đồng.

    Ta đứng trên đường nhìn sương khói vấn vít bên người, chẳng lẽ chỉ vì ta chưa từng ăn một bát mỳ vằn thắn, “tình” của ta liền chẳng được gọi là “tình”?

    Ta chán nản, lê bước lại gần chỗ khói bốc nghi ngút, kéo một cái ghế con con trước cái bàn thấp lè tè, ngồi xuống, ủ ê mà nói: “Ông chủ, cho ta một bát mỳ vằn thắn”.

    Sau khi ăn xong bát mỳ vằn thắn đó, ta thành Tống Dao Tiên.

    Hoành Văn giả bộ an ủi ta mấy câu: “Mệnh, đó chính là thiên mệnh. Thiên mệnh làm sao trái được”.

    Đúng rồi, Hoành Văn từng giễu cợt bản tiên quân, chuyện này quả thực ta đã từng kể cho hắn nghe rồi.

    Lúc đó bản tiên quân đã thở dài mà rằng: “Thiên mệnh khiến ta bị sao Cô Loan chiêu trúng”. Hoành Văn nhoài người trên tảng đá xanh bên bờ hồ sen, nhắm mắt nói, “Không, không, là thiên mệnh khiến ngươi trở thành thần tiên”.

    Nghĩ như vậy, hôm nay ta cùng Thiên Xu với Nam Minh diễn vở kịch này, nhìn tổng thể; lại có một hai điểm tương đồng với tình sử của bản tiên quân năm đó.

    Lý Tư Minh nhìn trúng Mộ Nhược Ngôn. Mộ Nhược Ngôn lại cùng Đan Thành Lăng lưỡng tình tương duyệt. Lý Tư Minh trói chặt Mộ Nhược Ngôn bên người, dùng mọi thủ đoạn, vô tình giày vò, phá nát uyên ương. Tuy rằng Ngọc Đế sẽ không cho Thiên Xu với Nam Minh có kết cục gì tốt đẹp, nhưng Mộ Nhược Ngôn với Đan Thành Làng từ đầu đến cuối vẫn yêu thương khăng khít như xưa, không đổi chẳng thay.

    Hóa ra bản tiên quân vẫn là một tên công tử tiêu tiền như rác, góp mặt giúp vui.

    Chẳng lẽ trong những vở kịch loại này, bản tiên quân có mệnh phải sắm những vai như thế?!

    Cái lão già Ngọc Đế thất đức này!!!

    Bản tiên quân ôm oán hận, chìm vào giấc ngủ sâu, lại mơ thấy Nam Minh Đế quân dẫn theo một cỗ kiệu hồng nhỏ, người mặc áo giáp, vung đao đứng trước cửa Đông Quận Vương phủ, bắt ta trả lại Thiên Xu.

    Ta một mặt gào thét trong lòng, “Đế quân, ngươi mau mau khiêng Thiên Xu lên kiệu rồi đi đi, đi càng xa càng tốt, bản tiên quân thật sự không muốn hầu hạ hắn nữa đâu!” một mặt lại kêu gào rõ hung hăng: “Bản tiên quân nhất định phải có Thiên Xu, hắn là bảo bối của ta. Ai cũng đừng mơ cướp được hắn đi!”.

    Trong lúc mơ màng, ta bị ai đó lôi dậy, lắc lấy lắc để.

    Ta hơi hé mắt ra, nhìn Hoành Văn đang túm chặt lấy vạt áo trước của mình: “Ngươi làm gì thế?”.

    Hoành Văn nói, kéo lê từng chữ: “Bảo bối Thiên Xu ‘của ngươi’ đang ở trên cái giường trong phòng của ngươi mà ho ra máu kia kìa, đừng nằm đó mà mê sảng nữa, nhanh chân chạy về xem thế nào đi”.

    Bản tiên quân vội vàng lao về phòng của Lý Tư Minh bằng tốc độ nhanh như ánh chớp, lúc này trời đã tờ mờ sáng, trong cảnh nửa tối nửa sáng, chỉ thấy mặt Thiên Xu trắng bệch như tờ giấy, hai mắt mệt mỏi nhắm nghiền, khóe miệng còn vương một vệt máu. Miếng khăn trắng rơi trên sàn nhà đã thấm đầy máu đỏ, ống tay áo của y, cả góc chăn cũng lấm tấm những vết đỏ tươi.

    Đang yên đang lành, y ho ra máu làm gì không biết!

    Hoành Văn sát ngay bên người ta, nói rằng: “Bảo bối trong lòng đã ho ra máu đến ngất cả đi rồi, ngươi còn sững ra đây làm gì? Nhanh nhanh ôm người ta vào ngực, quát gọi đại phu đi thôi”. Vươn tay đẩy ta vào trong thể xác của Lý Tư Minh. Ta nhỏm người dậy khỏi giường, nâng nửa người Thiên Xu lên, lau đi vết máu vương bên khóe miệng y. Hoành Văn dùng thuật ẩn thân nhưng lại để cho đôi mắt phàm của Lý Tư Minh ta trông thấy. Hoành Văn ngồi trên ghế cười tủm tỉm nhìn Thiên Xu lả người trong vòng tay ta. Ta làm mặt lạnh, lớn giọng hô: “Người đâu!!!”.

    Nha hoàn lên tiếng trả lời, đẩy cửa, dập đầu, ta run giọng nói: “Mau gọi đại phu, Ngôn công tử ho ra máu rồi.”

    Đại phu trong Đông Quận Vương phủ cứ thao thao bất tuyệt với ta rằng, mạch tượng của Ngôn công tử là mạch Phù sáp[8] , là chứng bệnh cũ đã nhiều năm, cơ thể nhiễm hàn khí, đờm ứ đọng, dồn tắc.

    [8] Mạch phù: Mạch của phổi, khi đến thì nhẹ, hư mà phù (luôn nổi sát dưới da), khi đến thì gấp, lúc đi lại tan tác. Mạch sáp thì mảnh mà chậm, qua lại khó khăn mạch đi sít lại như dao cạo nhẹ lên cành tre. Mạch phù lại sáp thì là bệnh về phổi.

    Ta vung tay áo cắt đứt lời ông ta: “Bản công tử không rành y lý, ngươi dài dòng với ta như thế cũng có tác dụng gì? Nếu đã biết bệnh rồi thì mau chữa đi”.

    Ông ta vâng vâng dạ dạ đáp lời, sau đó thong thả viết một đơn thuốc, nói chỉ có thể kê một đơn thuốc ổn định chứng ho của Mộ Nhược Ngôn trước, cũng ngầm ám chỉ rằng bệnh này không thể trị tận gốc được.

    Không thể trị tận gốc, vậy chẳng phải là bệnh lao sao?

    Ta cúi đầu nhìn Mộ Nhược Ngôn, chẳng trách sắc mặt vàng vọt lại tái nhợt xanh xao, ho khan suốt cả ngày, thì ra trong người có bệnh lao.

    Hoành Văn còn chưa đi, đứng cạnh bàn, thản nhiên nói: “Nhìn mặt ngươi buồn rầu thế kia, đúng là xót thương vô vàn, đau lòng vô hạn”.

    Trái tim của bản tiên quân đang bị Hoành Văn ngươi chế giễu đến độ đập như điên rồi đây này, còn hơi sức đâu mà đau với xót. Ta thấy xung quanh không người, thấp giọng nói rằng: “Trời đã sáng bảnh rồi, Triệu công tử không sợ có người tới mời mạc trọng sao?”.

    Hoành Văn nói: “Cũng phải, ta về phòng trước đây. Ngươi ở lại trông nom Thiên Xu nhé”. Ánh sáng bạc lóe lên, không thấy hình bóng Hoành Văn đâu nữa. Xem chừng hắn đã đi rồi.

    Bản tiên quân ngồi xuống bên mép giường, Thiên Xu còn chưa tỉnh, ta nhét tay y vào lại trong chăn, giúp y đắp chăn kín hơn chút nữa. Có vẻ Ngọc Đế lần này “xuống tay” rất tàn nhẫn với Thiên Xu: Cả nhà chết sạch, bị kẻ khác độc chiếm làm của riêng, còn găm mầm bệnh lao lên người, khiến cho y sống dở chết dở, chịu đủ giày vò. Còn gã Nam Minh kia lại sung sướng làm tướng quân ở Nam Quận, chưa nghe thấy hắn gặp việc gì xui xẻo cả.

    Một bát thuốc chưa mớm hết, Thiên Xu đã tỉnh, bản tiên quân lấy ống tay áo lau nước thuốc vương bên khóe miệng cho y, “Lần này ngươi rơi xuống nước, lại khiến cho mầm bệnh lao trong người trỗi dậy, tội gì phải thế.”

    Mộ Nhược Ngôn nở nụ cười khổ sở: “Có lẽ thân thể này của ta thật sự có cái mệnh sống dở chết dở, chỉ có điều… lại gây phiền phức lớn cho ngươi rồi”.

    Ta giả bộ cười, đáp: “Ngươi là người ta đặt trong lòng, vì ngươi làm gì ta cũng thấy cam tâm tình nguyện cả.” Ngươi là người Ngọc Đế đặt lên đầu bản tiên quân ta, ta có làm gì cũng là đương nhiên phải thế.

    Oán thầm trong bụng, bản tiên quân vẫn không nhịn được mà hỏi, “Đại phu nói bệnh trong người ngươi là chứng bệnh lâu năm. Mộ phủ phạm tội cũng chưa được bao lâu, trước đây ngươi là thiếu gia tướng phủ, sao đang yên đang lành lại mắc chứng ho lao?”.

    Mộ Nhược Ngôn lẳng lặng không hé một lời.

    Ta nói: “Chẳng lẽ lại có liên quan tới Đan Thành Lăng?”. Thấy y vẫn im lặng, ta lại nói tiếp: “Tình cảm ngươi dành cho hắn, cũng thật vững chãi hơn vàng. Lúc nào đó kể tình sử của các người, từng cái từng cái một cho ta nghe thử nhé”. Vươn tay nắm lấy một mớ tóc của Thiên Xu, “Cũng để bản công tử mở rộng tầm mắt, xem làm thế nào mà hắn chiếm được trái tim ngươi”.

    Mộ Nhược Ngôn vẫn không hé một lời. Bản tiên quân nắm tóc của y trong lòng bàn tay, mân mê một lúc lâu, mới buông tay thả xuống, sau đó bước ra khỏi phòng.

    Dưới hàng hiên trước viện, một thứ gì đó tròn tròn vọt tới bên chân ta như tên bắn, móng vuốt con con túm chặt lấy góc áo bào của ta, lắc lấy lắc để, “Tiểu thúc thúc, tiểu thúc thúc…”. Vùng xung quanh lông mày của bản tiên quân giật liên hồi. Ta vươn tay xoa đầu nó, “Sao không ở trong phòng nghe thầy giảng bài, lại ra ngoài chạy lung tung thế này”.

    Liếc mắt nhìn thấy Tấn Thù đang trốn sau cây cột, lộ ra nửa cái mặt bé xíu, bị ta đảo mắt qua một cái, liền rụt ngay người lại. Bản tiên quân vẫn tự xưng là con người lỗi lạc quang minh, thật chẳng hiểu làm sao mà thằng bé này mỗi lần nhìn thấy ta là cứ như thấy yêu tinh hổ xuất hiện thật ấy. Tấn Ninh chun mũi, lay chân ta: “Viết chữ tay đau lắm, tiểu thúc thúc, cháu muốn đi thăm thúc thúc trong viện, tay cháu đau lắm, muốn nhờ thúc thúc trong viện thổi mấy cái cơ”.

    Cơ mặt ta co giật, trong đầu thằng nhóc con này rặt những thứ đâu đâu. Giương mắt nhìn lên, lại thấy xa xa, Hoành Văn đang bước lại từ phía thư phòng.

    Chân ta còn đang vướng Tấn Ninh, chỉ đành đứng yên tại chỗ, cười khô khốc chào hỏi hắn, “Thật là khéo quá, là Triệu tiên sinh”.

    Hoành Văn bước lại gần, nhã nhặn chắp tay, “Tam công tử”. Đưa mắt nhìn bên chân ta, cười nói: “Vị này là tiểu thiếu gia đó sao?”.

    Ta cười khan một tiếng, lại đột nhiên thấy chân nhẹ bẫng. Chỉ thấy Tấn Ninh hệt như cái phi tiêu bằng thịt, lao thẳng tới trước mặt Hoành Văn, ôm chặt lấy hai chân hắn, “Ca ca…”. Thân thể Hoành Văn gầy mảnh, nó lại lao vào như thế, bị đẩy lùi về đằng sau một bước. Tấn Ninh nắm chặt lấy vạt áo dưới của Hoành Văn, lắc qua lắc lại ngửa gương mặt bé xíu lên, hỏi bằng chất giọng búng ra sữa, dính nhằng nhằng: “Ca ca, ca ca tên là gì?”.

    Hoành Văn Thanh quân là thần tiên thuần chủng không sinh từ phàm thế, chưa từng nhìn thấy đứa trẻ như thế này. Bởi vậy hắn ngẩn người trong chốc lát, sau đó mới bật cười mà nói: “Cháu hỏi ta à? Ta họ Triệu, tên một chữ Hoành”.

    Bản tiên quân bước nhanh về phía trước, định xách cổ Tấn Ninh lôi ra, thế nhưng thằng nhãi con ấy túm chặt lấy Hoành Văn quyết không buông, nói bằng bộ mặt tỉnh bơ: “Triệu ca ca đẹp quá, Tấn Ninh thích lắm!!! Triệu ca ca, ôm một cái đi!”. Ta sầm mặt lại, kéo nó tránh xa khỏi Hoành Văn, “Thôi ngay!!! Cái gì mà Triệu ca ca. Vị này là Triệu tiên sinh mà tổ phụ cháu mời về. Phải gọi là tiên sinh!”. Tấn Thù mút ngón tay, đang mò từ sau cây cột lại gần chỗ Hoành Văn, nhìn thấy ta tới liền rụt lại đằng sau.

    Hoành Văn lại cười thoải mái vô cùng, Tấn Ninh vặn vẹo liên tục trong tay ta, định nhào tới lần nữa, nhưng đã nghe có người đứng dưới hiên quát to: “Ninh nhi, con đang làm cái gì thế”.

    Tấn Ninh lập tức ngừng giãy giụa, ngoan ngoãn đứng im. Cha nó – Lý Tư Hiền sải bước lại gần, túm lấy tai của Tấn Ninh, lôi nó từ tay bản tiên quân về phía mình, Tấn Thù gục cái mái đầu bé xíu xuống, lí nhí kêu một tiếng “Đại bá phụ” bé như tiếng ruồi bay. Lý Tư Hiền lạnh giọng nói: “Trước mặt tiên sinh lại không ra thể thống gì như thế, bình thường ta dạy con thế nào! Về phòng, chép một trăm lần lời khuyên răn xử thế làm người cho ta!”.

    Tấn Ninh mím môi, bắt đầu thút tha thút thít khóc. Hai nhũ mẫu bước lên phía trước, dẫn Tấn Ninh và Tấn Thù đi. Tấn Ninh vừa đi vừa khóc, vừa lấy ống tay áo lau nưóc mũi vừa không quên quay đầu lại nhìn Hoành Văn. Lý Tư Hiền chắp tay mà nói: “Khuyển tử vô phép, mạo phạm Triệu tiên sinh, xin Triệu tiên sinh đừng trách”.

    “Triệu công tử” đang cười đến híp cả mắt vào kia kìa, trách thế nào mà trách. “Đại công tử khách khí quá rồi, tiểu thiếu gia trời sinh chất phác ngây thơ. Nhưng trong ngôn từ, kiến thức lại ẩn hàm linh khí tự nhiên mà có, ngày sau nhất định sẽ là long phượng.”

    Lý Tư Hiền luôn mồm nói tiên sinh khen nhầm rồi, sau đó xoay người sang nói với bản tiên quân, “Cha đang ở sảnh chính, dặn tam đệ nhanh chóng qua bên đó”.

    Sắc mặt Lý Tư Hiền rất nặng nề, dường như Đông Quận Vương tìm bản tiên quân vì một chuyện gì đó rất khó lường. Bản tiên quân ôm theo nghi hoặc chạy tới sảnh chính, đụng phải Lý Tư Nguyên bên cây ngô đồng ngoài sảnh, anh ta che nửa miệng nói nhỏ với ta: “Cha đã biết chuyện của đệ với cái người trong viện rồi. Giờ đang tức giận lắm đấy”.

    Đông Quận Vương mặt mày sa sầm đứng ở vị trí cao nhất trong đại sảnh. Bản tiên quân vừa bước chân vào cửa, ông ta liền nói: “Đóng cửa lại”.

    “Sầm” một tiếng, cửa sảnh bị đóng chặt lại. Đông Quận Vương chỉ vào đống bài vị dày đặc đặt trên bàn thờ phía sau lưng, “Quỳ xuống”.

    Bản tiên quân không thể không tạm thời quỳ gối một lần. Này lão quỷ, hôm nay các người nhận một quỳ này của Tống Dao Nguyên quân ta, chỉ sợ ở âm phủ một nghìn năm cũng không đầu thai nổi, giảm phúc ba đời.

    Đám râu của Đông Quận Vương dựng đứng cả lên “Nghiệt tử, ngươi ngây ngây dại dại một hai chục năm, vi phụ chưa từng ép uổng gì ngươi, thế mà giờ này lại đi yêu thích long dương, nuôi dưỡng nam luyến!!! Hôm nay trước mặt liệt tổ liệt tông, xem bản vương sẽ đánh gãy cái tà tâm này của ngươi thế nào”.

    Sau đó ông ta hét lớn một tiếng, “Đem gia pháp ra đây!”. Chỉ trong chốc lát, đã có một gã tiểu tư khiêng ra một cây chổi sắt ghép từ nhiều sợi sắt nhỏ mà thành, cán chổi là một cây gậy sắt, to cỡ miệng một chén trà con. Đông Quận Vương gia quả không hổ xuất nhân từ võ tướng, gia pháp cũng… hung mãnh đến nhường này.

    Tiểu tư phụng mệnh khiêng một chiếc ghế dài tới, ép bản tiên quân xuống ghế, khiến ta không cựa quậy được gì, Đông Quận Vương xắn ống tay áo lên, giáng một chổi xuống sống lưng ta. Một nhát nặng nề, sợi sắt đâm vào da thịt, bản tiên quân đau đớn kêu lên một tiếng. Đột nhiên thấy kim quang lóe lên trước mắt, ta thấy mình bắn lên giữa không trung. Hoành Văn kéo lấy bản tiên quân, thấp giọng nói: “Ta đến chậm một bước rồi”. Bàn tay hắn xoa khẽ lên tấm lưng ta, “Ngươi có bị thương không, đau lắm không?”.

    Vẻ mặt hắn cực kỳ áy náy, trong ánh mắt cũng lộ ra nét lo lắng quan tâm, ta cười nói: “Một chổi đó sao có thể tổn hại đến chân thân của ta được. Chỉ vì bám vào thân xác phàm trần của Lý Tư Minh nên mới thấy đau đớn thôi. May nhờ có ngươi nên ta chỉ bị đau chút ít. Chứ còn- trông chờ vào Mệnh Cách Tinh quân ấy à, không biết bản tiên quân bị đánh ra thế nào lão mới chịu tới nữa”. Mặt mày Hoành Văn giãn ra, kề sát bên ta, cùng lơ lửng trên không, nhìn Đông Quận Vương xoay chổi sắt, giáng những nhát thật mạnh xuống lưng của Lý Tư Minh. Một nhát rồi lại một nhát. Tấm lưng Lý Tư Minh loang lổ vết máu, tiểu tư nghẹn ngào nói: “Vương gia, hình như Tam công tử đã ngất đi rồi”.

    Đông Quận Vương nghe thế mới dừng tay, “Súc sinh! Mới thế mà đã ngất rồi!”. Tiểu tư lật người Lý Tư Minh lại, đưa tay dò hơi thở dưới mũi ta, sau đó khóc rống lên: “Vương gia, Tam công tử… không… không thấy công tử thở nữa…”.

    Gương mặt già nua của Đông Quận Vương cũng có chút hoảng hốt. Tiểu tư lao đi gọi đại phu, bản tiên quân và Hoành Văn lơ lửng giữa không trung, xem một đám người vây quanh một cái xác sống, hết bắt mạch châm cứu, đút thuốc, ấn huyệt nhân trung lại đến dùng băng lạnh, thật là thi thú.

    Đang xem hăng say, ta đột nhiên nhớ ra một chuyện, ngay cả con trai mà Đông Quận Vương còn có thể thẳng tay đánh đập hăng tiết thế này, không biết có xuống tay với Thiên Xu không nữa. Ta vội vàng lao tới Hàm viên: Phòng ngủ không có, trong viện không có, bản tiên quân niệm thần chú tìm người dò xét một lượt, thì ra Thiên Xu đã bị lôi tới phòng củi ở vườn sau. Lúc bản tiên quân phóng như bay tới, đã thấy một gã đầy tớ cường tráng đang bưng một cái bát đưa đến bên miệng Mộ Nhược Ngôn.

    Thứ nước đỏ đỏ đen đen trong bát còn nổi lềnh bềnh bọt trắng.

    Mộ Nhược Ngôn nhìn cái bát ấy, bộ dạng rất hân hoan, từ đuôi mày cho tới ánh mắt đều chất chứa vui mừng.

    Y ngửa cổ lên chờ thuốc tới. Sao lúc bản tiên quân đút thuốc cho ngươi không thấy ngươi “phối hợp” được như thế. Ta nổi giận, giáng một tia chớp nhỏ xuống, chiếc bát trong tay gã đầy tớ “rắc” một cái, vỡ tan nát, nước thuốc xèo xèo trên mặt đất, khói trắng bốc lên. Gã đầy tớ giương mắt nhìn lên, vẻ mặt cực kỳ sợ hãi, “Ban ngày… Giữa ban ngày ban mặt, trời nắng đẹp… Sao trong phòng lại có sấm sét… Quỷ! Có quỷ!!!”. Sau đó tên này nện đầu bôm bốp xuống đất, “Xin đại tiên tha mạng! Xin đại tiên tha mạng!!!”, miệng thì kêu la, người thì vừa lăn vừa bò ra cửa, “Có quỷ!”

    Quỷ, quỷ nào mà lại dùng được sét trời?!

    Mộ Nhược Ngôn cúi đầu nhìn mặt đất, lại ngửa cổ vọng lên cao, cười tự giễu: “Xem ra ông trời thật sự đang đùa giỡn ta rồi”.

    Thiên Xu, ngươi hiểu được thế là tốt. Kẻ đùa giỡn ngươi là Ngọc Đế, các vị tiên khác ở trên trời không liên quan gì đâu nhé.

    Hoành Văn không biết đã tới bên cạnh ta tự lúc nào, nói: “Thiên Xu có uống thuốc cũng không chết được, ngươi vốn không cần lộ dấu vết thần tiên ra làm gì”.

    Ta nói: “Uống rồi không chết được, nhưng bụng hắn sẽ đau. Có ông trời làm chứng, ta chán hầu hạ hắn lắm rồi. Mà nếu Thiên Xu uống thuốc độc rồi, không ai cứu mà vẫn sống nhăn, thì trong mắt những kẻ đó Mộ Nhược Ngôn sẽ biến thành yêu quái. Sau này lại thêm đủ thứ phiền phức cho xem”.

    Hoành Văn đưa mắt nhìn ta, không nói lời nào.

    Trở về đại sảnh, liền thấy một đám nô bộc đang hì hà hì hục khiêng Lý Tư Minh trở về Hàm viện. Đợi đến khi thân xác Lý Tư Minh dính xuống cái giường trong phòng ngủ xong, Đông Quận Vương cùng hai đứa con trai đứng trước giường lo âu than thở, bản tiên quân liền nhập vào trong xác Lý Tư Minh, hơi hé mắt ra, dùng thứ giọng yếu ớt, đứt quãng hô lên: “Nhược Ngôn… Nhược Ngôn… Ta có chết cũng không thể thiếu ngươi được.. “

    Ta đưa ánh mắt thê lương nhìn về phía Hoàng Văn đang lơ lửng trong không trung một cái, chán nản mà nhắm nghiền hai mắt, sau đó bị lôi trở lại không trung. Lý Tư Minh vì thế lại nhũn người, nằm sấp trên giường không động đậy nữa.

    Lý Tư Nguyên nói, ánh mắt rưng rưng: “Cha xem, hết cách rồi, để tam đệ nuôi dưỡng nam luyến vẫn tốt hơn để đệ ấy lại sống như cái xác không hồn giống trước kia”. Lý Tư Hiền cũng nói: “Cha, xem ra chuyện này là ý trời đã định”.

    Đông Quận Vương ngửa mặt lên trời mà than thở: “Oan nghiệt, đúng là oan nghiệt!!! Bản vương đã gây ra nghiệp chướng gì, lại sinh tên tiểu súc sinh ra, nuôi nấng nó thành bộ dạng thế này!”. Đôi mắt già nua của Đông Quận Vương ngân ngấn lệ, ông ta chán chường nhắm mắt lại, “Thôi được rồi, rùa hay ba ba thì cũng đều là mệnh, mặc nó đi”. Sau đó Đông Quận Vương dặn dò kẻ dưới, “Dặn đại phu tới phòng củi, xem người trong đó còn cứu được không?”.

    Một lát sau, có ba bốn người nhẹ nhàng đẩy Thiên Xu vào phòng, Đông Quận Vương liếc mắt nhìn, sau đó hừ mạnh một tiếng, phất áo đi ra. Mộ Nhược Ngôn bị đẩy tới bên giường, nhìn thấy tình trạng thê thảm của Lý Tư Minh đang nằm đó, sắc mặt có chút biến đổi. So với Thiên Xu của trước đây thì cũng có tình người hơn chút xíu.

    Lý Tư Nguyên đứng bên mép giường, nói: “tam đệ mau tỉnh lại, người đệ mong nhớ đã tới rồi”.

    Hoành Văn ngoài cười nhưng trong không cười, vỗ vai ta, “Đến lúc ngươi xuống đó thể hiện rồi đấy”. Ta bị hắn giáng cho một chưởng thật mạnh, ngã vào thân xác của Lý Tư Minh.

    Nguồn ebooks: Loading...

    Bản tiên quân nhúc nhích, hơi hé mắt ra, thều thào mấy tiếng: “Nhược Ngôn… Nhược Ngôn…”. Sau đó ta run rẩy chộp hờ hai cái, không ngờ lại chộp trúng một thứ. Thứ ấy lạnh ngắt, có chút gồ ghề, là tay của Mộ Nhược Ngôn.

    Ta quơ đại hai phát ấy cũng chỉ để làm bộ thôi, ai ngờ lại quơ được thật, còn đang đắn đo xem nên làm gì tiếp theo thì kim quang đã lóe lên trước mắt. Ta thấy mình đang lơ lửng giữa không trung.

    Bản tiên quân trơ mắt nhìn đầu Lý Tư Minh lại ngoẹo sang một bên, người nằm sấp xuống giường, tay trái vẫn còn nắm chặt tay của Mộ Nhược Ngôn.

    Hoành Văn khoan thai nói: “Rất tốt, rất tốt”.

    Lý Tư Nguyên đứng trước giường ho khan một tiếng, nói: “Tam đệ, đệ cố mà nghỉ ngơi cho tốt, ngày mai nhị ca và đại ca lại tới thăm đệ”. Sau đó anh ta quay đầu nháy mắt với Lý Tư Hiền, Lý Tư Hiền vội hùa theo: “Đúng đúng, vết thương của tam đệ không nhẹ, ban nãy ở đại sảnh đã bôi thuốc rồi, giờ cần tĩnh dưỡng. Cha cũng về phòng nghỉ ngơi trước đi”. Lại quay đầu nói với tiểu tư, nha hoàn: “Những kẻ không liên quan lui hết cả ra, những người còn lại thì ra chờ ngoài cửa, bao giờ thuốc bưng tới thì hầu hạ tam thiếu gia uống”.

    Đông Quận Vương liếc mắt nhìn người trên giường, thở dài một tiếng rõ to, sau đó mới phất áo đi ra cửa, tất cả những người còn lại cũng đều tản ra. Chỉ có Lý Tư Nguyên là dùng dằng đến cuối cùng, rẽ chân bước lại bên giường, chắp tay với Mộ Nhược Ngôn: “Gia phụ trời sinh tính tình cương trực, thẳng thắn, tam đệ lại khiến người phải hao tâm tổn trí rất nhiều, hôm nay khí nóng bốc lên đầu, thật xin lỗi công tử, mong công tử lượng thứ cho”, nói xong mới rời phòng.

    Cửa phòng đóng lại, trong phòng chỉ còn lại có mình Thiên Xu và Lý Tư Minh. Ta cười làm lành với Hoành Văn, nói: “Đợi ta xuống đó nhập xác Lý Tư Minh, buông tay Thiên Xu ra rồi ngươi lại kéo ta lên nhé”.

    Hoành Văn hơi nhướng mày lên, nói khẽ: “Ngươi gấp gáp cái gì. Khó khăn lắm mới nắm được tay người ta, sao lại không để thêm chút nữa, xung quanh không có ai, để xem Thiên Xu sẽ đối xử với Lý tam công tử ngươi thế nào?”.

    Bản tiên quân chỉ đành “này này” hai tiếng, nhìn Mộ Nhược Ngôn đứng trước giường, đôi mày hơi nhíu lại, nhìn Lý Tư Minh nằm sấp không nhúc nhích, cúi người nhẹ nhàng tách mở ngón tay của Lý Tư Minh, rút tay mình ra. Sau đó cầm lấy tấm chăn ở cạnh giường, nhẹ nhàng đắp lên thân thể Lý Tư Minh.

    Hoành Văn nhìn ta, cười tủm tỉm: “Nằm trên giường được người ta đắp chăn cho, chuyện này có triển vọng lắm đây”. Bản tiên quân bị hắn nhìn đến ngượng nghịu cả người, vội ho khan một tiếng, cười ha hả, “Trên thiên đình Thiên Xu Tinh quân luôn có tấm lòng thương xót kẻ yếu, làm người trần rồi điểm này cũng không thay đổi”.

    Một lát sau, tiểu nha hoàn gõ cửa, bưng thuốc dưỡng tâm an thần vào cho tam thiếu gia, trao vào tay Mộ Nhược Ngôn một cách rất đương nhiên, nói: “Cảm phiền công tử giúp thiếu gia uống thuốc, nô tỳ xin cáo lui trước”, sau đó nàng cúi người lui ra.

    Mộ Nhược Ngôn cầm bát thuốc đứng đó, bản tiên quân không nhịn được mà ló đầu nhìn, ban nãy được Thiên Xu tự tay đắp chăn cho, kỳ thật trong lòng bản tiên quân cũng cảm thấy hơi vui sướng. Lúc này Lý Tư Minh đang nằm liệt trên giường như kẻ chết rồi, không biết Thiên Xu sẽ dùng cách gì cho tên ấy uống thuốc?

    Hoành Văn đứng sau lưng bản tiên quân, âm trầm lạnh giọng: “Cái cổ của ngươi duỗi dài như cái cầu vòm rồi đấy, đang chờ Thiên Xu dùng miệng đút thuốc cho chứ gì?”.

    Ớ? Bản tiên quân nhớ Hoành Văn Thanh quân chưa từng luyện thuật nào đọc được suy nghĩ người khác cơ mà.

    Hoành Văn kéo dài giọng: “Nằm mơ đi”. Sau đó hắn đẩy bản tiên quân một cái, bản tiên quân ngã nhào vào thân xác của Lý Tư Minh, “Ngoan ngoãn xuống đấy uống thuốc đi”.

    Ta đành phải mở mắt ra, làm ra vẻ mới vừa tỉnh lại. Vừa nhập xác Lý Tư Minh xong, liền lập tức cảm nhận được cơn đau nhói ở chỗ bị đánh ban nãy, thều thào kêu một tiếng Nhược Ngôn. Chỉ nghe thấy Mộ Nhược Ngôn đáp lại bằng chất giọng trong trẻo mà lạnh lùng: “Thuốc tới rồi, ngươi uống thuốc trước đi”.

    Ây da, bản tiên quân xuống đây chính là để uống thuốc mà. Có điều trước lúc uống, vẫn phải diễn trò một chút đã. Ta giãy giụa, nhỏm nửa người dậy, âm thanh đứt quãng: “Nhược Ngôn… Nhược Ngôn… Ngươi vẫn ở đây… Cha của ta không… ông ấy không làm khó ngươi chứ…?”.

    Mộ Nhược Ngôn không nói một lời, bưng bát thuốc lại gần, ta gượng nửa người dậy, đỡ lấy bát thuốc, đổ vào miệng. Sau khi uống hết thuốc, y đưa tay đỡ lấy bát, đặt lại xuống bàn, đi ra mở cửa phòng, tiểu nha hoàn lập tức bước vào dọn bát. Ta dặn dò bằng giọng thều thào như sắp tắt thở đến nơi: “Mộ công tử vẫn còn đang bệnh, để công tử về đông sương nghỉ ngơi trước đi, đợi vết thương của ta lành rồi nói sau”. Tiểu nha hoàn “vâng” một tiếng đáp lời.

    Ta lại bị Hoành Văn kéo lên trên không. Mặc Lý Tư Minh nằm sấp trên giường, bản tiên quân tranh thủ được vài ngày nhàn hạ. Buổi tối nằm trong phòng của Hoành Văn ngủ, ban ngày thì ẩn thân dạo loanh quanh trong vương phủ, hoặc hóa thành bộ dạng khác để ra phố rong chơi. Mỗi ngày bản tiên quân nhập vào xác Lý Tư Minh vài lần, tỉnh táo trong chốc lát, tranh thủ uống thuốc, ăn cơm, giải quyết mấy nhu cầu cấp bách.

    Vài ngày này Hoành Văn lại rất bận, Đông Quận Vương rất kính nể vị mạc trọng – Triệu tiên sinh do mình mời về này. Ngày ngày mời hắn vào thư phòng, cùng hai con trai thương nghị đại sự, lấy thế cục thiên hạ để bày kế mưu lược. Bản tiên quân ẩn thân bên cạnh Hoành Văn nghe thử một lần, khá là nhàm chán. Thế nên đã làm một chuyện rất không có nghĩa khí, ấy là để mặc Hoành Văn ở đó, lên trên phố nghe tiểu khúc. Hoành Văn có phần để bụng chuyện này, tối ngày hôm đó không cho bản tiên quân ngủ trên giường hắn nữa.

    Bản tiên quân chỉ biết đứng ở đầu giường, cười làm lành với hắn: “Đêm khuya thanh vắng lạnh lẽo hơi sương, chẳng lẽ Hoành Văn Thanh quân lại nhẫn tâm để tiên hữu ngủ bờ ngủ bụi trên cành cây sao?”.

    Hoành Văn sầm mặt nói: “Đông Quận Vương phủ rất nhiều phòng trống, làm gì có chuyện không tìm nổi một gian để ngủ”.

    Ta lắc đầu: “Phòng trống rất nhiều, nhưng có giường có chăn thì lại ít”.

    Hoành Văn nói: “Vậy thì cứ về làm Lý Tư Minh, trong phòng ngủ có một cái giường lớn thế cơ mà, đông sương của Thiên Xu giường mềm chăn ấm, cũng là chỗ tốt để đi”.

    Mặt ta méo xệch: “Làm Lý Tư Minh thì lưng đau, ngủ cùng Thiên Xu thì đầu đau”. Sau đó đặt tay lên vai Hoành Văn, nở nụ cười ngả ngớn, “Mặc thiên hạ gối chăn nghìn vạn, tại hạ cũng chỉ khao khát cái giường này của Thanh quân mà thôi”.

    Hoành Văn giễu cợt: “Ngươi lai dám nói ra câu này, không sợ bị đưa lên Tru Tiên Đài nữa nhỉ”. Bản tiên quân thành công chui vào trong chăn.

    Lý Tư Minh không hổ là hóa thân của bản tiên quân, vết thương của tên này lành lại với tốc độ chóng mặt. Chỉ bốn năm ngày sau đã tan máu tụ, đóng vảy miệng vết thương.

    Lý Tư Minh khỏe lên cũng là lúc những ngày nhàn hạ của bản tiên quân đến hồi kết thúc. Ta trở lại làm Lý tam công tử, về an giấc trên chiếc giường lớn trong phòng ngủ, kéo Thiên Xu lại bên người.

    Những ngày chân thân của ta ra ngoài đông phiêu tây đãng, cũng bay đi nhìn Thiên Xu được vài lần. Y mỗi ngày ăn không được hai miếng cơm, đọc vài quyển không phải sách kinh thì cũng là sách sử, ngồi trong sân trông về phía cây hạnh bên hồ nưóc đằng xa mà nhớ nhung Đan Thành Lăng, tự đánh với mình một hai ván cờ vây. Cũng chẳng trách sao y lại sinh bệnh. Ngày ngày đều sống tẻ nhạt như thế, riêng bứt rứt thôi cũng đủ sinh bệnh rồi.

    Sau khi ta kéo Thiên Xu về lại phòng ngủ, mỗi tối y vẫn ho khan liên tục, nhưng lại không ho ra tiếng, chỉ che miệng thật kín rồi lặng lẽ mà ho. Tấm thân gầy gò run rẩy liên hồi, khiến lòng trắc ẩn của ta nổi lên. Bản tiên quân đỡ y dậy, vỗ lưng giúp y thở đều, mở cửa sai người pha một bình trà nóng, rót cho Thiên Xu uống, nói thật lòng: “Muốn ho thì cứ ho, đừng cố nhịn làm gì, ta ngủ không sợ giật mình đâu”. Mộ Nhược Ngôn nghe theo, uống trà, nằm xuống, ta thở dài một hơi, cũng nằm xuống giường.

    Đầu đang âm ỉ đau thì lại nghe thầy tiếng ai đang gọi, quẩn quanh như ruồi muỗi vo ve: “Tống Dao Nguyên quân, Tống Dao Nguyên quân…”.

    Lão già Mệnh Cách vài ngày không gặp, giờ lại tới.

    Lão tới lần này, nhất định lại có việc thất đức gì mới cần bản tiên quân ra mặt rồi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:58
  7. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 6
    Mời đọc
    Quả nhiên, trên nóc phòng, Mệnh Cách Tinh quân giả mù sa mưa mà hỏi xem vết thương của bản tiên quân đã khỏi chưa, ta mỉm cười đáp lại: “Bị gậy đánh là do Tinh quân an bài, vết thương khỏi hay chưa cũng nằm trong tay Tinh quân cả, cần gì phải hỏi câu này”.

    Mệnh Cách Tinh quân cười một tiếng khô khóc, sau đó mới đi vào vấn đề chính: “Giờ Hợi nửa đêm năm ngày sau, Đan Thành Lăng sẽ tới Đông Quận Vương phủ cướp Mộ Nhược Ngôn, thay Mộ Nhược Ngôn chắn một kiếm của Lý Tư Minh, sau đó ôm vết thương đào thoát một mình”.

    Hả? Lý Tư Minh ta không phải yêu Mộ Nhược Ngôn lắm sao. Sao nỡ cầm kiếm mà đâm y chứ? Muốn đâm cũng phải đâm gã họ Đan kia kìa.

    Lão già Mệnh Cách vuốt râu nói: “Nguyên quân à, tình của người phàm là thứ khó dùng lẽ thường mà suy xét nhất. Đủ loại tình cảm, chẳng cái nào giống cái nào, có loại thì vì tình ngay cả bản thân cũng không màng, cũng có loại cầu không được mà sinh hận, muốn hủy diệt nó”.

    Bản tiên quân hiểu rồi, nhát kiếm này đâm ra, là vì muốn dùng thứ tình ác độc của bản tiên quân để kéo ra thứ tình cảm động đất trời của Nam Minh Đế quân. Một kiếm chém xuống, tình của Thiên Xu và Nam Minh càng sâu đậm hơn, còn hận mà Thiên Xu dành cho ta cũng chồng chất mấy tầng.

    Ác độc thì ác độc, hận thì cứ hận đi thôi. Nói cho cùng, những việc bản tiên quân làm cũng có cái nào tử tế đâu, nên chưa từng hy vọng có thể gặp được kết cục tốt đẹp gì.

    Ngọc Đế cũng tốt thật, cho ta có cơ hội đâm Nam Minh Đế quân một kiếm. Khi còn ở trên thiên đình, lúc bản tiên quân nổi điên nói hận không thể đâm cho Nam Minh Đế quân một kiếm nhất định đã bị Ngọc Đế nghe được. Ngọc Đế anh minh!

    Ta nghe Mệnh Cách Tinh quân trình bày xong, đang vui vẻ định về phòng, đột nhiên nhớ ra một chuyện: “Đêm nào trên giường, Thiên Xu cũng ho đến độ ta không ngủ nổi, lão có thể giúp y chữa bệnh lao phổi được không?”.

    Sắc mặt Mệnh Cách Tinh quân lộ vẻ khó xử: “Ngọc Đế từng hạ lệnh, chúng tiên trên thiên đình không được dùng phép tiên để can dự vào thiên mệnh…”.

    Ta nói: “Nếu có một phương pháp phàm trần trị được bệnh này, vậy có thể trị giúp y không? Thật sự là giờ ta chỉ cần nghe tiếng ấy vang lên thôi là đã thấy đau đầu rồi”.

    Mệnh Cách vuốt vuốt chòm râu, ngẫm nghĩ trong chốc lát, bản tiên quân lại tiếp lời: “Ngọc Đế cũng đã từng nói, kiếp này phạt Thiên Xu và Nam Minh nhiều lần trải qua tình kiếp. Bệnh lao phổi không tính là tình kiếp, có chữa cũng không ảnh hưởng nhiều đến đại cục”.

    Mệnh Cách cuối cùng cũng thở hắt một hơi: “Thôi được rồi, chỉ có điều Nguyên quân ngàn vạn lần không được dùng tới phép tiên”.

    Ta lặng lẽ nói: “Lão xem tình hình hiện tại của ta đi, có muốn dùng phép tiên cũng bất lực”.

    Mệnh Cách bật cười ha hả: “Mấy ngày gần đây đúng là khiến Nguyên quân chịu uất ức rồi”.

    Lão già Mệnh Cách rất hiểu nhân tình thế thái, đồng ý với bản tiên quân việc kia, lại nhờ ta chuyển mấy lời hỏi thăm sức khỏe tới Hoành Văn Thanh quân. Xong rồi cưỡi gió về trời, ai dè mới bay lên, lão đã lại hạ trở xuống, bất thình lình hét lớn sau lưng bản tiên quân – lúc này đang định trở về phòng: “Tống Dao Nguyên quân, xin dừng bước!”.

    Lão thở hồng hộc, lấy một miếng bát quái bằng đồng thau từ trong ống tay áo ra, đặt vào tay bản tiên quân.

    “Vật này gọi là Ly Thần Phù, là bảo bối của Thái Thượng Lão quân, là thứ đặc biệt chuẩn bị cho Nguyên quân. Chuyển thế của Thiên Xu và Nguyên quân đều ở trong Đông Quận vương phủ, hiện giờ lại thêm cả Hoành Văn Thanh quân nữa, chỉ sợ sơn tinh dã quái sẽ làm bậy, vật này có thể giúp chân thân của Nguyên quân thoát xác phàm, phòng ngừa vạn nhất. Có điều mỗi tháng chỉ dùng được ba lần. Nguyên quân phải dùng cẩn thận”.

    Ta nhét miếng bát quái vào trong người, “Chỉ dùng được có ba lần thôi à, ít quá”. Mệnh Cách Tinh quân rất không bằng lòng với thái độ được voi đòi tiên của bản tiên quân. Lão lải nhải thêm vài câu xong mới chịu chỉ cho bản tiên quân cách sử dụng, sau đó cưỡi gió trở lại thiên đình.

    Ta nhập trở về xác của Lý Tư Minh, Mộ Nhược Ngôn giờ này đã ngủ. Trong đêm tối, ta nghe tiếng hô hấp của y vang lên, yếu ớt lại ngắn ngủi. Lớn lên không đau không ốm là việc khó, nhưng sống giữa gấm vóc lụa là, thân thể lại yếu ớt như bộ dạng hiện giờ của y cũng không phải chuyện dễ dàng. Hơn hai mươi năm qua rốt cuộc y đã sống như thế nào vậy.

    Ta nhắm mắt chưa được bao lâu, y lại tỉnh lại một lần vì ho. Bản tiên quân đỡ Nhược Ngôn dậy, vuốt lưng giúp y thở đều, xuống giường mò mẫm một hồi, thấy ấm trà trên bàn vẫn còn hơi ấm, liền rót một chén cho y uống. Nhược Ngôn ngủ cũng thấy an ổn hơn vài phần, ta kéo chăn của y lên cao một chút, nhét kỹ vào mép gối rồi mới nhắm mắt lại, mãi tới bình minh.

    Ngày thứ hai, Đông Quận Vương không có trong vương phủ. Thật vừa khéo, bản tiên quân liền tranh thủ buổi sáng, chạy đi tìm Hoành Văn. Không thấy hắn trong phòng, ta liền tìm chung quanh một lượt, từ xa trông thấy Hoành Văn đang ngồi ở trong mái đình bát giác tại vườn sau, bên người hình như còn có thứ gì đó đang nhúc nhích. Đến khi lại gần, mới biết hóa ra là Tấn Ninh đang ngồi chồm hỗm trên chiếc ghế đá bên cạnh Hoành Văn, dán chặt lấy Hoành Văn, hết vặn bên này lại vẹo bên kia.

    Ta còn đang thắc mắc sao mấy ngày qua không thấy nó chui vào trong Hàm viện, thì ra đang bận quấn lấy Hoành Văn. Tấn Thù thì ngoan ngoãn ngồi yên ở một bên, nhưng cũng to gan dùng một tay nắm ống tay áo của Hoành Văn. Bản tiên quân lại gần đình nghỉ chân, nghe thấy Tấn Ninh đang nói với Hoành Văn rằng: “… Triệu tiên sinh, sau này học văn, nếu có chỗ nào không hiểu thì cháu tới hỏi tiên sinh được không ạ?”. Trong tay Hoành Văn vẫn đang cầm một quyển sách, hẳn là đang đọc thì bị thằng ranh này chạy tới quấn lấy. Ta lại bước về phía trước mấy bước, Hoành Văn còn chưa đáp lời, Tấn Ninh đã cười hì hì nói: “Tiên sinh, cháu mới học được một môn công phu, tiên sinh có muồn xem thử không?”.

    Hoành Văn cười nói: “Cháu còn biết cả công phu nữa ư? Khó tin quá. Biểu diễn một chiêu cho ta xem thử nào?”.

    Vẻ mặt Tấn Thù lo lắng, giật tay áo của Hoành Văn liên hồi, móng vuốt bé của Tấn Ninh đã kịp bò lên trên vai hắn, “Tiên sinh, môn công phu này cháu học với tiểu thúc thúc đấy, gọi là độ khí. A…”. Trong khi gương mặt của nó vẫn đang nhích về phía trước, bản tiên quân cũng lao người lên, túm lấy tiểu tai họa, giật phắt lại khi mặt nó chỉ còn cách chóp mũi Hoành Văn một khoảng bằng nửa phiến lá hẹ nữa thôi. Ta ném nó xuống đất, lớn tiếng nói: “Tiểu thúc thúc có chuyện cần tìm Triệu tiên sinh. Hai đứa ra chỗ khác chơi đi”.

    Đôi môi mềm mại của Hoành Văn, mấy nghìn năm qua bản tiên quân còn chưa dám đụng lần nào, thế mà suýt chút nữa lại để thằng nhãi con này được lợi rồi.

    Tấn Ninh mếu máo chạy đi, Tấn Thù buông ống tay áo của Hoành Văn ra, lưu luyến không rời, cúi đầu bước từng bước nhỏ, theo sau Tấn Ninh ra khỏi đình. Ta thở phào một hơi: “May quá”.

    Hoành Văn đặt quyển sách xuống, đưa mắt nhìn ta: “Trẻ nhỏ ham chơi, ngươi so đo với chúng làm gì”.

    Ta nhếch miệng cười trừ. Hôm nay tâm tình Hoành Văn có vẻ rất tốt, mỉm cười hỏi bản tiên quân tới có chuyện gì. Ta nói: “Cũng không có chuyện gì to tát”, sau đó liền kể lại cho hắn nghe một lượt những lời Mệnh Cách Tinh quân nói hôm qua. Hoành Văn bảo: “Lúc viết số, Mệnh Cách Tinh quân vẫn thích bớt việc, từ ngữ không diễn đạt đủ ý, thậm chí còn sinh ra nghĩa khác. Chỉ mong lần này ông ấy có thể viết rõ ràng một chút, đừng để sinh thêm rắc rối, cành mẹ đẻ cành con”.

    Lời này đúng là đã chọc trúng vào vết thương cũ của bản tiên quân, ta đột nhiên nói: “Đúng đấy, ai mà biết được lão viết trong sổ thế nào. Đừng có để đến phút cuối lại thành Nam Minh đâm ta một nhát, vậy thì ta tha hồ lãnh đủ”.

    Hoành Văn cười mà như không cười: “Đến lúc đó ngươi máu tươi đầy đất, trái tim Thiên Xu lại vì thế mà rung động cũng không chừng. Giống như lời ngươi nói mấy ngày trước ấy, Thiên Xu vốn có tấm lòng thương xót kẻ yếu mà”. Bản tiên quân nghe thế mà rùng cả mình. Hoành Văn đặt tay lên vai ta nói: “Dọa ngươi chút thôi. Yên tâm đi, lúc đó có ta, ngươi làm sao bị thương được”.

    Ta cười khổ: “Ta cũng không sợ hắn đâm mình bị thương, chỉ sợ Mệnh Cách Tinh quân nói không được chính xác. Nói là bốn năm ngày sau đấy, nhưng có khi tối nay đã thấy Nam Minh tới rồi”.

    Kết quả buổi tối hôm đó, bản tiên quân ngủ ở trên giường, mắt trợn tròn như quả chuông đồng, chỉ sợ có chuyện gì bất trắc. Ta trợn mắt tới tận canh ba, trừ tiếng ho khan của Thiên Xu ra thì chẳng thấy cái gì khác cả, không chịu nổi liền ngủ thiếp đi.

    Suốt hai ngày liền, bản tiên quân ban ngày thì chạy khắp nơi dò hỏi danh y trị bệnh cho Thiên Xu, buổi tối lại nơm nớp lo sợ, chỉ sợ Đan Thành Lăng đến chém giết không đúng thời hạn, đúng là hao tổn nguyên khí. Nửa đêm không dám ngủ, lại tiện cho ta giúp Mộ Nhược Ngôn vuốt lưng, bưng nước. Dạo gần đây, ngày nào ta cũng mang thuốc bổ đến chăm sóc Thiên Xu, buổi tối y cũng ho ít hơn một chút. Tay Mộ Nhược Ngôn cũng ấm áp thêm được vài phần. Có một đêm, bản tiên quân bưng nước tới cho y uống, sau đó lên giường, Nhược Ngôn dựa đầu lên gối, khẽ nói một câu “Đa tạ”, ta nghe mà mắt cay cay đến lạ, lệ chỉ chực tuôn trào.

    Buổi tối ngày thứ ba sau khi Mệnh Cách Tinh quân tới báo tin, vào lúc canh ba, mây đen che lấp mặt trăng, gió lạnh nổi lên. Bản tiên quân nghe thấy ngoài song cửa vang lên mấy tiếng lạch cà lạch cạch, có chút không bình thường.

    Chẳng lẽ bản tiên quân nói không oan cho lão già Mệnh Cách, Đan Thành Lăng không chờ tới đúng ngày đã xông vào vương phủ?

    Ta lấy miếng bát quái bằng đồng trước ngực ra, kẹp giữa hai tay, lẩm nhẩm đọc thần chú. Trong chớp mắt, chân thân của bản tiên quân đã thoát ra được không trung, lẳng lặng lẻn ra ngoài.

    Ngoài cửa gió tanh kéo đến liên hồi, trong viện, một hình người mờ mờ ảo ảo phiêu đãng giữa bụi hoa, thỉnh thoảng vang lên vài tiếng cười quyến rũ, tựa như tiếng gió thê lương, bi ai thảm thiết, là giọng của phái nữ.

    Thì ra bản tiên quân đã đoán sai, lão già Mệnh Cách đúng là miệng quạ đen.

    Đan Thành Lăng không tới, mà là yêu quái tới.

    Ngửi thứ mùi tanh tưởi này, chắc chắn là hồ yêu rồi.

    Hướng mà con hồ nữ kia đi chính là phòng ngủ của Hoành Văn, thứ nhãi nhép chưa tu hành nổi ngàn năm mà đã dám lao vào tay của thượng tiên. Bản tiên quân lười bỏ sức đuổi theo ả, dịch chuyển tức thời thẳng tới trước cửa phòng Hoành Văn, đợi ả tự tới. Hồ nữ cũng lanh lợi, liếc mắt đã trông thấy bản tiên quân, liền nở một nụ cười duyên dáng: “Ai da, trong viện này cũng thật lắm tiên gia”.

    Theo phép tắc của thiên đình, gặp phải yêu quái cấp thấp thế này, không thể giết ngay, mà phải giảng giải đạo lý trước đã.

    Vì thế bản tiên quân liền trầm giọng nói: “Yêu nghiệt, bản tiên quân niệm tình ngươi cũng có lòng hướng đạo, không nhẫn tâm đánh ngươi trở lại nguyên hình, nếu ngươi có thể bỏ con đường tà đạo, tu theo chính pháp, sau khi trải qua số kiếp có lẽ sẽ tu thành tiên quả, được lên thiên đình”.

    Hồ nữ nói: “Ai da, thiếp cứ tưởng chỉ có đạo sĩ già lắm lời, không ngờ ngay cả tiểu thần tiên mới tí tuổi như ngài cũng dài dòng đến vậy. Thiếp đây chỉ muốn cùng vị tiên quân trong phòng kia làm uyên ương một tối, hưởng chút sương tiên mà thôi. Được rồi, dù gì cũng đã có kẻ tới trước, thiếp đây cũng không dài dòng với ngài nữa, sau này không hẹn gặp”. Nói rồi ả ta vặn lưng, một đạo ánh sáng đen lao thẳng về hướng nam. Ta búng ngón tay, chỉ thấy tiếng kêu thảm thiết vọng ra từ bên trong đạo ánh sáng đen kia. Bản tiên quân đã nương tay rồi, có thể kéo dài được hơi tàn hay không còn phải xem vận may của ả thế nào.

    Trong phòng Hoành Văn yêu khí nồng nặc, ta đang định phá cửa xông vào, đột nhiên nhớ tới Thiên Xu vẫn còn đang ở trong phòng. Y là Tinh quân chuyển thế, nhất định sẽ khiến yêu nghiệt dòm ngó. Phép tiên của Hoành Văn cao hơn ta rất nhiều, trong phòng cũng không có động tĩnh gì quá lớn, ta đoán chắc hắn vẫn bình an. Bản tiên quân ghé vào khe cửa nói: “Hoành Văn, ngươi tự đối phó trước nhé, ta đi xem Thiên Xu thế nào rồi lại tới giúp ngươi”.

    Ta lập tức trở về phòng ngủ trong Hàm viện, Mộ Nhược Ngôn đang nặng nề ngủ trên giường, không có việc gì cả. Bản tiên quân vẽ một chăn tiên phủ kín lấy y xong, mới lao về phía phòng của Hoành Văn.

    Gió tanh càng đặc hơn, trước phòng Hoành Văn yêu khí nồng nặc, trong phòng lại lặng ngắt như tờ, ta cảm giác không ổn, giấu hơi thở lẻn vào phòng.

    Giữa quầng ánh sáng đỏ lấp lánh, có một bóng người đang ôm Hoành Văn mà đứng. Kẻ ấy thấp giọng nói: “Từ sau khi nhìn thấy tiên quân, ta ngày nhớ đêm mong, không tài nào kiềm chế được. Ta biết một yêu tinh như ta gặp phải tiên quân thì chỉ có một con đường chết, hôm nay tới đây cũng không ôm hy vọng giữ được mạng này. Chỉ mong…”. Đầu lưỡi tên ấy khẽ khàng lướt qua vành tai của Hoành Văn, “Chỉ mong tiên quân có thể cho ta được một đêm như nguyện. Tiên quân có biết, chuyện tuyệt vời nhất trên thế gian này, rốt cuộc là thứ gì không…”.

    Bản tiên quân nghe nhiều thế này rồi mà vẫn chưa nhúc nhích.

    Bởi vì ta đang tạm thời hóa đá.

    Mái tóc dài trắng bạc như tuyết, đôi mắt yêu mị xếch lên, là Bạch hồ ly tinh.

    Tấm áo trắng trên thân hồ ly mở rộng phần trước ngực, lộ ra cơ ngực căng tràn, rất là nguy hiểm.

    Mà chuyện nguy hiểm hơn vẫn còn ở đằng sau: Nó là hồ ly đực.

    Bản tiên quân vừa sửng sốt vừa hiện thân: “Cục Lông, ngươi đang làm cái gì thế?”.

    Hồ ly cũng thuộc dạng đắm đuối vì tình. Nó ôm chặt lấy Hoành Văn, xem bản tiên quân như không khí. Móng vuốt của hồ ly sờ soạng khắp người Hoành Văn, rõ là sờ cho bản tiên quân xem đây mà.

    Hoành Văn, Hoành Văn thì thần trí tỉnh táo, hơn nữa lại không bị khống chế, đáng lý ra phải biết từ khoảnh khắc ta lẻn vào trong phòng mới đúng, thế mà mãi tới khi ta hiện thân, hai mắt hắn chỉ nhìn con hồ ly đó, mặc nó động mồm động luôn cả móng vuốt cho ta xem.

    Chẳng lẽ Hoành Văn đã phải lòng Cục Lông đó rồi?

    Đến mức đó sao? Hồ ly tinh tuy rằng bộ dạng không tồi, nhưng làm sao mà bì được phong thái hào sảng của bản tiên quân.

    Dù cho có là đôi mắt phượng, cũng vì nam nữ khác nhau mà có đủ loại bất đồng. Nếu hiện trên khuôn mặt của nữ nhân, thì ấy gọi là đôi mắt phượng câu hồn đoạt phách, quốc sắc thiên hương, được người ta đem và trong thơ họa; nếu sinh ra trên mặt nam nhân, thế thì rõ ràng mắt phượng trợn trừng oai phong bệ vệ, giống hệt Quan Nhị gia đỏ mặt phừng phừng.

    Bản tiên quân khâm phực sự can đảm của con hồ ly này, vốn không định ra tay quá nặng, nhưng hồ ly được đằng chân lân đằng đầu, càng lúc càng sờ những chỗ không nên sờ. Ta nhất thời không cẩn thận, niệm một câu thần chú, một đạo sét trời đánh thẳng xuống đỉnh đầu hồ ly. Hồ ly cũng có chút đạo hạnh, lập tức lách người né tránh, tung yêu khí để chắn. Không ngờ cũng chắn được hơn một nửa, nó loạng choạng lùi lại vài bước, phun ra một ngụm máu đen, dựa người lên chiếc bàn cạnh đó, thở hồng hộc.

    Ta tới bên cạnh Hoành Văn, thắp đèn dầu lên. Hồ ly giương đôi mắt u oán lên nhìn Hoành Văn, sau đó lại chán nản nhắm lại, “Thì ra tiên quân chỉ lấy ta ra làm bình phong. Thôi cũng được, dù sao có thể gần gũi với tiên quân một lần, trong lòng ta cũng mãn nguyện rồi”. Sau đó nó lại mở mắt nhìn ta, “Ngươi bắt ta đi”.

    Hoành Văn bước lên trước một bước, đứng trước mặt ta: “Chuyện này không trách ngươi, ngươi đi. Ban nãy là ta nổi hứng muốn trêu trọc vị Nguyên quân này, mới mượn tạm tay ngươi. Hiện giờ đặt mình vào hoàn cảnh của ngươi mà ngẫm lại, ta làm vậy với ngươi quả thực không nên”.

    Hồ ly lau vết máu bên khóe miệng, từ từ đứng thẳng người, hai mắt chất chứa đau buồn: “Tiên quân lại bỡn cợt ta rồi, một con yêu tinh giống như ta, trong miệng tiên quân chẳng qua cũng chỉ là một con vật biến thành hình dạng loài người. Ta làm những việc ấy đối với tiên quân, nhất định trong lòng ngài cũng thấy xấu xa, bẩn thỉu. Hôm nay ta dám tới đây không mong giữ được mạng, có thể chết trong tay của tiên quân cũng cảm thấy thỏa mãn lắm rồi”.

    Những lời này mới xúc động làm sao, bản tiên quân nghe xong mà không kiềm nổi cơn thổn thức.

    Hoành Văn lại tiến lên trước một bước, cách hồ ly chưa đến một thước, chậm rãi nói: “Ban nãy khi ngươi nói những câu ấy, thật ra trong lòng ta cũng có chút vui mừng. Mấy ngàn năm nay chưa từng có ai nói với ta những lời như vậy, ta không thể đáp lại ngươi, cũng không phải bởi vì ta là tiên”. Sau đó hắn cười khẽ, “Thật ra ngươi cũng đã làm được gì đâu. Thật có lỗi, ngươi trở về dưỡng thương đi”.

    Vành tai nhòn nhọn của hồ ly khẽ run lên, thấp giọng nói rằng: “Vài ngày trước khi tiên quân hạ giới, đã dừng lại ngọn núi nơi ta tu luyện, ta vốn vì thèm muốn tiên khí trên người tiên quân mới lại gần xem thử, ai ngờ nhìn một lần xong lại chẳng thể nào quên, mới theo chân tới tận nơi này, mạo hiểm đêm nay. Những lời ban nãy của tiên quân, hàm nghĩa bên trong ta đã hiểu. Chỉ có điều…”. Đôi mắt ẩn hàm quyến luyến, nó nhìn Hoành Văn chăm chú, “Giả như có một ngày ta tu thành tiên quả, liệu có thể cùng tiên quân trời nước gặp nhau, nâng ly thỏa thích?”.

    Hoành Văn gật đầu, nói: “Được, ta hứa với ngươi. Ngươi phải nhớ kĩ, ta là Hoành Văn Thanh quân”.

    Đôi mắt của hồ ly loé sáng: “Thì ra là Hoành Văn Thanh quân cai quản văn chương. Vậy cũng xin Thanh quân nhớ kỹ, tên ta là Tuyên Ly”.

    Bản tiên quân cười mỉm bước lên một bước, “Tại hạ là Tống Dao Nguyên quân, nếu ngươi có thể thành tiên, sau đó muốn báo mối thù bị đánh hôm nay, cũng có thể tới tìm ta”. Vành tai của hồ ly giật giật, móng vuốt còn trả thèm nâng lên, xem ra chuyện ta gọi nó là “Cục Lông” trước mặt Hoành Văn ban nãy đã động chạm đến tự tôn của nó.

    Bản tiên quân từ trước đến nay vốn là người độ lượng, không thèm so đo với Cục Lông này, thấy nó dợm bước định đi, ta vội chặn ngang trước mặt nó, nói mấy lời nhắc nhở bắt buộc phải thốt ra: “Cục Lông… À không Tuyên công tử, tính ngươi thích đoàn tụ, sẽ không chạy đi quấy rối những nữ tử tầm thường, tu luyện thứ tà pháp lấy âm bổ dương, đó là chuyện tốt. Nói không chừng cũng bởi vậy mà ngươi có được tiên duyên, nhưng nghìn vạn lần đừng làm mấy chuyện quấy rối nam tử thanh tú. Ngươi nên biết lấy dương bổ dương ngược lại sẽ khiến ngươi tổn hại, con đường tu đạo coi trọng cái gọi là thanh tâm quả dục, linh hồn thanh tịnh thì tinh thần minh mẫn, tinh thần minh mẫn thì…”.

    Hồ ly hóa thành cơn gió bay đi, đem những lời bản tiên quân còn chưa kịp nói hết nhấn chìm vào trong bóng tối.

    Chẳng mấy khi bản tiên quân cất lời luận bàn đạo pháp, thế mà nó lại chẳng nghe răn dạy. Hoành Văn nhướng mày mà nói: “Suốt ngày ngươi cứ thao thao bất tuyệt mình là thần tiên được nhặt ở ngoài đường, không ngờ đả động đến con đường tu hành thì lại nói rõ ràng rành mạch như thế”.

    Ta lặng lẽ đáp: “Ở trên trời mấy nghìn năm, mấy thứ luân lý này đã sớm nhét chật lỗ tai. Cục lông đó tối hôm nay ăn đủ ‘lợi lộc’ từ Hoành Văn Thanh quân, lại nghe ta giáo huấn một hồi như thế, cũng đủ để hưởng thụ ngót nghét trăm năm”. Hầu hạ Mộ Nhược Ngôn mãi cũng thành thói quen, nhìn thấy vạt áo trước của Hoành Văn bị hồ ly làm bung ra một chút, ta liền không nhịn được, vươn tay chỉnh lại, “Ta canh giữ bên người Thanh quân đã mấy nghìn năm, những ngày gần đây còn đêm đêm chung giường kề gối, thế mà những việc ta còn chưa làm đã bị Cục lông đó làm hết sạch rồi. Lòng ta thật đau đớn quá”.

    Hoành Văn nhìn ta chòng chọc, cười mà như không cười, “Thế giờ ta với ngươi làm những chuyện mà nó chưa làm có được không?”. Rồi áp sát người vào ta, gương mặt từ từ lại tiến gần, đôi môi mềm ấm đột nhiên áp xuống, bản tiên quân giật nảy cả người. Bình tĩnh chút đi, Ngọc Đế với Mệnh Cách có khi đang ở trên trời nhìn xuống đấy.

    Nguồn ebook: luv-ebook.com

    Nhưng trên đời có một số chuyện chỉ cho phép ngươi thanh tỉnh trong chốc lát, ví như thân trong hồ nước, có lý nào y phục còn khô.

    Hoành Văn vốn không quen với những chuyện này. Hắn cắn rồi lại liếm, hoàn toàn dựa vào bản năng, lại càng hấp dẫn đến mê người. Bản tiên quân không nhịn được mà ôm chặt lấy thân thể hắn, giành quyền chủ động, chỉ cảm thấy đôi môi mềm mại kia cứ như đầm nước, còn ta thì cam tâm chết chìm trong đó. Đợi đến lúc ta ngẩng đầu lên, thấy Hoành Văn hơi hé mắt ra, đôi mắt dưới ánh đèn vương chút mơ màng, bờ môi hồng hé một cười khe khẽ. Đột nhiên, hắn kề sát bên tai mà thì thầm: “Thì ra là loại thú vị này”.

    Sức công phá của câu nói ấy thật đáng sợ, bản tiên quân suýt nữa thì rục rịch giống con hồ ly đó, dùng lưỡi liếm nhẹ vành tai hắn. Thân thể trong vòng tay ta khẽ cựa quậy, may mà đúng vào lúc này, tu vi nhiền năm của bản tiên quân bật mồ trỗi dậy, thanh tỉnh kịp thời. Ta nắm chặt lấy hai vai của Hoành Văn, đẩy ra xa ba tấc.

    Đôi mày của Hoành Văn giãn ra, nói: “Sao thế?”.

    Ta cười khổ: “Nếu làm tiếp thì phải lên Tru Tiên Đài mất”.

    Hoành Văn lùi lại một chút, phản bác: “Làm gì đến mức ấy. Nếu không ngươi giúp Thiên Xu độ khí biết bao nhiêu lần, đã sớm bị túm cổ lên Tru Tiên Đài, chém thành tám khúc rồi”.

    Bản tiên quân lẳng lặng rót một chén trà lạnh, ngửa cổ uống cạn.

    Hoành Văn ngồi xuống bên giường, mò chiếc quạt rách của hắn ra, sau đó cầm lên phe phẩy, “Chỉ là nhất thời hứng thú, cũng có phải thật đâu. Mà kể cả có làm ra cái gì thật, chẳng phải vẫn còn có thể giải thích rằng hai ta đang song tu trong phòng sao”.

    Ta lặng lẽ đặt chén trà xuống, Hoành Văn nói: “Chẳng trách mỗi lần ngươi nói đến chuyện bản thân mệnh phạm cô loan, mặt mày lúc nào cũng ủ ê chán nản, thì ra chuyện tình ái dưới nhân gian lại có chỗ tuyệt diệu vô cùng như thế”.

    Hắn khoan thai nói, như đã say mê trong đó, bản tiên quân nghe mà bàng hoàng khiếp sợ, “Thanh Quân, hai ta hạ giới là để thay người khác bố trí tình kiếp, vạn lần không thể để chuyện thêm phức tạp, sa chân vào vũng lầy. Loại chuyện ấy phải dính vào rồi mới biết, nó giày vò con người ta còn ghê gớm hơn tất cả những hình phạt tàn khốc trong thiên hạ này”.

    Đôi mắt trong suốt của Hoành Văn chăm chú nhìn ta, “Yên tâm đi, ta chỉ có chút tò mò, tìm hiểu sơ qua thôi. Nhưng ngươi ấy, nói cứ như bản thân đang bị dằn vặt, giày vò vậy, chẳng lẽ ngươi dối gạt thiên đình, lại vướng vào tình cảm trần gian?”.

    Nguồn ebooks: https://www.luv-ebook.com

    Ta cười khan một tiếng: “Làm sao ta dám… Cảm khái chút chuyện năm xưa thôi”. Sau khi chúc Hoành Văn một tiếng “ngủ ngon”, ta liền trở về phòng.

    Ta nhập lại vào xác của Lý Tư Minh, đoán rằng chẳng bao lâu nữa trời cũng sáng. Thiên Xu ngủ rất say, có lẽ do tấm chắn tiên tạo ra đã dung hòa với tiên khí của y, có tác dụng ổn định tâm thần.

    Ta nằm ở trên giường, lật người một phen. Vừa hôn Hoành Văn ban nãy xong, giờ này ngủ được mới là lạ.

    Lần đầu tiên nhìn thấy Hoành Văn trên thiên đình năm đó, tình cảnh ngày ấy ra sao nhỉ?

    Mấy ngày gần đây, bản tiên quân… rất hoài cổ.

    Nhớ lại lần đầu tiên khi ta nhìn thấy Hoành Văn, chỉ cảm thấy vị Thanh quân này còn phô trương hơn cả Thiên Xu Tinh quân nữa.

    Đương nhiên, xét về thứ bậc thì Hoành Văn Thanh quân quả thực cũng cao hơn Thiên Xu Tinh quân một chút.

    Lúc ấy ta vừa mới tiếp kiến Thiên Xu, nhận lại được một cái gật đầu lạnh như băng như tuyết. Tiên sử dẫn ta đi tiếp, nói phải tới bái kiến Hoành Văn Thanh quân, Tiên sử nói với ta rằng, vị Thanh quân này cai quản văn tông, cấp bậc ngang bằng với mấy vị Đế quân. Ta khiêm nhường dỏng tai lên nghe, âm thầm ghi nhớ. Khi đến trước cửa cung Vi Viên của Hoành Văn Thanh quân, chỉ thấy vô số các tiên già đi về hướng khác. Tiên sử nói, ngươi thật không may, Hoành Văn Thanh quân chỉ sợ có việc phải ra ngoài. Sau đó đứng từ xa chỉ vài người đang được chúng tiên vây quanh cho ta nhận mặt, hai vị đi theo hầu hai bên là Văn Võ Khôi Tinh, ba vị đi phía sau là Chưởng Án Văn quân và hai vị tiên quân Văn Xương – Văn Mệnh, vị đứng giữa chính là Hoành Văn Thanh quân.

    Ta giương mắt nhìn theo, chỉ thấy một bóng người tím nhạt đang càng lúc càng xa, phong thái tao nhã, bóng dáng quả có vài phần giống với Thiên Xu Tiên quân. Có điều Thiên Xu Tinh quân thì còn nhìn thấy được dung nhan, vị Hoành Văn Thanh quân này ngay cả mặt mũi ra sao ta cũng không trông rõ.

    Ta chỉ đành đưa một tấm thiệp viết tên cho tiểu đồng bên ngoài cung Vi Viên, sau đó liền đi bái kiến các vị tiên còn lại.

    Vài ngày sau, ước chừng tất cả các vị thần tiên trên thiên đình đều đã bái kiến xong, ta ngày ngày ra ngoài, dạo chơi khắp chốn, làm quen đường đi lối lại. Ngày hôm đó, ta tới bên một hồ sen nằm không xa vườn Bàn Đào. Hoa sen trên thiên đình nở suốt bốn mùa, từng đóa từng đóa vươn mình trên mặt nước, thanh nhã xuất trần. Mây khói lượn lờ, hương sen ngào ngạt, khung cảnh khiến người ta thả bước men theo bờ hồ, tinh tế thưởng ngoạn. Ta bước vào nơi sâu thẳm giữa làn sương khói, trông thấy một khối đá lớn bên trên trải giấy, có một người nửa ngồi nửa quỳ, vung bút vẽ tranh, phỏng chừng người ấy đang vẽ hồ hoa sen này.

    Ta bước lại gần hơn chút nữa, nói một câu “làm phiền”, người kia nghiêng đầu quay lại, chiếc bút trong tay cũng tiện đà vung một đường. Đối phương “ây da” một tiếng, mực nước bắn tung toé lên áo ta, rồi người kia liền vội vàng đứng dậy chắp tay cười: “Ta nhất thời sơ sẩy, xin lỗi, xin lỗi”.

    Ta ngẩn ngơ, cũng không phải bởi xiêm y dính mực, mà là bởi người nọ có dung mạo thanh nhã tựa đoá hoa sen.

    Lúc đó trông Hoành Văn vẫn còn phân nửa dáng dấp của một thiếu niên, mái tóc buông lỏng phía sau, chỉ dùng một sợi dây buộc phần đuôi tóc lại. Hắn mặc một bộ y phục làm từ vải bố màu xám, góc áo kẹp vào trong, ống tay áo cuộn lên, trong lòng ta thầm đoán, hẳn là tiên đồng theo hầu một vị tiên quân nào đó, cũng có thể chỉ là một tán tiên giống như ta.

    Hắn nói xin lỗi, trên gương mặt đầy vẻ áy náy, ta vội vàng đáp lễ nói rằng: “Không có việc gì, không có việc gì, vốn là do ta đường đột, làm ngươi phải dừng việc vẽ tranh”. Ta giũ áo một cái, lại cười, nói tiếp, “Dưới trần gian người ta thường nói, ‘được dính mực đỏ ba ngày thơm hương’, huống gì lần này lại là mực tiên, càng có thể coi là một việc tao nhã”.

    Hai mắt hắn sáng bừng lên: “Hả? Người trần gian lại nói thế ư? Ta chưa từng thấy ngươi bao giờ, ngươi chính là người mới từ trần gian lên sao?”.

    Ta nói, “Chính là tại hạ”.

    Hoành Văn cười rộ lên, “Quả là vừa khéo, ta sinh ra trên thiên đình, chưa từng xuống trần gian lần nào cả, sau này còn xin ngươi kể vài chuyện hiếm thấy dưới trần gian cho ta mở mang tầm mắt”.

    Mấy ngày nay ta đi tiếp kiến các vị thần tiên, đều nói toàn những câu lời lẽ khách sáo, cảm thấy vị tiểu tiên hao hao giống tiên đồng này nói chuyện thật là thân thiết, liền nói: “Đó là đương nhiên, có điều ta mở miệng sẽ dễ dông dài không dứt, ngươi nghe lâu chớ thấy phiền đấy”.

    Ý cười trên mặt hắn lại càng sâu hơn, ta cúi đầu nhìn bức vẽ trên tảng đá: Chỉ lác đác vài nét bút, đã phác ra được đường viền của một đóa hoa sen, phong thái sống động, liền chân thành thốt lời khen: “Bức tranh đẹp quá”.

    Hoành Văn nghe xong có vẻ rất vui, nói rằng: “Ngươi đã thấy bức tranh này coi được, vậy đợi sau khi vẽ xong ta sẽ tặng cho ngươi, coi như bồi thường cho chiếc áo bị dính mực. Vậy có được không?”.

    Ta nói: “Cầu mà không được, ta lại được lợi rồi”. Thấy hắn ngồi xuống, vén ống tay áo mài mực, ra vẻ muốn vẽ tiếp, ta liền nói: “Ta ở đây sợ sẽ quấy rầy sự thanh tĩnh lúc ngươi vẽ tranh, xin cáo từ trước”.

    Ta xoay người, lại nghe thấy Hoành Văn hô: “Xin dừng bước”. Ta quay đầu lại, thấy hắn nghiêng đầu nhìn mình, “Tên ngươi là gì?”.

    Ta nói: “Tại hạ Tống Dao, Tống trong Tề Sở Yến Triệu Hàn Ngụy Tống, Dao gồm Vương và Triệu[1] ”.

    [1]: Chữ Dao 珧 gồm chữ Vương 王và chữ Triệu 兆 ghép thành.

    Lúc đó, ta nói tên xong liền đi, chẳng ngờ đến tối ngày hôm sau đã thấy hắn đứng trong sân sau cửa phủ tiên mà Ngọc Đế ban cho ta, cười tủm tỉm cất lời chào hỏi, “Tống Dao”. Thấy ta ngạc hiên, Hoành Văn lấy một cuộn tranh từ trong tay áo, “Tranh đã vẽ xong rồi, ta mang tới cho ngươi. Nếu vào từ cửa trước thì phải thông báo nhiều lần, phiền lắm, thế nên ta vào thẳng sân sau luôn”. Trèo tường vào sân, hắn cũng thật không khách khí. Ta nhận lấy cuộn tranh, nhớ ra hai bình Quỳnh Nhưỡng mà Ngọc Đế thưởng cho còn đang lo không có người nào nâng chén cùng say, liền giữ hắn lại uống rượu. Hoành Văn gật đầu đồng ý, chẳng hề chối từ.

    Thế là chúng ta liền bày hai khay quả tiên cùng điểm tâm lên trên chiếc bàn đá trong sân sau, đối ẩm giữa màn đêm. Ta còn nhất thời cảm khái, “Nếu là ở trần gian, đêm khuya uống rượu, ngẩng đầu là có thể thấy trăng sáng, chiếu bóng người thành một đôi, cũng là một chuyện thanh nhã. Bây giờ ở trên thiên đình, nếu nảy ý muốn ngắm trăng thì chỉ có cách chạy tới cổng cung Quảng Hàn mà ngắm. Còn sợ đi nhiều quá, chúng tiên lại tưởng nhầm ta định chòng ghẹo Hằng Nga.

    Hoành Văn hỏi: “Mặt trăng dưới trần gian… trông như thế nào?”.

    Ta nâng tay lên so sánh, “Đầu tháng trăng cong cuối tháng trăng khuyết, mỗi tháng chỉ có hai ngày mười lăm mười sáu là trăng tròn. Ngày mười lăm tháng tám hằng năm là lúc trăng tròn nhất. Thế nên nhân gian gọi ngày ấy là tiết Trọng Thu, còn có tên khác là Trung Thu. Có điều cả lúc trăng tròn nhất, cũng chỉ lớn bằng cái khay này thôi. Dưới nhân gian, mỗi lần Trung Thu tới, mọi người đều ngồi dưới tàng cây hoa quế, bày rượu, ngắm trăng…”

    Cứ như thế, uống từng chén một, kể từng chút một. Hoành Văn nghe đến thích thú, ta cũng kể đến hăng say, cuối cùng uống say bí tỉ, ở sân sau có một cái giường nhỏ bằng đá, hai ta liền lăn lên giường mà ngủ. Ngày thứ hai, trời sáng bảnh, phỏng chường Mão Nhật Tinh quân đã rời khỏi Đông Thiên Môn được một canh giờ rồi, chúng ta mới mơ mơ màng màng bò dậy. Cả tóc tai lẫn y phục của hắn đều rối tung cả lên, nhìn ta cười, “Tối hôm qua, uống rượu thật sự thỏa thuê”.

    Ta chưa nhìn quen diện mạo của hắn, lại ngơ ngác mất một lúc, cũng cười đáp lời: “Đúng thế, đúng thế, từ khi lên thiên đình tới nay, đây là lần đầu tiên ta được uống sảng khoái như vậy”.

    Hắn sửa sang lại y phục, “Có điều ta phải cáo từ rồi, tối hôm qua không về phủ, chỉ sợ bọn họ đang tìm kiếm khắp nơi”.

    Bây giờ ta mới nhớ ra một chuyện: “Đúng rồi, lại quên hỏi xem tên ngươi là gì?”. Nghe Hoành Văn nói phải về phủ, thật sự ngươi là tiểu tiên theo bên cạnh vị Thượng quân nào sao?

    Hắn nói: “A, đúng rồi, ngươi không hỏi ta cũng quên không nói. Ta sinh ra tại thiên đình, thế nên không có tên họ, chỉ có một tước vị định sẵn từ lúc sinh ra”.

    “Tước vị của ta là Hoành Văn Thanh quân, ngươi gọi Hoành Văn là được rồi”.

    Ta đứng bên giường đá, ngây người.

    * * *

    Trời đã lờ mờ sáng, ta nằm trên giường, lật người lần nữa, duỗi thẳng ra. Haizz, nhớ khi đó, tiên thuật của Hoành Văn Thanh quân còn non nớt, cho nên vóc người vẫn thấp hơn bản tiên quân một chút, trên người phảng phất nét đơn thuần của một thiếu niên. Vài nghìn năm trôi qua, giờ đem vị Hoành Văn Thanh quân hiện giờ đang nằm trong sương phòng kia ra so với năm xưa… Haizz, thế sự xoay vần, quả là thế sự xoay vần mà.

    Bản tiên quân nghiêng người, quan sát gương mặt đang ngủ say bên gối kia. Vài nghìn năm, Thiên Xu Tinh quân lại chẳng thay đổi chút nào, dù cho hôm nay có chuyển thế thành Mộ Nhược Ngôn bệnh tật đầy mình, thì người mang gương mặt ngủ say, hai mắt nhắm nghiền, thong dong thanh tú kia, vẫn cứ là Thiên Xu năm ấy.

    Nhìn rồi lại nhìn, bản tiên quân bắt đầu thấy đau đầu.

    Ngày mốt, Nam Minh Đế quân cũng sẽ xuất hiện Thiên Xu à, tình nhân của ngươi sắp tới rồi đấy.

    Khi hai vị ấy có tư tình trên thiên đình, ta chẳng nhìn ra chút manh mối nào cả. Lúc hai vị Thượng quân gặp mặt trên đại điện, đều là ngươi trưng ra bộ mặt uy nghiêm của ngươi, ta kéo ra thần thái thanh lãnh của ta, kỳ thực trong lòng lại ầm ầm cuộn sóng, khổ sở biết bao, khó chịu biết nhường nào.

    Ta nhìn gương mặt đang say ngủ của Thiên Xu, nở một nụ cười vui vẻ, giúp y đắp lại chăn.

    Thiên Xu và Nam Minh sẽ hội ngộ nhau trong vương phủ, ngay trước mặt bản tiên quân, không biết tình cảnh lúc ấy sẽ thế nào đây.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:58
  8. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 7
    Mời đọc
    Ngày hôm sau sắc trời có phần âm u, cơn gió nhẹ mang theo cái lạnh se se, ta sợ Thiên Xu ở trong phòng suốt ngày sầu muộn đến hỏng người, liền cùng y đi ra hít thở khí trời trong Hàm viện. Mấy cô nha hoàn rất lanh lợi, Lạc Nguyệt bưng ngay một bàn cờ ra, bản tiên quân cùng vói Mộ Nhược Ngôn chơi cờ trên bàn đá.

    Hai ván, ba ván, nhàm chán vô vị.

    Cái gọi là thú vui lúc đánh cờ, ấy chính là cùng với kẻ ngồi đối diện phân tài cao thấp, vì một hai quân cờ được mất, vì hai ba phần cục diện mà ngươi cướp ta tranh, ngươi vui ta giận, ngươi dương dương đắc ý ta cười lạnh âm trầm, lúc thì vò đầu bứt tóc, khi mồ hôi lạnh lã chã tuôn rơi, dùng dằng mãi cũng không hạ được quân cờ xuống, cũng chỉ vì cái thú vui ấy.

    Thế nhưng lúc Mộ Nhược Ngôn chơi cờ, mặt mũi hoàn toàn vô cảm. Ngươi ăn của y một quân, y im lìm bất động; y ăn được của ngươi một quân, vẫn bất động im lìm. Thắng hay thua cũng vẫn cứ một bộ mặt đó, bản tiên quân hết sức bực mình.

    Năm đó khi còn ở trên thiên đình, bản tiên quân cũng từng đấu với Thiên Xu Tinh quân vài ván, cũng có thấy y bộ dạng thế này đâu. Khi đồn y đến bước đường cùng, đầu mày của Thiên Xu sẽ hơi nhíu lại, thoáng chút trầm ngâm; lúc bản tiên quân sa lầy, y tuy rằng không mừng ra mặt, nhưng ánh mắt đuôi mày, cũng vương chút ý cười. Tuy không biểu hiện gì nhiều, nhưng dù sao cũng có giận có vui. So như vậy, Mộ Nhược Ngôn như khúc gỗ bây giờ lại có chút không giống Thiên Xu của năm xưa.

    Ta vẫn còn nhớ rõ, trong một lần ngẫu nhiên gặp tại chỗ của Nam Cực Tiên Ông, bản tiên quân cùng với Thiên Xu chơi cờ, ván cờ đó ta đánh cực kì trắc trở, chốn chốn đều bị vây chặt, dùng cạn khả năng cũng không vãn hồi được cục diện, chỉ có thể âu sầu ném quân cờ xuống, thổn thức nhận thua. Thiên Xu lúc đó đang kẹp một quân cờ trắng giữa hai ngón tay, gõ nhẹ xuống bàn cờ, nghe ta nhận thua xong còn mỉm cười một cái. Y dùng những ngón tay thon dài nhặt quân cờ trên bàn lên, phân ra rồi để vào trong hũ. Thiên Xu bình thường rất lạnh lùng, nhưng nụ cười khi ấy lại không lạnh lẽo chút nào.

    Ta đưa mắt nhìn trộm Mộ Nhược Ngôn, Thiên Xu chuyển thế một lần, vậy mà chút hơi ấm trên người cũng “chuyển” mất tiêu. Mộ Nhược Ngôn như cơn gió nhẹ ngày hôm nay vậy, tuy ôn hòa, lại thấm nhuần hơi lạnh.

    Mộ Nhược Ngôn ngước đôi mắt trong suốt lên nhìn ta. Bản tiên quân đang ngẫm nghĩ đến xuất thần, bị y nhìn như thế liền có chút hoảng hốt, một lát sau mới đột nhiên bừng tỉnh, vội vàng cười ngượng ngập: “Ta cứ nghĩ đâu đâu ấy, quên cả hạ cờ”. Liền tiện tay đặt quân cờ trong tay xuống, Mộ Nhược Ngôn thấy thế, thần sắc rốt cuộc cũng thay đổi một chút, “Lý công tử cầm quân trắng, sao lại đánh quân đen?”.

    Mặt ta hơi nóng, ban nãy mới ăn được của Mộ Nhược Ngôn mấy quân, nhặt cờ xong lại nhìn lén bộ mặt biểu cảm của y, bất giác để tâm trí lãng đãng tận đâu, vẫn cứ nắm lấy quân cờ đen ấy trong tay. Ban nãy nhất thời hồ đồ, đặt luôn nó xuống, ta nhặt quân cờ lên, càng ngập ngượng hơn, “Hồ đồ mất rồi, hồ đồ mất rồi”.

    Chỉ nghe thấy từ xa, tiếng ai thong thả nói: “Không phải là hồ đồ, là ‘nhàn ngắm hoa đua nở, gió cũng khiến người say’”.

    Bản tiên quân ho khan một tiếng, nhìn bóng áo xanh kia bước vào trong viện, nha hoàn nói: “Thiếu gia, Triệu tiên sinh tới rồi”.

    Ta lầm bầm trong bụng: Nói thừa, Triệu tiên snh đã đứng ngay trước mặt rồi, thiếu gia ta còn có thể không biết hắn tới nữa ư?

    Triệu tiên sinh chắp tay với bản tiên quân, khách khí nói: “Tại hạ mạo muội tới thăm, lại đường đột xông vào trong viện, xin Tam công tử đừng trách”. Ta cũng chỉ đành chắp tay theo hắn, “Triệu tiên sinh khách khí quá rồi, hôm nay có thể được tiên sinh ghé chơi, cầu còn không được”.

    Hôm nay Hoành Văn ghé qua, nhất định là vì không nén nổi tò mò mà chạy tới thăm Thiên Xu Tinh quân.

    Bản tiên quân phất tay để cho người hầu lui cả xuống, quả nhiên Hoành Văn liền trưng ra đôi mắt chứa vài phần nghi hoặc nhìn Mộ Nhược Ngôn, Mộ Nhược Ngôn đứng dậy, ta lại ho khan một tiếng, “Nhược Ngôn, vị này là Triệu tiên sinh. Triệu tiên sinh, đây là…”.

    Hoành Văn khiêm nhường chắp tay chào Thiên Xu: “Tại hạ Triệu Hoành, là mạc trọng trong vương phủ. Ban nãy tự ý xông vào, quấy rầy Ngôn công tử chơi cờ, mong Ngôn công tử đừng trách”. Đôi mắt của Hoành Văn thấp thoáng ý cười, chỉ đăm đăm nhìn Thiên Xu.

    Mộ Nhược Ngôn chắp tay đáp lễ, nói: “Triệu công tử khách khí rồi, nếu công tử không chê, cứ gọi thẳng Nhược Ngôn là được, hai chữ công tử này tại hạ vạn lần không dám nhận”.

    Hoành Văn nhìn Thiên Xu vốn không có ác ý gì, nhưng hiện giờ Thiên Xu đang trong hoàn cảnh thế này, thấy người ngoài chỉ càng khiến y khổ tâm hơn thôi. Lại có trận gió thổi qua, Mộ Nhược Ngôn khẽ ho mấy tiếng, hẳn là đã dùng hết khí lực mà kiềm cơn ho lại, mới miễn cưỡng cười với Hoành Văn, nói rằng: “Có chút thất lễ, khiến công tử chê cười rồi”.

    Hoành Văn nói: “Tại hạ có chút việc tới tìm Tam công tử, không quấy rầy Ngôn công tử nghỉ ngơi nữa”. Hoành Văn nói xong liền âm thầm kéo ống tay áo của ta một cái, bản tiên quân liền theo hắn bước ra xa độ mười bước, thấp giọng hỏi: “Sao ngươi lại qua đây”.

    Hoành Văn nhỏ giọng nói bên tai ta: “Nam Minh Đế quân tới rồi, đang ở tiền viện”.

    Bản tiên quân sửng sốt, “Hả?”.

    Hoành Văn nói: “Suỵt. Ngươi ra tiền viện đi, phải giả bộ không hay biết gì đấy. Khí sắc của Thiên Xu không tốt, ngươi để y về phòng nghỉ ngơi trước đã”.

    Ta lập tức quay người lại, Mộ Nhược Ngôn đang ở bên bàn đá nhặt quân cờ. Ta nói: “Ngươi về phòng đọc sách, nghỉ ngơi chốc lát đi, để người hầu dọn được rồi”. Mộ Nhược Ngôn không phản ứng gì, bản tiên quân đành mặc y ở trong viện, sau đó cùng Hoành Văn vội vội vàng vàng chạy ra tiền viện.

    Vừa đi ta vừa hỏi Hoành Văn: “Nam Minh Đế quân gan lớn thế sao, dám vác cái danh Nam Quận tướng quân, ngang nhiên vào Đông Quận Vương phủ?”.

    Hoành Văn cười nói: “Đan tướng quân si tình lại có mưu có lược, sao lại làm chuyện ngu xuẩn thế được, ngươi ra xem là biết liền”.

    Tình hình ở tiền viện khiến bản tiên quân vô cùng kinh hãi.

    Hơn mười người mặc đoản y[1] đứng xếp thành hàng trên mảnh đất trống, tổng quản nội viện một tay để sau lưng, một tay vuốt chòm râu dê, đi đi lại lại trước mặt mấy người kia.

    [1]: Đoản y: Y phục bó người, vạt trước hoặc vạt sau ngắn. Là y phục dành cho tầng lớp bình dân hoặc binh sĩ thời cổ.

    Mười mấy kẻ này là gia đinh mới được tuyển chọn vào trong Đông Quận Vương phủ.

    Trong số đó có một kẻ có vóc người cao lớn, khoác trên mình áo nát quần bươm, chân mang đôi giày có gai, chính là Nam Minh Đế quân Đan Thành Lăng.

    Bản tiên quân từng tưởng tượng vô số tình huống Đan Thành Lăng lẻn vào Đông Quận Vương phủ, lão già Mệnh Cách nói với ta rằng hắn nửa đêm tới cướp Thiên Xu, ta liền chắc mẩm rằng hắn sẽ xuất hiện khi sắc trời đen kịt, gió nổi trăng mờ. Trèo tường, phá cửa, chui lỗ chó, thi triển kinh công bay lên nóc nhà, sau đó nhẹ nhàng hạ xuống… Nói chung mọi khả năng ta đều đã nghĩ qua, chỉ vạn lần không ngờ hắn lại xuất hiện giữa ban ngày ban mặt, bán mình vào Đông Quận Vương phủ làm gia đinh.

    Ngọc Đế ơi là Ngọc Đế, Nam Minh Đế quân thật đúng là kẻ si tình.

    Bản tiên quân thở dài.

    Nam Minh Đế quân cứ thế mà bán thân vào Vương phủ, tổng quản của Đông Quận Vương phủ cũng cứ thế mà nhận hắn vào.

    Thật không biết mắt của lão tổng quản mọc đằng nào nữa.

    Bộ dạng của Đan Thành Lăng cũng không khác gì mấy so với khi là Nam Minh Đế quân. Thân cao hơn tám thước, dáng người hùng dũng oai vệ, đôi mày kiếm bay xéo hai mắt sáng quắc tựa diều hâu. Tuy rằng trên mặt lấm bẩn , đầu tóc rối bù , đứng giữa đám người này vẫn hệt như chú lợn lòi lạc bước giữa bầy heo nhà gầy rộc, vừa nhìn đã biết không phải kẻ tầm thường. Loại người như thế sao có thể bán mình làm gia đinh cơ chứ.

    Chẳng lẽ do Mệnh Cách an bài?

    Tổng quản lấy danh sách ra, bắt đầu ghi ghi chép chép. Bản tiên quân thong thả bước qua, tổng quản lập tức buông tay, khom người nói: “Thỉnh an Tam công tử”.

    Ba chữ “Tam công tử” vừa ra khỏi miệng, hai đường nhìn sắc như dao của Đan Thành Lăng lập tức lao về phía bản tiên quân. Ta giả bộ như không nhìn thấy, gật đầu, sau đó nói: “Đều là gia đinh mới vào phủ sao?”

    Tổng quản đáp “Đúng vậy”, bản tiên quân ung dung bước tới trước mặt đám đông, giả bộ như đang xem xét từng người một, bước tới bên canh Đan Thành Lăng thì chần chừ chốc lát, ngoài mặt chỉ quan sát, trong lòng lại suy nghĩ. Nam Minh rơi vào trong tay bản tiên quân, để không phụ công Ngọc Đế cậy nhờ, bản tiên quân phải để hắn đi làm việc gì đó thật thấp hèn, để hắn trông thấy được Thiên Xu nhưng không chạm vào, cả hai cùng chịu giày vò mới được.

    Mấy vị trí như chẻ củi, đốt lò, canh cửa thông thường thì không có cơ hội bước được chân vào Hàm viện, Nam Minh lại quá uy mãnh, làm không nổi tiểu tư. Nghĩ trước nghĩ sau, chỉ có một công vệc có thể giúp hắn vào trong viện của ta, gặp được mặt tình nhân.

    Ta cân nhắc xong xuôi, nói với tổng quản đứng bên cạnh: “Người này, tạm thời để hắn đi đổ dạ hương[2] của các viện đi”.

    [2]: Dạ hương: Đổ phân

    Buổi tối, bản tiên quân ôm lấy Thiên Xu mà nói, “Gần đây trời lạnh, ta cùng ngươi ngủ chung chăn nhé”.

    Bình minh ngày hôm sau, rửa mặt xong xuôi, ta liền giả bộ ra hậu hoa viên hít thở khí trời buổi sớm, tránh tai mắt của mọi người, lẻn vào trong phòng Hoành Văn, thản nhiên bảo hắn lôi chân thân của bản tiên quân ra khỏi thể xác Lý Tư Minh. Hoành Văn rất vui vẻ làm, sau đó tiếp tục vui vẻ theo ta trở về Hàm viện, ẩn mình trên không trung xem trò vui.

    Đan Thành Lăng khoác trên mình trang phục của gia đinh, đang đứng ở góc tường trong viện kiểm kê số bô, trong khoảnh khắc khi hắn đưa tay cầm cái bô lên, vô ý ngẩng đầu, đúng lúc trông thấy một bóng người đơn bạc yếu ớt đứng dưới mái hiên. Người kia như cảm thấy điều gì, cũng xoay người lại, vào giây phút khi bốn mắt chạm nhau, cả trời đất như ngưng kết lại.

    Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài gặp gỡ tại ban công[3].

    [3]: Nguyên văn là “hội tại lâu thai”. Lấy ý từ Lâu Thai Hội – một phân cảnh rất quan trọng trong câu chuyện Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài.

    Bản tiên quân vẫn còn nhớ như in, năm xưa khi ta còn làm người phàm, có một gã thư sinh nghèo kiết hủ lậu, đi thi nhiều lần mà vẫn không đỗ đạt công danh đã nhờ người dâng mấy khúc thơ chua xót não nề cho ta xem, nhằm thể hiện tài hoa của hắn. Lúc đó ta vẫn còn chưa bị tổn thương tình cảm, đọc mấy bài thơ oán hận sầu thương đó cũng chỉ để vui vẻ nhất thời, xong cũng liền thôi. Chỉ nhớ có hai câu tả về đôi mắt của một người oán phụ trong khuê phòng như thế này: “Cận khán thu thủy viễn khán sơn, đường hoa dạ trọng lộ san san”. Ta đọc mà kinh hãi cả người, nhìn gần một chút thì giống nước, nhìn xa một chút lại tựa núi non, nửa đêm trông thì lại hao hao mấy đóa hải đường sương đang long tong nhỏ giọt, một đôi mắt như thế mà lại xuất hiện trên mặt người, vậy thì đáng sợ đến nhường nào.

    Ta thành thật nói suy nghĩ của mình ra, người thay mặt dâng thơ không nói lời nào liền đi mất, còn đem nguyên văn lời của ta truyền đạt lại cho kẻ viết thơ nghe. Có người nói rằng gã nghèo kiết hủ lậu đó đã mở tập thơ ra, ngửa cổ điên dại cười ba tiếng, một ngụm máu tươi phun lên trên giấy, phất áo mà đi. Lại nghe đồn rằng hắn đã vào rừng sâu núi thẳm, hoặc tu đạo hoặc quy y cửa phật mất rồi.

    Giờ nhớ lại, năm đó quả thật ta đã gây ra tội ác, bởi vì dốt nát bất tài, đã ép một văn nhân có tài phải vào chốn rừng sâu núi thẳm. Hai câu thơ ấy tả sâu sắc đến nhường nào, đặt nó vào trong tình này cảnh này, lại thích hợp biết bao nhiêu.

    Đôi mắt của Thiên Xu như dòng nước mùa thu nhìn gần, hai mắt của Nam Minh lại tựa đồi trọc nhìn xa. Mái hiên bên này chất đầy những thống khổ bi ai, những nhớ nhung vui sướng nói hoài không hết, tình ý miên man dàn trải, chái nhà bên kia lại nặng trình trịch những thương với nhớ, trụi thùi lủi những ái với tình.

    Ngóng, cũng chỉ ngóng một cái thế mà thôi. Đan Thành Lăng xách bô lên, mặt không đổi sắc, bước ra khỏi viện, Mộ Nhược Ngôn cố làm vẻ điềm tĩnh mà quay đầu lại, gương mặt lại không khỏi trắng thêm một chút, vừa bước chân đi thì thân thể cũng khẽ run.

    Hoành Văn nói: “Đôi tiểu uyên ương bị gậy đánh này quả thực đáng thương”.

    Ta nói: “Cái gậy to tướng đã đánh uyên ương cũng khiến người ta căm phẫn quá còn gì”.

    Hoành Văn há miệng ngáp một cái, “Nam Minh Đế quân làm gì có tư cách trách ngươi, năm xưa hắn làm gậy đánh uyên ương, xuống tay nặng chẳng ai bì được”. Sau đó liếc xéo nhìn ta, “Ngươi vẫn còn ghi hận chuyện của Thanh Đồng và Chi Lan đúng không”.

    Ta cười lạnh, “Ta làm sao quên nổi”.

    Thanh Đồng là một tiểu đồng đưa tin dưới trướng Đông Hoa Đế quân. Giao tình giữa Đông Hoa Đế quân và Hoành Văn rất tốt, thường đưa kèm luôn thiệp mời cho ta, mời ta tới chơi vài ván cờ, uống vài chén trà những khi rảnh rỗi. Những lần ấy đều là do Thanh Đồng đưa tin, tới tới lui lui mãi cũng thành quen. Thanh Đồng vốn thông minh lanh lợi, vì đi truyền tin có thể đi lại khắp các ngóc ngách trên thiên đình, ai ngờ người này lại có tư tình với tiểu tiên nữ Chi Lan của điện Phi Hương, thường xuyên qua lại.

    Hai người động phàm tình, làm một số chuyện mà ở trên thiên đình không ai nên phạm phải. Có một ngày lén lút gặp nhau, lại bị thiên binh làm nhiệm vụ hôm đó bắt ngay tại trận, giải thẳng tới Ngọc Đế. Vốn dĩ có Đông Hoa Đế quân, Hoành Văn cùng ta đứng ra nói giúp, xem ý tứ của Ngọc Đế, cũng chỉ định phạt qua loa một chút, biếm xuống trần gian là xong chuyện. Nhưng chẳng ngờ Nam Minh Đế quân lại gạt đám đông bước ra, nói thiên đình vốn có quy củ, không thể vì tình cảm mà nhân nhượng được, cần dựa theo đúng luật trời mà nghiêm trị.

    Hắn đứng giữa điện Linh Tiêu, hiên ngang trần thuật. Ngọc Đế giao việc này cho Nam Minh xử trí. Nam Minh liền sai người áp giải Thanh Đồng và Chi Lan lên Tru Tiên Đài, chém đứt tiên căn, ném vào Súc Sinh đạo. Nếu Thanh Đồng là con thỏ ranh mãnh, thì Chi Lan nhất định sẽ là hổ dữ. Chi Lan là kiến hôi, thì Thanh Đồng sẽ là tê tê. Thanh Đồng là tôm là tép, vậy Chi Lan sẽ là con cá nuốt gọn tôm tép vào bụng. Cứ như thế, tàn sát hủy hoại nhau đến chín kiếp mới được làm người, nhưng vẫn sẽ là thù địch, số mệnh không có nhân duyên.

    Khi đó Nam Minh Đế quân không dám đắc tội với Đông Hoa và Hoành Văn, liền gán cho ta một cái tội danh ngay trên Linh Tiêu bảo điện, gọi là tội mê hoặc tiếp tay. Nói rằng ta không có tu vi, gốc phàm chưa hết, ngấm ngầm ám chỉ với Ngọc Đế rằng bản tiên quân đã xúi giục Thanh Đồng đi chòng ghẹo Chi Lan.

    Có ai ngờ được, một vị Nam Minh Đế quân như thế lại có tư tình với Thiên Xu Tinh quân. Hắn lưu lạc tới nông nỗi hôm nay, bản tiên quân không thể không nói với hắn một câu: Báo ứng tới rất nhanh.

    Nam Minh ơi Nam Minh, ngươi cùng Thiên Xu đưa mắt ngóng trông nhau thực cảm động lòng người. Năm xưa khi ngươi hạ lệnh ném Thanh Đồng và Chi Lan vào Súc Sinh đạo, liệu từng nghĩ sẽ có ngày này?

    Ta nói: “Nhớ tới Thanh Đồng và Chi Lan, liền cảm thấy Ngọc Đế phạt Nam Minh Đế quân như thế này cũng rất công bằng. Nhưng Thiên Xu chưa từng làm chuyện gì thất đức, vậy mà hằng ngày phải chịu dằn vặt hơn Nam Minh vô số, cũng quá bất công”.

    Hoành Văn nói: “Ngươi nói những câu này lại không sợ Ngọc Đế nghe thấy được”.

    Kẻ trước người sau bay về phòng Hoành Văn, bản tiên quân trở lại là Lý Tư Minh, Hoành Văn phải tới chỗ Đông Quận Vương trình diện một phen, bản tiên quân đương nhiên trở về Hàm viện. Mộ Nhược Ngôn ngồi ở trong phòng, tay nắm chặt một quyển sách, ánh mắt lại không đặt lên sách, chẳng biết đang ngóng về phương nào, người như đi vào cõi mộng.

    Bản tiên quân bước lên phía trước, nói: “Nhược Ngôn vẻ mặt ngẩn ngơ, không biết là nhớ quê nhà, hay nhớ đến ai?”.

    Trên mặt Mộ Nhược Ngôn viết là nhớ người, ngoài miệng lại nói: “Cả ngày ngồi rảnh rỗi,ngẫu nhiên nhớ lại chút chuyện xưa”.

    Ta đứng đối diện với y,trầm giọng nói : “À, hẳn là chuyện xưa với cố nhân năm đó rồi”. Mộ Nhược Ngôn không nói lời nào, bản tiên quân đặt một bàn tay lên bờ vai gầy guộc của Mộ Nhược Ngôn, tay còn lại rút quyển sách trong tay y ra, không ngờ lại là tập thơ Cao Thường Thị[4] .

    [4]: Tập thơ Cao Thường Thị do nhà thơ Cao Thích thời Đường biên soạn.

    Phòng ngủ của Lý Tư Minh là một gian phòng kép được ngăn đôi bởi một tấm bình phong chạm rỗng làm từ gỗ đàn hương, bên trong đặt giường màn, gian ngoài có chút đồ cổ, bày án thư[5], có thể coi như thư phòng mà sử dụng. Sau khi bản tiên quân chuyển Mộ Nhược Ngôn vào nơi này rồi, liền cố ý đặt vài chồng sách lên bàn, không thơ khổ não thì cũng phú thê lương, tạo điều kiện cho y quằn quại vì tình.

    [5]: Án thư: Bàn hẹp và dài kiểu cổ, thời xưa dùng để đọc sách và viết.

    Ta vốn nghĩ rằng, mỗi ngày nhìn Thiên Xu giấu một quyển thơ trong tay áo, giữ lệ trên bờ mi mà nhìn mây trôi ngoài cửa sổ, nhất định sẽ là một khung cảnh khiến người ta thương tiếc không thôi. Nhưng y lại chẳng nhận cái tình ý này của ta, mấy ngày trước, không biết Thiên Xu mò được từ xó xỉnh nào một quyển Kinh Dịch, lăm lăm một cây bút lông sói nhỏ trên tay, vừa đọc lại vừa viết lời bình. Kinh Dịch thì có gì để bình với luận? Trên đường trên phố đầy sạp hàng của thầy bói nào chả bày một quyển. Ta cứ nhìn đám chữ tiểu triện[6] được phê chi chít trên trang sách kia là răng lại bắt đầu ê ẩm. Nhưng ta lại nghĩ, y thích đọc sách thì để y đọc đi, còn tốt hơn là treo cổ với nhảy hồ. Tối qua, đến tận lúc bản tiên quân ngồi xuống giường, Thiên Xu mới buông sách đi ngủ. Khó khăn lắm mới đổi sang đọc thơ, ai dè lại là Cao Thích.

    [6]: Tiểu triện: Là Hán tự thống nhất dùng để viết sách. Ra đời sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, tiểu triện lưu hành tới tận những năm cuối đời Tây Hán (khoảng năm thứ 8 trước Công Nguyên).

    Ta nhíu chặt đầu mày săm soi bìa sách, đột nhiên tỉnh ngộ. Đúng rồi, người trong mộng của y – Đan Thành Lăng hiện giờ là Tướng quân, vì vậy mới đọc thơ chiến tranh trong Cao Thường Thị. Nhìn những chữ những câu ngập trong đao kiếm, gió lửa mù trời, tưởng tượng đến người giữa chiến trường ánh đao lửa khói. Ban nãy mới trông thấy cảnh Nam Minh xách bô trong sân, giờ mới cần phải đọc hai ba câu thơ để ôn lại một lần bộ dạng dũng mãnh thật sự của người trong mộng.

    Chút tâm tư cỏn con ấy, ta liếc mắt đã nhìn thấu ngươi rồi. Bản tiên quân âm thầm cười một tiếng, sau đó trả lại sách cho y, “Ngươi đã là người của bản công tử, chuyện cũ người xưa phải quên cho bằng hết, từ nay về sau, chỉ được phép nhớ một người là bản công tử, cùng với những chuyện xảy ra giữa hai ta thôi”.

    Thiên Xu nói: “Chuyện ấy khó mà làm được”.

    Ta không ngờ được y lại dám phản đối, nói: “Cái gì?”.

    Mộ Nhược Ngôn gấp quyển sách lại, ngẩng xéo đầu, đôi mắt trong trẻo lạnh lẽo liếc nhìn ta, nói: “Trái tim không theo ý bản thân, lại càng chẳng theo ý người ngoài, sao có thể nói không nhớ liền không nhớ. Nếu ta đồng ý, vậy không phải nói dối rồi sao?”.

    Không ngờ đứng trước mặt ta mà Mộ Nhược Ngôn lại nói ra được những lời bén nhọn như thế. Cái thứ gọi là “tình” này cũng thật lợi hại, tình nhân tới rồi, người cũng thay đổi.

    Ta cũng không cho đó là ngang ngược, cười một tiếng, thể hiện sự rông lượng của bản thân. Bản tiên quân kéo ghế ra, ngồi xuống trước bàn, rót một chén trà để uống, Mộ Nhược Ngôn đưa mắt liếc nhìn ống tay áo trái của ta một cái, sắc mặt thoáng chút hoài nghi. Lúc này ta mới nhớ ra cái món đồ chơi cưng cứng trong ống tay áo là thứ định mang tới cho Thiên Xu, bèn vội vàng lấy ra, dựng thẳng lên bàn.

    Ống trúc cao nửa thước, vỏ ngoài xanh biếc, trong ngoài đều được đánh cho nhẵn bóng. Ta mỉm cười, hỏi Mộ Nhược Ngôn: “Có thích không?”.

    Mộ Nhược Ngôn nhìn ngắm nó một lúc lâu, vẻ mặt có chút miễn cưỡng, nói: “Cái ống bút này quả thực rất giản dị, rất đáng yêu”.

    Ta đẩy nó lại gần Mộ Nhược Ngôn một chút, “Không phải ống cắm bút đâu, ngươi nhìn kĩ một chút đi”.

    Vẻ mặt Mộ Nhược Ngôn càng miễn cưỡng hơn, lại tỉ mỉ ngắm nghía một hồi, trầm ngâm không đáp. Ta dịu dàng cười, nói: “Mấy ngày nay thấy ngươi đọc Kinh Dịch chán rồi thì có thể bói một quẻ, ngươi có thích cái ống gieo quẻ này không?”.

    Mộ Nhược Ngôn cứng cả người, nhìn ống trúc trên bàn. Bản tiên quân rất đắc ý, từ xưa đến nay đã tặng đồ là luôn theo tôn chỉ: Đánh rắn phải dập đầu. Nhìn bộ dạng Thiên Xu, nhất định đang cảm động rồi.

    Ta lại dịu giọng nói: “Nếu ngươi còn muốn phê bát tự[7] cho người khác, từ trên xuống dưới vương phủ này, ngươi muốn phê cho kẻ nào ta sẽ lôi kẻ ấy về cho ngươi”. Mộ Nhược Ngôn há miệng định nói cái gì đó, rồi lại vén ống tay áo che miệng, bắt đầu ho khù khụ, ho được vài tiếng rồi mới đứt quãng nói: “Đa, đa tạ công tử đã hao tâm… ta chỉ thỉnh thoảng đọc chơi thôi, chứ không…”.

    [7]: Bát tự: Tám chữ gồm giờ ngày tháng năm sinh viết theo Thiên Can và Địa chỉ, là một cách xem số mệnh của Trung Quốc.

    Bản tiên quân đứng dậy, vuốt lưng cho y, bưng chén trà tới, cho y uống vài hớp, “Ta cũng chỉ tiện tay làm thôi, cũng không có tình có ý gì bắt ngươi phải gánh đâu. Ngươi thích nó thì cứ nhận lấy, dùng giải sầu là được rồi”.

    Y uống vài ngụm nước trà, cơn ho cũng dừng lại. Ta đặt chén trà xuống bàn, Mộ Nhược Ngôn nhìn chén trà đó, khổ sở nở một nụ cười.

    Ta nhặt quyển sách thơ rơi trên nền đất lên, đặt xuống bàn, trong bụng rỗng tuếch đấy, nhưng vẫn phải cố kiếm thứ gì mà nói: “Không ngờ ngươi lại đọc cái này. Ta vẫn cứ nghĩ ngươi thích đọc văn thơ của Vương Ma Cật[8] với Mạnh Tương Dương[9]”.

    [8]: Vương Duy (701-761), tự là Ma Cật, là người huyện Kỳ, Thái Nguyên, là đại biểu cho những thi nhân thời Thịnh Đường người công nhận là tổ sư văn học của thời kì Khai Nguyên, Thiên Bảo.

    [9]: Mạnh Hạo Nhiên (689-740), là nhà thơ thời Đường, là người Tương Dương , thế nhân gọi ông là Mạnh Tương Dương.

    Tuy rằng lúc ở trên thiên đình, mỗi lần có chuyện gì cần động chạm đến văn chương giấy mực, ví như hành lệnh[10], liên cú[11], hiến thơ các loại, đều phải nhờ vào Hoành văn mới qua được ải, nhưng thật ra lúc làm người phàm ta cũng đã từng đọc thơ ca, cũng có thể cùng người khác đàm đạo dăm ba câu.

    [10]: Hành lệnh: Còn gọi là chơi tửu lệnh, là một trò chơi góp vui trong tiệc rượu, tương truyền xuất hiện lần đầu tiên vào thời Tây Chu, chính thức trở nên phổ biến vào đời Tùy Đường. Hoạt động này rất phổ biến trong tầng lớp sĩ phu.

    [11]: Liên cú: Một trong những hình thức làm thơ thời xưa, gồm hai hay nhiều người, mỗi người làm một câu rồi ghép thành bài thơ.

    Mộ Nhược Ngôn nói: “Thơ Vương và Thơ Mạnh tuy rằng cao xa thanh bạch, nhưng thật ra một vị là phú quý sinh nhàn, còn một vị là nhàn mong phú quý. Chẳng bằng Cao Thích, trong lòng mưu cầu danh lợi, ngang nhiên thẳng thắn toan tính, lại thoải mái vô cùng”.

    Ta nói: “Cũng đúng, có điều người này tuy miệng thì nói rất hay, nhưng làm thì chẳng được bao nhiêu, thơ viết thì âm vang đấy, trên chiến trường lại không làm nên trò trống gì. Trên đời này, kẻ nói được làm được có mấy người? Phần lớn đều như Cao công mà thôi”. Sau đó ta vui vẻ quan sát đôi mắt của Mộ Nhược Ngôn, đợi y bàn luận sâu hơn, nhưng đối phương lại tránh ánh mắt của ta, không nói gì thêm nữa, cầm quyển sách trên bàn lên, đặt về lại án thư.

    Ta có phần chán nản, gượng gạo nói thêm vài câu khác, sau đó bèn lê bước ra khỏi phòng.

    Đông Quận Vương phủ mấy ngày gần đây đang do dự giữa vùng lên tự lập hay án binh bất động chờ thời, các cuộc nghị sự kéo dài liên miên không dứt. Hoành Văn bị trói chân cả ngày trời, không có được tí thời gian rảnh rỗi nào. Lúc ta đang luẩn quẩn trong viện, gặp phải Đan Thành Lăng tới bảy tám lần, hắn khi thì đang quét sân, khi thì trừ cỏ dại. Tâm tư của hắn cũng thật thâm trầm, hễ thấy bản tiên quân liền thỉnh an cực kì cung kính, ánh mắt chẳng để lộ nửa phần khác lạ. Hại ta cả ngày trời đều phải vùi đầu suy nghĩ, buổi tối nên lấy đao đâm vào chỗ nào của hắn thì thích hợp.

    Đến khi trời đã về chiều, ta rốt cuộc cũng đã trông thấy Hoành Văn, vẻ mặt hắn cực kì uể oải, thấp giọng nói: “Cái ông cha quận vương đó của ngươi quả là lằng nhằng có hạng, ngươi còn phải ở lại chỗ này thêm mấy ngày nữa. Ta chỉ sợ mình cứ hầu hắn dài dòng như thế, sớm muộn gì cũng có ngày không chịu nổi, dùng thiên lôi bổ cho hắn chết tươi”.

    Ta cười làm lành, nói: “Ngươi đừng nóng, ân tình ta nợ ngươi chờ về thiên đình sẽ từ từ trả, buổi tối hôm nay ta đâm Nam Minh cho ngươi xem giải sầu, được không?”.

    Hoành Văn nói: “Cả ngày hôm nay ngươi lại suy nghĩ xem nên đâm vào chỗ nào trên người Nam Minh chứ gì?”. Sau đó hắn dán sát lại bên tai bản tiên quân mà nói: “Vậy hôm nay ta sẽ tới phòng ngủ của ngươi chờ sẵn”.

    Nghe hắn nói xong bản tiên quân liền thấy ngứa ngáy cả người, cũng thấp giọng đáp: “Ngươi nói xem, ta đâm Nam Minh chỗ nào thì tốt”.

    Hoành Văn nói: “Tùy ngươi, thích đâm đâu thì đâm, đâm vào tim cũng được, dù sao hắn cũng không chết nổi, còn Mệnh Cách cơ mà. Lão không xử được thì còn Ngọc Đế, ngươi chỉ cần lo hạ đao là được”. Bản tiên quân nghe câu đó xong lại càng nóng ruột hơn, lao về Hàm viện như bay, chân không chạm đất.

    Đêm đến, ta ngồi bên mép giường, liếc mắt nhìn Hoành Văn đang khoan thai thong thả bên giường, nuốt ực một ngụm nước miếng, sau đó kiên trì vượt khó, nói với con người đang đọc sách dưới ánh đèn rằng: “Nhược Ngôn, cũng không còn sớm, tới đây ngủ cùng ta đi”.

    Lão già Mệnh Cách đã dặn đi dặn lại rằng, mỗi đêm trước khi đi ngủ, ta nhất định phải nói câu này với Thiên Xu, ta đây cũng là bị người khác ép bức thôi, có đúng không nào? Thế nên Hoành Văn à, ngươi có thể đừng trưng cái bộ mặt rất… không hiền hậu đó ra được không?

    Mộ Nhược Ngôn nghe câu nói đó cũng đã thành quen, thổi tắt nến ở gian ngoài, sau đó đứng đờ đẫn bên giường, cởi bỏ áo ngoài, tháo phát quan ra. Thân thể chỉ khoác một lớp áo trong màu trắng thuần, dưới ánh nến trông lại gầy mỏng manh đến lạ. Y đưa mắt nhìn giường, thân thể hơi cứng, nhưng chậm rãi lật chăn ra, nằm xuống.

    Trên giường chỉ độc một tấm chăn mỏng, bắt đầu từ buổi tối ngày hôm qua, bản tiên quân phải cùng Thiên Xu chung chăn mà ngủ.

    Hoành Văn dựa người vào trụ giường nói: “Ngươi không ngủ à?”.

    Toàn thân ta như đang bị cả đám như kim mảnh như lông bò đâm chi chít, không thể nào đứng trước mặt Thiên Xu lại quay ra nói chuyện với không khí được. Thưa thì không ổn, cười cũng chẳng xong, ta đành vác cái mặt mo mà cởi áo ngoài, xốc chăn lên, nhoài người thổi tắt cây nến trước giường, sau đó duổi thẳng người ra ngủ.

    Hoàn thành được cái quá trình này thật gian nan.

    Mộ Nhược Ngôn nhớ nhung tới Đan Thành Lăng, nghe tiếng thở cũng biết y đang trằn trọc, thao thức không yên. Hoành Văn lôi ta ra khỏi xác Lý Tư Minh, cười khẽ, nói rằng: “Đêm đêm cùng Thiên Xu chung gối cùng giường, có nảy sinh tình ý gì không đó”.

    Ta gượng cười: “Không phải vì Nam Minh đã tới, ta phải diễn cho tròn vở kịch này sao? Hôm qua mới bắt đầu ngủ chung thôi mà, chắc qua đêm nay không cần nữa”.

    Hoành Văn nói: “Cái câu nói trước khi ngủ ấy, nghe thân thiết nhỉ”.

    Da mặt ta run bần bật, đáp: “Mệnh Cách dạy ta đấy, không nói không được”.

    Phỏng chừng Hoành Văn cảm thấy chế nhạo ta thế là đủ rồi, liền không nói thêm gì nữa. Cùng ngồi trong phòng, Hoành Văn ngáp một cái, ta nói: “Cả ngày hôm nay ngươi đã vất vả rồi, cũng nên đi nghỉ sớm,hay ta cho ngươi mượn xác Lý Tư Minh, ngươi lên giường nằm chút đi”.

    Hoành Văn biếng nhác đáp lại: “Thôi thôi, cái giường đó ngươi đi mà nằm cùng Thiên Xu ấy, đừng để xảy ra thêm chuyện gì rắc rối. Ta cũng sợ nhập vào thì dễ, xuất ra lại khó”.

    Hai ta gà gật trước bàn, nghỉ ngơi trong chốc lát, lúc sắp canh ba, tiếng gió thổi vi vu, có một bóng đen quét qua song cửa sổ. Một lưỡi dao mỏng len qua khe cửa, đẩy then cài ra, hai cánh cửa im lặng tách ra một khe nhỏ, một luồn gió đêm thổi qua đó, bản tiên quân cùng Hoành Văn tức khắc tỉnh cả người. Nhìn bóng đen kia khẽ khàng lẻn vào phòng. Đan tướng quân, rốt cuộc ngươi cũng chịu ra tay rồi!!!

    Bóng đen khom chân mà đi, lần theo ánh trăng mò vào trong phòng , tiếp cận giường ngủ. Trong bóng đêm, binh khí trong tay hắn lấp lóe thứ ánh sáng lạnh người, ta và Hoành Văn đứng bên vách ngăn, bản tiên quân không nhịn được mới nói: “Một cái giường có hai người ngủ , trời thì tối như hũ nút thế này, làm sao hắn phân biệt được ai là Thiên Xu ai là ta? Lăm lăm vũ khí như thế mà không sợ đâm nhầm người sao”.

    Lời còn đang ra khỏi miệng Nam Minh đã đứng trước giường, trong tay đột nhiên sang rực, thì ra là môt viên dạ minh châu to cỡ quả trứng chim bồ câu. Tay còn lại dùng mũi đao vạch màn giường ra, Thiên Xu đang ngủ ở phía giường mà hắn đứng, Nam Minh cầm dạ minh châu soi một cái, liền trông thấy Mộ Nhược Ngôn.

    Ta cùng Hoành Văn phiêu đãng tới đầu giường thò cổ ra nìn, Mộ Nhược Ngôn nằm ở trong màn cứ như có cảm ứng, đột nhiên ngồi bật dậy, trong ánh sáng của dạ minh châu, đôi uyên ương bốn mắt nhìn nhau, nhất thời mải miết đến ngây người. Hai người này đúng là chẳng sợ bản tiên quân, tức Lý tam công tử đang ngủ ngay bên cạnh đột nhiên tỉnh giấc.

    Hoành Văn nói: “Cũng đến phiên ngươi rồi, còn không về mà bò dậy đi?”.

    Ta nói: “Không vội không vội”.

    Một tay Đan Thành Lăng nắm chặt lấy cổ tay Mộ Nhược Ngôn, kéo y xuống giường, tay còn lại giơ cao đoản đao sắc nhọn, nhắm về phía trong giường, đâm thẳng xuống, nhưng lại bị Mộ Nhược Ngôn giơ tay cản lại: “Đừng làm tổn hại đến tính mạng của hắn”.

    Đan Thành Lăng nói: “Vì sao?”. Hai chữ rét lạnh như nghìn vạn mũi đao băng.

    Sao mà dài dòng thế!!! Hai vị, chạy trốn quan trọng hơn.

    Nhưng mà hai vị này lại không muốn chạy, cứ thích dông dài. Mộ Nhược Ngôn nói: “Hắn chưa làm gì ta cả, cũng không phải là người xấu”. giọng điệu nhẹ như không, cứ như đang nói về một cây cải trắng.

    Hoành Văn nói: “Thiên Xu đối với ngươi thật là… rất có tình nha”.

    Đan Thành Lăng lạnh lùng nói: “Ngươi không muốn ta động thủ, là vì lo lắng cho cái mạng của hắn, hay là vì sợ làm bẩn đao của ta?”.

    Thiên Xu lặng yên, không nói một lời.

    Đan Thành Lăng cười lạnh một tiếng, sau đó đột nhiên cao giọng nói: “Trước giường ồn ào cả buổi như thế, các hạ tuy rằng giấu đi hơi thở, kì thực đã sớm tỉnh rồi. Sao lại không ngồi dậy mà nói mấy câu?”.

    Đến lúc bản tiên quân lên sân khấu rồi đây. Ta nhập vào xác Lý Tư Minh, điều hòa hơi thở.

    Cao nhân đối đầu, khí thế phải đầy đủ, vững vàng. Cho nên ta thong thả mở hai mắt ra, chậm rãi ngồi dậy, từ từ mò đá lửa, đốt nến lên, lại ung dung bước vòng ra từ bên kia của cái giường.

    Thong thả ngẫm nghĩ xem, ban nãy ta giấu cây đao thép ở chỗ nào.

    Dạ minh châu đã bị Đan Thành Lăng nhét vào trong ngực, bàn tay trải nắm chặt lấy cổ tay Mộ Nhược Ngôn, bản tiên quân cùng hai người đối diện đưa mắt nhìn nhau, có vui, có buồn, cũng có ưu tư.

    Ta đối xử với Thiên Xu như thế, y lại thay hắn chặn một đao lấy mạng của ta, đây là vui.

    Ta đối xử với Thiên Xu như thế, y lại nói bản tiên quân không phải người xấu, nếu không phải trình độ diễn kịch của ta chưa đủ điêu luyện, thì là đầu óc của y có vấn đê, đây là buồn.

    Còn về cái sự ưu tư…

    Hoành Văn đứng sau lưng ta, nói: “Đao của ngươi đang dựng đứng trong cái bình hoa lớn chỗ góc tường ấy”.

    Bản tiên quân lập tức nói: “Các hạ vào phòng lúc nửa đêm, ta lại không kịp thời nghênh đón, thật thất lễ. Ban ngày, công việc của gia đinh vừa nặng vừa dơ bẩn lại tạp nham, quả thật đã khiến Đan tướng quân chịu ấm ức, trong lòng ta vô cùng xấu hổ. Nhưng không biết Đan tướng quân nửa đêm nửa hôm, đem người của ta kéo xuống khỏi giường, là định làm gì?”.

    Ta cười mỉn, chắp tay, thong thả lại gần cái bình hoa, lôi cây trường đao không vỏ ra.

    Đan Thành Lăng nói: “Vốn ta cũng không định xuống tay, dùng lưỡi đao này lấy tính mệnh của ngươi chỉ tổ làm bẩn nó. Thôi được, coi như cho tên súc sinh nhà ngươi cơ hội giãy giụa trước khi chết”. Hắn quét mắt nhìn ta, vô cùng khinh miệt, “Hơn mười tên hộ vệ bên ngoài cửa đều ngã hết rồi, có vẻ không trông cậy được gì nữa đâu”.

    Ta nói: “À”.

    Không trông cậy được gì? Có Hoành Văn ở đây, dù bị Hắc Bạch Vô Thường tóm cổ ta cũng dư sức đòi về được, huống gì chỉ là bị đánh cho ngất xỉu. Ta nói: “Chúng ta ra vườn đọ sức chứ?”.

    Đan Tướng Quân sải bước như bay, vui vẻ rời phòng, bản tiên quân thừa dịp liếc Mộ Nhược Ngôn một cái, sắc mặt y trắng bệch, xoay người, cũng bước ra vườn, không nhìn ta lấy một lần.

    Dưới vầng trăng sáng vằng vặc, bản tiên quân đứng trong sân nói một câu “Đắc tội”, sau đó quát ầm lên: “NGƯỜI ĐÂU!!!”. Hơn mười gã hộ vệ lao ra khỏi bóng đêm, bao vây Thiên Xu và Nam Minh. Binh khí chạm nhau, “keng” một tiếng, ánh kim loại loang loáng giao nhau.

    Ta đứng ở ngoài vòng chiến, giương mắt coi náo nhiệt, chỉ cần đợi lúc Nam Minh run tay, lao ra cho hắn một đao là êm chuyện.

    Hoành Văn vừa mới ra khỏi phòng,sau khi cứu tỉnh hộ vệ, liền đứng ở trong sân, từ xa quan sát cuộc chiến, nói rằng: “Chiêu này của ngươi thật là thất đức”.

    Ta cũng chỉ bất đắc dĩ thôi mà. Bản tiên quân lúc này đang nhập xác người phàm, làm sao mà địch nổi mãnh tướng oai phong hùng dũng như Đan Thành Lăng, chỉ có cách dùng hộ vệ kéo ngã hắn, sau đó dùng dao đâm hắn mới đảm bảo được.

    Bản tiên quân vốn đã dặn dò các hộ vệ không được làm Mộ Nhược Ngôn bị thương, đao kiếm chỉ có thể nhào vào “thăm hỏi” thân thể Đan Thành Lăng, rất là gò bó. Đan Thành Lăng một mình đọ với mấy mình, ấy thế mà vẫn nhanh nhẹn còn thừa. Vừa chống đỡ vừa lùi lại, hắn đã sớm thăm dò cẩn thận đường rút, ra khỏi Hàm viện, cùng Mộ Nhược Ngôn lách qua cánh cửa nguyệt[12] của hậu hoa viên, sau hòn non bộ có một bức tường, mặt ngoài là một con hẻm không người. Hộ vệ đang đi tuần tra trong chính viện nghe thấy tiếng động liền vội vàng chạy tới, người càng lúc càng nhiều. Đan Thành Lăng giật lùi liên tục, hết đánh bên trái lại chặn bên phải, dần dần lâm vào cảnh lực bất tòng tâm. Lúc hắn lùi đến bức tường kia, trên người đã có bốn năm vết thương nhẹ.

    [12]: Cửa nguyệt: Là một loại cửa có lối đi hình tròn (trông giống hình trăng tròn) ở giữa, phía trên có lợp ngói. Cửa nguyệt không có tác dụng đóng mở mà giữ vai trò là một vật bài trí, điểm tô cho kiến trúc.

    Bản tiên quân nhắm chuẩn một khắc khi Đan Thành Lăng sơ sẩy, nắm chặt lấy trường đao, lách người vào đám đông.

    Đan Thành Lăng tay phải vung đao cản vài mũi trường thương, tay trái vung chưởng đánh lùi đợt tấn công lao tới từ bên kia. Phía trước ngực mở cửa đón chào mũi đao của bản tiên quân nhắm thẳng, rất nhân đạo mà lao về phía ngực phải của hắn, năm tấc… bốn tấc… ba tấc. Đến khi chỉ còn hai tấc nữa thì có một bóng người chợt lóe lên trước mắt, phần ngực bản tiên quân sao đột nhiên lạnh toát.

    Ta kinh ngạc cúi đầu, là một cây trường thương, mũi thương đâm vào ngực trái của ta, đầu kia của cán thương là một đôi tay, gầy gò, dài mảnh, dường như chẳng có chút sức lực gì đáng kể, ta đã từng nắm qua rồi, cảm giác xương xương.

    Cũng trong khoảnh khắc thảng thốt ấy, một luồng gió mạnh vù vù lao tới, ánh bạc lóe lên, hình như là lưỡi đao mỏng của Nam Minh.

    Cảm giác lạnh lẽo giờ đã “trèo” lên cổ.

    Mệnh cách lại viết tắt trong sổ thiên mệnh rồi…

    Keng một tiếng, cảm giác mát lạnh kia lại biến mất. Đao mỏng của Đường Thành Lăng kề ngang cổ ta, bất động, bởi vì một thanh trường kiếm phủ ngập ánh xanh đang gác trên cổ Mộ Nhược Ngôn, trường sam màu lam nhạt hơi lay động trong gió, “Ngươi thả hắn ra, ta sẽ để ngươi và Mộ Nhược Ngôn bình an vô sự ra khỏi vương phủ”. Hoành Văn à, làm người thì không nên huênh hoang khoác lác quá, ngươi hiện thân cũng không sao, nhưng cái thanh kiếm ấy có vẻ sáng hơi quá rồi đấy.

    Đám hộ vệ nắm binh khí trong tay, không dám làm bừa, Đan Thành Lăng nhướng mày nhìn Hoành Văn, “Các hạ có thể làm chủ chuyện này được sao?”.

    Hoành Văn nói: “Đương nhiên có thể”. Sau đó quay đầu, nói với đám hộ vệ: “Bỏ binh phí ngay tại chỗ, sau đó lùi ra bên ngoài hoa viên”.

    Triệu tiên sinh đang là tâm phúc của Đông Quận Vương, đám hộ vệ cũng coi như nhanh trí, buông binh khí xuống, lùi về phía cửa nguyệt.

    Lưỡi đao rời khỏi cổ của bản tiên quân, Hoành Văn thu tay, cũng rút kiếm khỏi cổ Mộ Nhược Ngôn, mềm giọng nói: “Ngôn công tử, mũi thương cũng đã đâm vào rồi, cũng nên buông tay ra rồi nhỉ?”.

    Hai tay nắm cán thương buông lỏng, Hoành Văn dùng một tay đỡ lấy lưng ta, thấp giọng nói: “Còn gượng được đúng không?”. Trong khoảnh khắc đó, vẻ mặt hắn rất chi là đồng cảm.

    Ta hít một hơi lạnh, thều thào đáp: “Ừ, có điều… đau quá trời ơi, khụ khụ…”.

    Mệnh Cách, ta XXX lão, cái lão Mệnh Cách XXX!!!

    Đan Thành Lăng nheo mắt nhìn Hoành Văn, nói: “Ban nãy tại hạ hoàn toàn không pháy hiện ra các hạ lại gần, công phu quả thực hơn người”.

    Nói thừa, hắn nhân lúc hỗn loạn để thi triển pháp thuật, hiện thân trong nháy mắt, một tên người phàm như ngươi có thể phát hiện ra mới là chuyện lạ.

    Hoành Văn làm bộ tùy ý nói: “Các hạ quá khen”.

    Đan Thành Lăng khẽ nở nụ cười, nói: “Phong thái của các hạ cũng khiến tại hạ khâm phục vô cùng, không biết danh húy[13] của các hạ là gì?”.

    [13]: Thời cổ, danh húy dùng để chỉ tên của vua chúa, bậc trưởng bối hoặc những người được tôn kính. Gặp những người như thế, không những không thể gọi thẳng tên, đến lúc viết cũng không được sử dụng những từ này. Vì vậy, phải dùng đến những biện pháp như sửa chữ, sửa âm, hoặc lược bớt những nét viết của chữ, hiện tượng này được gọi là Kỵ húy hoặc kiêng húy.

    ©STE.NT

    Hoành Văn liền nói: “Được Đan tướng quân hỏi đến, thật lấy làm vinh hạnh, tại hạ Triệu Hoành”.

    Không ngờ Đan Thành Lăng cũng chắp tay nói: “Ngày hôm nay Đan Thành Lăng được Triệu công tử chỉ giáo, mong rằng sau này sẽ lại có dịp luận bàn cùng công tử”. Một tay của Hoành Văn còn đang chống sau lưng của bản tiên quân, hắn vẫn đứng yên tại chỗ, khẽ gật đầu.

    Đan Thành Lăng lại nheo mắt nhìn Hoành Văn đầy thâm thúy, sau đó cùng Thiên Xu xoay người, Thiên Xu quay đầu nhìn lại, từ lúc bị thương đâm trúng tới giờ bản tiên quân chưa hề quan sát tới gương mặt y, giờ này trông thấy, sắc mặt y vẫn như xưa, không dễ đoán được điều gì, đôi mắt đen kịt nhìn ta, nói: “Xin lỗi”.

    Ta cố lấy chút sức lực nói: “Không có gì, đáng đời ta thôi…”. Mà đúng là đáng đời ta thật.

    Ánh mắt của Mộ Nhược Ngôn lóe lên một cái, sau đó quay mặt lại. Đan Thành Lăng cùng y nhảy lên bức tường vây, chìm mình vào bóng đêm.

    Bản tiên quân ngồi phịch xuống đất, nghe thấy quanh người nhốn nháo ồn ào náo động, hẳn là cha già cùng hai vị huynh trưởng của Lý Tư Minh đã nghe thấy tin tức mà chui ra khỏi chăn, không biết có dẫn theo đại phu không nữa.

    Hoành Văn nhỏ giọng nói: “Trước mắt ngươi cố gắng chịu đựng một chút nhé, đợi ta tránh ra một chỗ không người sẽ kéo ngươi ra”.

    Bản tiên quân thở hổn hển, cười khổ nói: “Không được… kéo ra… bị thương ra thế này rồi… Ngươi mà kéo ta ra thì Lý Tư Minh… chết chắc… Ta phải ở bên trong mà chống đỡ”.

    Hoành Văn lạnh giọng nói: “Đáng đời nhà ngươi”.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:57
  9. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 8

    Mời đọc
    Lão già Mệnh Cách viết trong quyển sổ thiên mệnh của lão thế này:

    Buổi đêm, Đan Thành Lăng cứu Mộ Nhược Ngôn, Lý Tư Minh biết được. Đánh nhau, vì Mộ Nhược Ngôn mà trọng thương, trốn thoát.

    Mệnh Cách vân vê chòm râu, lặng lẽ cười, nói với bản tiên quân: “Nguyên quân xem, quả thực ta viết rất rõ ràng mà, có đúng không nào?”.

    Ta lẳng lặng không nói lời nào. Dù sao thì Lý Tư Minh đã biến thành một cái xác cứng đờ như đá rồi, chuyện bị chậm trễ cũng là chuyện Ngọc Đế sai làm, mà nhiệm vụ bị lỡ cũng chẳng trách ta được. Mà dù gì giờ cũng đang đứng trên điện Linh Tiêu rồi, lão già Ngọc Đế có thể tự mình định đoạt.

    Một thương đó của Thiên Xu đúng là đánh bừa mà trúng, đâm chéo vào trong lồng ngực, xuyên qua tim của Lý Tư Minh, có cố ý đâm cũng chả chính xác được như thế. Tim cũng làm từ thịt, một mũi thương lớn như thế đâm vào, trong khoảnh khắc mạch máu vỡ tung, làm gì có chuyện không hỏng cho được? Trái tim co giật được mấy lượt liền hoàn toàn bất động. Sở dĩ Lý Tư Minh còn chống chọi được đến giờ, đều là nhờ bản tiên quân cố thủ trong xác phàm chịu đau khổ.

    Bản tiên quân khổ nỗi vẫn không dùng được phép tiên, nhưng có Hoành Văn ở đó, đáng lí ra dù có mười quả tim bị đâm cho nát bét, thì chỉ cần phẩy tay một cái cũng có thể biến nó trở lại tươi mới, đập bình bịch như thường. Có điều giờ phút ấy Hoành Văn vẫn là Triệu tiên sinh, trước mặt bao nhiêu người làm sao thi triển phép tiên được. Đầy tớ trong vương phủ nhào tới trong nháy mắt, đẩy Triệu tiên sinh sang một bên, khiêng ta vào phòng ngủ. Vài đại phu luân phiên bắt mạch cho ta, đều hoảng hốt cả người, hệt như vịt bị sét đánh đen thui, kinh hoàng không nói được một câu, cả người run lẩy bẩy.

    Kể cũng tội cho bọn họ, người không còn mạch đập nữa mà cứ trợn tròn con mắt lên, nói chuyện như đang sống, thử hỏi cõi phàm này được mấy ai có duyên nhìn tận mắt?

    Đông Quận Vương hỏi: “Con ta thế nào rồi, còn cứu được hay không?”.

    Cả đám đại phu run như cầy sấy, bản tiên quân nhìn bọn họ run đến đáng thương, liền nằm trên giường nói chen vào: “Cha… Xin đừng làm khó người ta, đành phó mặc cả cho ông Trời thôi”.

    Lý Tư Nguyên lau nước mắt: “Cha, người cũng đừng lo lắng quá, tam đệ không phải còn đang an ủi người sao, trông vào phần hiếu tâm ấy, ông trời cũng sẽ phù hộ cho đệ ấy…”.

    Nói đến từ cuối, Lý Tư Nguyên cũng nghẹn lời.

    Già trẻ nhà họ Lý đứng trước giường bản tiên quân khóc nức nở. Đông Quận Vương sụt sùi: “Súc sinh, đúng là nghiệp chướng”. Lý Tư Hiền và Lý Tư Nguyên khóc: “Số tam đệ thật là khổ”, đến cả hai vị đại phu nhân của Lý Tư Hiền với Lý Tư Nguyên cũng đứng ở đầu giường lấy áo làm khăn lau nước mắt: “Số chú út thật khổ”.

    Khóc đến độ ta cảm động vô cùng, thế tục hồn trần hỗn loạn tầm thường, một chút tình thân cũng đủ khiến người ta ấm lòng đến lạ.

    Nói đến Hoành Văn, sao giờ vẫn chưa đến chữa trị cho ta? Trơ mắt đứng nhìn ta ở chỗ này bị đau đớn giày vò, hắn cũng thật không niệm tình cũ nghĩa xưa gì cả.

    Ta còn đang nghĩ ngợi, bỗng thấy toàn thân bồng bềnh nhẹ bẫng, chậm rãi bay lên. Ta giật thót mình, chuyện này không đùa được đâu! Giờ này phút này kéo ta ra, có định để cho Lý Tư Minh sống nữa không đây!!!

    Bản tiên quân còn đang định giãy giụa, một giọng nói ồm ồm vọng xuống từ trên đỉnh đầu: “Tống Giao Nguyên quân, tiểu tiên là Nhật Du Thần[1], Ngọc Đế có chỉ, sai tiểu tiên dẫn Nguyên quân gấp rút về thiên đình một chuyến”.

    [1] Nhật Du Thần,là một vị thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc,phụ trách việc đi tuần tra vào ban ngày,giám sát việc thiện ác của nhân gian,còn được gọi là Nhật Du Tuần.

    Thì ra là bởi vì lần này thiên mệnh sai lệch quá lớn, lại để cho Nam Minh cứu được Thiên Xu đi mất, Ngọc Đế bắt đầu nổi giận. Ngài ngồi trên điện Linh Tiêu, lôi cổ ta và lão già Mệnh Cách ra hỏi chuyện. Hoành Văn đứng ở một bên trong vai trò nhân chứng phụ.

    Ngọc đế hỏi: “Sao chuyện lại thành ra như thế?”.

    Bản tiên quân đứng trên điện, ung dung bình tĩnh, lý luận rằng: “Ngọc Đế anh minh, Tống Dao lần này xuống trần gian, việc nào cũng làm theo đúng lời Người giao phó. Nhưng chuyện nào chuyện ấy xảy ra cũng khác hẳn với những gì được dặn dò, chịu khổ sở, chẳng phải việc gì to tát, không cần nhắc tới làm gì. Ngọc Đế minh giám vạn sự thị phi đúng sai, nhất định có thể phân xử công bằng”.

    Ta liếc mắt nhìn Mệnh Cách, lão lau mồ hôi hột xong liền thấp tha thấp thỏm đứng trước mặt Ngọc Đế thỉnh tội, sau đó lại mở quyển sổ thiên mệnh ra cho bản tiên quân coi, liên tục cười làm lành cùng nhận lỗi. Lý lẽ về ta, bản tiên liền thuận tay làm phúc cho Mệnh Cách một lần, “Bẩm Ngọc Đế, trần gian có một câu nói, ấy là: Chuyện vặt khó tránh, vận mệnh khó lường. Mệnh Cách Tinh quân cai quản vô số thiên mệnh, vụn vặt lại phức tạp, ngẫu nhiên có vài sơ sót cũng là chuyện khó tránh khỏi. Nam Minh cũng chỉ cướp lại được Thiên Xu mà thôi, lo gì không chia tách được hai kẻ phàm trần, chúng ta cứ chờ xem diễn biến sau này là được”.

    Ngọc Đế trầm ngâm chốc lát, liền gật đầu phán: “Nói rất hay, cứ chờ xem diễn biến sau này”. Kế đó vẻ mặt ông ta thả lỏng hẳn ra ,mỉm cười, “Tống Dao à, ta chỉ còn trông vào biểu hiện sau này của ngươi thôi đấy”.

    Ta cười xòa, đáp: “Ngọc Đế, tiểu tiên thực sự làm việc không ổn thỏa, lần này Nam Minh mang được Thiên Xu đi, hơn nửa nguyên nhân là do tiểu tiên bất tài vô dụng, Ngọc Đế có thể…”. Ta đưa ánh mắt về phía Hoành Văn, âm thầm ra dấu, bảo hắn nói đỡ cho ta một lời, “Có thể chọn bậc hiền tài khác hay không?”.

    Hoành Văn chưa kịp làm gì, Ngọc Đế trên cao đã mở lời: “Ngươi ở dưới trần gian làm việc rất tốt, mỗi lần trẫm cùng Vương Mẫu rảnh rỗi nói đôi câu chuyện phiếm, Vương Mẫu cũng có khen ngươi làm việc chu toàn. Ngươi trợ giúp tiên hữu vượt qua được chướng ngại trần tục, sau khi thành công trở về thiên đình, bổng lộc nhất định sẽ tăng thêm một bậc”.

    Ta vội vàng nói thần không dám, thần không dám. Lời còn chưa dứt, đã có người của Thiên Giam Tư tới, nói có việc bẩm báo với Ngọc Đế, đá bay chúng ta ra khỏi điện Linh Tiêu. Bản tiên quân túm lấy Mệnh Cách: “Tinh quân này, từ giờ trở đi, trên sổ thiên mệnh ngài phải viết về ta tử tế hơn chút đấy”.

    Mệnh Cách Tinh quân cười đến độ những nếp nhăn trên mặt xô hết cả vào nhau: “Hôm nay được Nguyên quân dành cho những lời tốt đẹp, nhất định là thế, nhất định là thế. Chỉ có điều trên trời một ngày dưới đất đã một năm, đã mất khá nhiều thời gian rồi, nếu Nguyên quân không tức tốc về ngay, chỉ sợ…”

    Bản tiên quân lo cuống cuồng, túm lấy Hoành Văn, vội vàng lao về phía Nam Thiên Môn.

    Hoành Văn bị ta lôi đi, không nhanh không chậm nói: “Sao vội thế?”.

    Ta cười khổ: “Còn không vội nữa thì mộ của Lý Tư Minh sắp xanh um cỏ mất”.

    Kết quả…

    Bản tiên quân cùng Hoành Văn lao xuống trần cũng coi như nhanh chóng.

    Còn chưa đến nỗi trông thấy một ngôi mộ xanh biếc cỏ thơm.

    Bùn đất trên mộ của Lý Tư Minh vẫn còn ẩm ướt, bia đá mới tinh.

    Cùng lắm mới qua thất đầu[2] thôi.

    [2]: Thất đầu: Ngày thứ bảy sau khi chết.

    Hoành Văn thong thả bước quanh nấm mộ, “Đã cho vào trong quan tài đem chôn rồi, làm sao bây giờ?”.

    Ta nói: “Đành chịu vậy, đợi đến nửa đêm đào mộ lên coi thử, xem xác Lý Tư Minh đã rữa hay chưa, còn dùng được nữa không?”.

    Nửa đêm, trăng sáng, bản tiên quân cùng Hoành Văn lôi cổ thổ địa lên, tách nấm mộ, cạy nắp quan tài của Lý Tư Minh ra, Lý Tư Minh mặc trên người một tấm áo dài làm từ tơ lụa tốt nhất, nằm trong quan tài. Bên trong đó có chôn theo rất nhiều vàng bạc, đồ cổ. Trời đang mùa thu, vạn vật cũng khó phân hủy hơn. Xác Lý Tư Minh còn chưa rữa, chỉ có vài con bọ ăn xác chết đang bò tới bò lui qua lỗ tai, lỗ mũi. Gió nhẹ thổi qua, mùi thối của xác người tỏa ra bốn phía. Ta dùng ống tay áo che kín gương mặt của Hoành Văn: “Vật ô uế, vật ô uế, ngươi mau quay đầu lại đi”.

    Hoành Văn vén ống tay áo của ta lên, cười nói: “Hắn cũng đã từng là ngươi, giờ thành ra thế này ta cũng không cảm thấy gì đâu”. Đậy nắp quan tài lại, ta quay sang nói với thổ địa một câu: Đã làm phiền, sau đó khép mộ lại.

    Lý Tư Minh đã hết dùng được rồi, đành về Thiên đình nghĩ cách khác thôi.

    Ta đứng trước mộ mân mê tấm bia đá, phía dưới bia có xây một cái bệ bằng đá xanh nho nhỏ, dùng để bày đồ cúng. Trên bệ có một bình rượu và một vài cái chén chưa dọn đi, rượu trong chén vẫn còn đầy, trong vắt nhìn thấy đáy, dường như vừa được rót hôm nay. Không ngờ sau khi Lý Tư Minh chết đi , nhân duyên cũng không đến nỗi nào.

    Ta và Hoành Văn cưỡi mây trở lại Thiên đình, lên đến lưng chừng trời, ta cúi đầu nhìn xuống dưới, nơi chôn Lý Tư Minh là phần mộ tổ tiên của Đông Quận Vương gia – một mảnh đất dày đặc những nấm mồ. Bản tiên quân không kìm lòng được, cảm khái trào dâng: “Năm đó nếu không phải ta may mắn ăn được tiên đan, không biết bao nhiêu năm sau cũng kết thúcbằng một cỗ quan tài trong nấm mộ, để cho lũ bọ ăn xác bò tới bò lui, dần dần tan biến trong bùn đất. Linh hồn về dưới trướng Diêm Vương, luân hồi hết kiếp này qua kiếp khác, không biết đến ngày này tháng này đã luân hồi thành bộ dạng gì”.

    Hoành Văn liếc mắt nhìn ta, hít ngược một hơi, nói: “Chua xót quá nhỉ”.

    Sau khi trở về thiên đình, bản tiên quân liền chạy thẳng tới Tây Thiên Môn.

    Thiên đình có bốn Thiên Môn, Nam Thiên Môn thông tới hiện nay, Tây Thiên Môn dẫn về quá khứ, Đông Thiên Môn tiến đến tương lai, Bắc Thiên Môn có thể kết nối tới tất cả các thế giới.

    Bản tiên quân định bụng đi qua Tây Thiên Môn, trở về thời điểm lúc Lý Tư Minh vẫn còn đang nằm trên giường để đại phu chẩn bệnh. Nhật Du Thần mới kéo chân thân của ta ra, Lý Tư Minh vừa tắt thở, trong khoảnh khắc ấy bản tiên quân sẽ nhập lại vào xác hắn, Hoành Văn biến quả tim bị đâm nát bét đó trở lại trạng thái ban đầu, thế là êm chuyện.

    Nguyên soái Công Trương – người đang túc trực trước Tây Thiên Môn ngăn bản tiên quân lại, “Nguyên quân mới trở về từ điện Linh Tiêu, chẳng lẽ không nghe nói gì sao? Các vị ở Thiên Giam Tư đã bẩm báo với Ngọc Đế, Tây Thiên Môn bị sập, đang trong quá trình tu sửa, tạm thời không thể sử dụng được”.

    Ta buộc lòng phải tới Bắc Tiên Môn, Bắc Tiên Môn có thể nối được tới tất cả các thế giới, coi như là cánh cổng dự phòng khi các cổng khác được tu sửa.

    Phía trước Bắc Thiên Môn cũng đã đứng đầy một đám thần tướng, ồn ào huyên náo, tới tới lui lui.

    Trong các vị thần tiên ấy có cả Thái Bạch Kim Tinh.

    Ta lại gần cất lời chào hỏi, sau đó thò đầu trông Bắc Thiên Môn im lìm đóng chặt. Thái Bạch Kim Tinh nói: “Chẳng lẽ Tống Dao Nguyên quân cũng muốn đi qua Bắc Thiên Môn? Không đi được rồi, chìa khóa không còn nữa”.

    Ta giật mình nói: “Sao lại không còn nữa?”.

    Kim Tinh thở dài thườn thượt, nói rằng: Ngày hôm qua Bích Hoa Linh quân có tới Bắc Thiên Môn, lúc đó thần tướng canh cửa đang chơi cờ thế là Bích Hoa Linh quân liền tự mình lấy chìa khóa mở cửa. Sau khi ngài ấy ra khỏi Bắc Thiên Môn, thần tướng liền khóa cửa lại, khóa xong mới nhớ chìa còn đang nằm trong tay Linh quân ở bên cánh cửa. Bích Hoa Linh quân tới chỗ Đức Phật Nhiên Đăng ở Tây Phương để dự pháp yến, phải đợi đến khi tiệc tan, mới đi qua trần giới, vòng qua Nam Thiên Môn trở lại thiên đình, lúc đó Bắc Thiên Môn mới mở ra được.

    Ta hỏi, vậy dự tính phải đợi đến khi nào, lời của Thái Bạch Kim Tinh quả thực khiến ta tuyệt vọng hoàn toàn, “Chắc cũng tầm một hai chục ngày”.

    Một hai chục ngày, một hai chục năm. Lúc đấy Thiên Xu Tinh quân với Nam Minh Đế quân cũng sắp đầu bạc răng long rồi.

    Ta thở dài nói với Hoành Văn: “Mệnh, đây đúng là số mệnh mà! Bẩm báo Ngọc Đế thôi, vừa đẹp, ta và ngươi có thể mặc kệ về phủ đánh một giấc”.

    Hoành Văn ngáp một cái, nói: “Được. Ta cũng thấy hơi mệt rồi đây. Thế đến phủ ngươi uống rượu rồi ngủ hay đến phủ của ta?”.

    Nói là nói thế, chứ Ngọc Đế đời nào chịu tha cho ta. Hai ta mới đi được nửa đường tới điện Linh Tiêu, đã thấy Mệnh Cách Tinh quân đứng chờ sẵn:

    “Thanh quân, Nguyên quân, chuyện hạ giới Ngọc Đế đã biết hết rồi. Thiên Xu và Nam Minh hiện đã rời khỏi thành Thượng Xuyên, đang trên đường về Nam Quận, vài ngày sau sông Trường Giang nổi cơn sóng lớn, đoàn người bọn họ sẽ bị kìm chân ở một quán trọ tại bến đò Chu Gia. Trước mắt đang có một xác phàm – vốn là một đạo nhân dạo chơi khắp chốn đang ở tạm tại một đạo quán trong thành Thượng Xuyên, tuổi thọ đã hết, hồn về địa phủ. Thân xác ấy Nguyên quân vẫn có thể sử dụng được. Việc không thể chậm trễ, xin Nguyên quân hãy mau tới Nam Thiên Môn”.

    Trời sáng, ánh mặt trời ấm áp, bản tiên quân tỉnh lại trên một chiếc giường được ghép lại từ mấy tấm ván gỗ, trong một căn phòng bụi bặm sơ sài, cánh cửa xiêu xiêu vẹo vẹo sắp mục hết đến nơi.

    Lúc này, cánh cửa mục nát đang bị người ta đập ầm ầm, “Quảng Vân Tử!!! Quảng Vân tử!!! Pháp hội cúng ngũ thất[3] của Tam công tử vương phủ sắp bắt đầu rồi, nếu không đi là không kịp nữa đâu!!!”.

    [1]: Theo truyền thống xưa, những nghi thức cúng bái sau khi một người đã qua đời như sau: Lúc người vừa chết gọi là Tố Thất, sau đó cứ cách bảy ngày cúng một lần, là Đầu Thất, Nhị Thất, Tam Thất, Tứ Thất, Ngũ Thất, Lục Thất và Đoạn Thất.

    Ồ, thì ra lão đạo sĩ đoản mệnh này tên là Quảng Văn Tử. So với phong hàm Quảng Hư Nguyên quân của ta cũng được một chữ giống nhau.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:57
  10. 251
    1,118
    168
    Tùy Nhã

    Tùy Nhã
    Hỏa Dịch Đường

    Tham gia ngày:
    25/6/16
    Chương 9

    Mời đọc
    Quảng Vân Tử, người này phỏng chừng năm mươi chưa tới, nhưng bốn chục lại thừa. trong khoảnh khắc khi mở mắt ra, ta liền ngửi thấy ngay một thứ mùi hôi hám, làm bản tiên quân xây xẩm mặt mày, thứ mùi ấy như đang nói lão đạo sĩ đã lâu lắm rồi chưa tắm rửa.

    Ta đưa tay sờ soạng, dưới cằm có râu, tương đối dài, chạm vào thấy dính dính. Nhấc lên nhìn, lại bắt gặp một con bọ đang xông pha ngang dọc giữa những kẽ hở của túm râu dày đặc, dường như đang kiếm ăn, quả thực ta không “đành lòng” mở mắt ra nhìn tiếp.

    Hoành văn lơ lửng trên không ném cho ta một câu: “Lão đạo sĩ nhếch nhác hôi hám như thế này, đừng hi vọng ta sẽ ở cạnh ngươi, khi nào tắm rửa sạch sẽ xong ta lại tới”. Sau đó liền không thấy tăm hơi hắn đâu nữa. Thật đúng là, lão đạo sĩ này chẳng lẽ nhếch nhác bằng thi thể của Lý Tư Minh sao? Ngươi lúc đứng cạnh quan tài thì nói hay như hát, bây giờ lại thế này.

    Trên người không một chỗ nào không thấy ngứa ngáy, ta thò tay ra sau cổ, gãi, xát ra một cục ghét thuộc hàng tầm cỡ. Phủi đi, xát lại, lại phủi, cũng thú vị ra trò.

    Đầu là chỗ ngứa dữ nhất, cứ cảm giác như có thứ gì đó đang chạy ngang chạy dọc. Nghe nói trên đời có một loại côn trùng gọi là bọ chét, chỉ sợ cái thứ này là nó.

    Cửa vẫn đập uỳnh uỳnh, ta gãi đầu, vừa dùng một tay chà ghét vừa ra mở cửa. Người ngoài cũng là một đạo nhân, gương mặt dẹt dẹt tròn tròn, đầy đặn phúc hậu, dài giọng nói: “Cuối cùng cũng dậy rồi, còn tưởng ngài thành tiên ở trong đấy luôn rồi chứ?”.

    Cũng không hẳn là thành tiên trong ấy, ông ta tắt thở trước, sau đó vị đại tiên ta mới tới mà.

    Ta nói: “Đúng là vậy, dạo chơi qua mấy nghìn ngọn núi tiên, lại đột nhiên hóa thành giấc mộng, gần như đã quên hết chuyện hồng trần, ngay cả ngươi cũng không nhớ ra”.

    Đạo sĩ nọ nói: “Quảng Vân tiên nhân phải nhớ cho kĩ đấy, tiểu đạo là đạo nhân Thường Thiện, làm tạm vụ trong Minh Nguyệt quán này, đợi đến lúc thành tiên rồi, mong ngài đừng quên chiếu cố đến tiểu đạo”. Hắn cười ha hả, chà xát hai tay vào nhau, “Tối hôm qua ngài có nhờ tiểu đạo đánh thức, sáng hôm nay không thể ngủ quên được. Tiểu đạo tới gọi ngài sớm một chút, hôm nay không giống ngày thường, là đại pháp hội của vương phủ, trong đạo quán thiếu người quá, khó khăn lắm sư phụ mới gật đầu để ngài tới cho đủ số lượng. Tốt xấu gì ngài cũng phải tắm rửa một lượt, thay bộ quần áo trông cho tử tế mới được”.

    Vừa nghe thấy hai chữa “tắm rửa” mắt ta liền sáng rực lên, “Nước ở chỗ nào?”.

    Thường Thiện nói: “Kì diệu làm sao, kì diệu làm sao, thường ngày ngài lúc nào cũng nói sợ làm tổn thương đến nước nên không tắm rửa, không ngờ hôm nay lại nghĩ thông rồi”. Hắn nói xong liền dẫn ta ra sân sau.

    Ở sân sau có một cái lán bằng gỗ, trong lán có giếng, bên giếng có thùng, còn có cả một cái chậu gỗ lớn.

    Ta cài cửa lán lại, múc đầy một chậu nước, thò đầu soi thử, thấy một cái đầu bù xù. Bản tiên quân đứng bên miệng giếng, múc vài chậu nước, dùng tới hơn nửa cân bồ kết mới chải tơi được râu, tóc, chà xát cho màu da bình thường xuất hiện.

    Thường Thiện đã chuẩn bị sẵn một bộ đồ mới tinh cho ta thay. Ta cột tóc gọn gàng, bộ râu cũng dùng lược chải cho ngay ngắn, cả người khoan khoái nhẹ nhõm, lúc bấy giờ Hoành Văn mới lắc lắc lư lư bay tới. Ta nhân lúc bốn phía không người, phất phất tấm áo bào đạo sĩ mới tinh mấy lượt, hỏi: “Trông có tí phong thái nào của Lữ Tiên không?”.

    Hoành Văn nói: “Ta mà chiều ngươi nói một câu ‘Giống’, chắc Lữ Động Tân sẽ tới đập nát cung Vi Viên của ta ra mất”.

    Ta cười khan một tiếng: “Không phải đã tử tế hơn nhiều so với buổi sáng rồi à?”.

    Hoành Văn im lặng trong giây lát, sau đó thành khẩn nói: “Trông ngươi giống người rồi”.

    Ta cùng với đám đạo sĩ trong Minh Nguyệt quán, tới Đông Quận Vương phủ.

    Khi bước qua ngưỡng cửa vương phủ, bản tiên quân thấy thật bùi ngùi.

    Vừa chỉ mới mấy ngày trước thôi, ta vẫn còn là người một nhà với những con người sống sau cánh cửa này, tuy xét về độ hào sảng , lỗi lạc Lý Tư Minh còn chưa sánh được với bản tiên quân nhưng cũng coi như một công tử thiếu niên khôi ngô tuấn tú. Giờ đây lại đang mục xác trong quan tài, đổi cho bản tiên quân một đạo nhân già, da mặt nhăn nheo như quả hồng khô. Mệnh Cách với Ngọc Đế định để cho ta dùng cái mặt này mà đi cám dỗ Thiên Xu á???

    Pháp hội ngũ thất được tổ chức rất phô trương, tổng cộng có tất cả sáu mươi sáu đạo sĩ của tám đạo quán đồng thanh đọc kinh. Ta đứng rung chuông giữa đám người. Ta trông thấy Đông Quận Vương, cũng trông thấy Lý Tư Nguyên và Lý Tư Hiền. Bản tiên quân biết tình cảm của bọn họ đối với Lý Tư Minh rất sâu sắc, nhưng tình cảm có sâu sắc đến mức nào, nước mắt có nhiều bao nhiêu, khóc tới ngũ thất, cũng khóc cạn hết cả rồi. Vậy nên khi đứng trước linh vị đốt tiền giấy, tất cả mọi người đều gào khan mà thôi.

    Tuy nhiên, Đông Quận Vương có nói một câu khiến bản tiên quân vô cùng phấn chấn.

    Đông Quận Vương đứng đối diện với linh vị, bỏ một xấp tiền giấy vào trong chậu than, nói rằng: “Minh nhi, con yên tâm đi, cha nhất định sẽ móc tim của gã Đan Thành Lăng đó mang về để tế con!”.

    Lúc lãnh tiền thưởng, Thường Thiện thì thầm bên tai ta: “Nghe những lời vương gia nói hôm nay, Đông Quận của chúng ta nhất định phải đối đầu với Nam Quận rồi, than ôi, nghiệp chướng, đúng là nghiệp chướng mà. Nói một cách khó nghe thì tiểu công tử chết vừa là số vừa coi như tự chuốc lấy. Nhưng một khi có chiến tranh, thì đám dân thường chúng ta cũng phải chịu khổ theo”. Đoạn hắn ép giọng nói xuống thấp hơn, “Ngài có biết vì sao tiểu công tử lại bị chết không?”.

    Trên đời này làm gì có kẻ nào biết rõ hơn bản tiên quân.

    Thường Thiện nói: “Nghe nói vị tiểu công tử này vốn là kẻ đần độn, không biết vì sao mà đến một ngày đột nhiên tỉnh ra. Hắn vừa tỉnh ra, liền hỏng bét, lập tức nuôi ngay một tiểu công tử lai lịch bất minh ở trong nhà, nghe nói là chiều chuộng ghê lắm. Nhưng chỉ được một hai ngày, vương gia lại mời một vị công tử về để làm mạc trọng,nghe nói vị mạc trọng tiên sinh đó có dáng vẻ như thần tiên vậy, Tam công tử vừa gặp liền ném ngay vị tiểu công tử trong viện đi, trái tim đặt cả vào vị mạc trọng tiên sinh kia. Vị công tử trong điện liền nổi cơn ghen tức, cấu kết với người tình ngày trước của hắn đâm tiểu công tử một đao, sau đó liền trèo tường trốn mất. Ngài nói xem có thú vị hay không?”.

    Râu mép của ta giật giật một lát, sau đó mới đáp rằng: “Thú vị”.

    Thường Thiện lẳng lặng tiếp lời: “Nhưng thú vị hơn là tình nhân cũ của vị tiểu công tử kia không phải là ai khác, lại chính là Đại tướng quân Đan Thành Lăng của Nam Quận. Sau khi tiểu công tử chết, mạc trọng tiên sinh cũng chẳng thấy tăm hơi đâu. Cả chuyện này huyên náo ầm ĩ cứ như diễn kịch vậy, có điều vở kịch này diễn quá tệ, người này chết, bách tính lại gặp tai ương”.

    Ta ủ rũ, không nói lời nào. Ngọc Đế, Mệnh Cách, đều là nghiệp chướng các người tạo ra cả đấy.

    Ta ôm hai xâu tiền, theo đoàn người ra khỏi phủ, xa xa trông thấy Tấn Ninh, Tấn Thù đang đeo khăn tang, thân hình bé nhỏ chui rúc len lỏi giữa đám người. Tấn Ninh đang ngóng lên trên bàn thờ, ánh mắt mong đợi, hình như đang định “xuống tay” với đĩa bánh cúng trên đó.

    Ta đã từng hỏi thăm Mệnh Cách về số mệnh của hai đứa bé này. Năm năm sau, Đông Quận Vương sẽ qua đời vì trúng gió, ba năm sau nữa đến phiên Lý Tư Nguyên chết bất đắc kì tử, một năm sau Lý Tư Hiền cũng bỏ mạng trên chiến trường. Tấn Ninh trở thành tướng soái khi tuổi đương độ thiếu niên, thắng trận liên tiếp. Nhưng người nắm trong tay đại cục của Đông Quận lại là Tấn Thù. Đứa bé nhút nhát suốt ngày chạy theo đuôi Tấn Ninh, trong tương lai lại trở thành vị quân chủ khai quốc của cả vùng vương triều. Quả là thế sự vô thường.

    Ta đứng trước nhà quàn[1] một lúc lâu, đôi mắt đảo liên hồi của Tấn Ninh liếc về phía ta. Nó bước lại gần ta, thân người lúc la lúc lắc: “Này, đạo sĩ râu dài, lão đang nhìn gì thế?”. Tấn Thù vẫn như trước bám dính sau lưng Tấn Ninh.

    [1]: Nhà quàn: Nơi đặt quan tài trước khi chôn cất, hoặc tổ chức tang sự.

    Tấn Ninh tương lai sẽ là một kẻ phong lưu, bản tiên quân nhìn nó, tưởng tượng cảnh nó sau khi trưởng thành, sẽ chôn người giữa mười mấy thê thiếp xinh đẹp như hoa, trái ôm phải ấp. Chậc chậc, thằng bé này quả là khiến người ta lo lắng mà.

    Ta sục sạo trong tay áo, móc ra hai mặt dây chuyền hình hồ lô làm bằng ngọc bé xíu, khom người xuống: “Bần đạo trông hai vị thiếu gia phúc khí đầy mặt, đôi bùa ngọc này xin tặng cho hai vị, coi như kết một mối lương duyên với đạo gia”.

    Tấn Ninh thò tay định nhận, nhưng Tấn Thù lại kéo ống tay nó lại, ngửa mặt mà nói với ta rằng: “Đạo nhân ngươi lai lịch bất minh, tặng đồ cho chúng ta, có phải muốn thứ gì đó hay không?”.

    Ta cười ha hả: “Bần đạo nếu có thể tới tham gia pháp hội, lai lịch đương nhiên phải rõ ràng, Đông Quận Vương phủ là chỗ người bình thường có thể bước vào sao? Hai miếng ngọc này chỉ để kết mối lương duyên với đạo gia, hoàn toàn không có mục đích gì. Nếu tiểu công tử thật sự muốn thưởng cho bần đạo thứ gì đó”. Ta vuốt chòm râu, đưa mắt nhìn về phía bàn tay của Tấn Ninh, “Vậy hãy tặng ống trúc kia cho bần đạo, tiểu công tử thấy sao?”.

    Tấn Ninh ngó ống trúc trong tay, có vài phần lưu luyến không nỡ cho đi, lại đưa mắt nhìn hồ lô ngọc trong tay ta, ngập ngừng do dự. Tấn Thù chớp mắt, nhìnTấn Ninh, sau đó quay sang nói với ta: “Vậy lão đừng đòi ống trúc nữa, ta thưởng cho lão cái này, đổi lại lão đưa hồ lô cho chúng ta, được không?”.

    Bàn tay nhỏ xíu của nó mò mẫm trong đai lưng, bàn tay nắm chặt mở ra trước mặt ta. Bản tiên quân thấy miếng ngọc bội kia mà mở cờ trong bụng, đúng là hôm nay vớ được món hời, không cần bỏ thêm công sức, đồ đã được người dâng tới tận tay.

    Ta nói, “Đa tạ tiểu công tử”. Sau đó lấy miếng đưa cho Tấn Thù. Tấn Ninh vội la lên: “Ê, đã nói là hai cái cơ mà, sao giờ chỉ có một cái?”.

    Ta lắc đầu nói: “Lễ vật của vị công tử này thưởng cho bần đạo chỉ đổi được một cái. Một đổi một, không phải là chuyện rất công bằng sao?”.

    Tấn Ninh nói: “Mới nãy rõ ràng lão nói đồ này tặng không cơ mà!!!”.

    Ta lại vân vê chòm râu: “Ban nãy bần đạo nói tặng không, nhưng giờ lại đổi ý, không muốn tặng không nữa”.

    Tấn Ninh chun mũi lại, trừng mắt nhìn ta, Tấn Thù liền nhét miếng bùa ngọc đeo vào tay nó: “Được rồi, đừng lằng nhằng với lão làm gì, dù sao ta cũng không thích nó, cho ngươi đấy”.

    Tấn Ninh lắc đầu quầy quậy, chìa ống trúc ra trước mặt ta: “Cho lão, đưa cái kia đây”.

    Bản tiên quân cười híp cả mắt: “Tiên tôn vô lượng, cảm ơn tiểu công tử”. Đưa tay nhận ống trúc, sau đó trao miếng còn lại cho Tấn Ninh.

    Tấn Thù nói: “Ngươi thích cái ống trúc đó, sao lại đưa cho lão làm gì, ta không cần bùa ngọc này”.

    Tấn Ninh lại nhét miếng bùa vào tay nó, “Thứ đổi bằng đồ của ngươi để ta giữ, thứ đổi bằng đồ của ta để ngươi giữ. Dù sao hai thứ đưa cho lão đều là vật lấy trộm từ phòng tiểu thúc thúc, nếu bị cha với thúc thúc trông thấy thì có khi còn bị nện thêm mấy chổi ấy chứ”.

    Bấy giờ Tấn Thù mới cầm lấy hồ lô, nhét vào trong tay áo. Việc cũng đã xong, bản tiên quân liền mang theo hai thứ kia lui ra.

    Trở về đạo quán, ta đưa cho Thường Thiện một xâu tiền, cảm ơn hắn đã giúp đỡ ta. Thường Thiện cười toe toét, “Quảng Vân đạo huynh khách khí quá đi mất, ngày khác có tới Thượng Xuyên này, nhất đinh phải qua đây tìm tiểu đạo đấy nhé”.

    Buổi tối, ta lôi ống trúc và ngọc bội ra ngắm nghía, rất là đắc ý, Hoành Văn đứng trước giường nói: “Hai thứ này đã được ngươi trổ tài dụ dỗ trẻ con mà lừa được về, an tâm rồi chứ gì. Trông thấy vật, chẳng biết có nhớ người không đây”.

    Bản tiên quân dụ dỗ, lừa gạt trẻ con bao giờ, hai miếng ngọc hồ lô kia đều là bảo bối được ta dùng phép tiên, thêm thần chú bình an vào cả đấy. Có thể bảo vệ cho hai đứa nó tránh được tà ma, sống thuận lợi an vui cả đời.

    Ta nhìn Hoành Văn, cười xòa: “Ngươi có muốn lên giường nằm chút không?”.

    Hoành Văn nói: “Thôi khỏi, cái giường này của ngươi chẳng sạch hơn tấm vải bọc xác Lý Tư Minh đâu”.

    Ngày hôm sau, ta rời Minh Nguyệt quán, ra khỏi thành Thượng Xuyên.

    Quảng Văn Tử thân phàm xác tục, liên lụy bản tiên quân không cưỡi nổi mây, chỉ đành cuốc bộ đi đường, muốn đến được bến Chu Gia cũng phải đi bốn năm ngày đường.

    Sau khi đã cách thành Thượng Xuyên rất xa rồi, Hoành Văn liền hiện thân, cũng cùng bản tiên quân đi bộ. Hắn hiện thân, vẫn biến ra bộ dạng của Triệu tiên sinh, không chịu tạm biến thành tiểu đạo sĩ cho hợp hoàn cảnh. Ta với Hoành Văn đi chung, người qua đường ai thấy cũng lé cả mắt, cảm thấy hai ta đi cùng nhau là chuyện gì đó rất… kì lạ.

    Chạng vạng năm ngày sau, ta đã tới trước cửa quán trọ bên bờ sông.

    Trời đã hoàng hôn, mây đen đè nặng, tối mịt tối mù. Sông dài sóng lớn, từng đợt xô bờ, tiếng lá cờ chào đón khách của quán trọ phần phật trong gió vang lên, nghe thật đìu hiu cô quạnh.

    Bản tiên quân bước vào quán trọ, tay phải chống một cây gậy trúc, trên lá cờ đen viết mấy chữ “Bói đâu trúng đó”, tay trái thì phe phẩy cây phất trần thưa thớt mấy cọng lông.

    Tiểu nhị lúc đầu vốn chỉ dùng đuôi mắt liếc bản tiên quân một cái, hờ hững lạnh lùng định quay đầu, lại trông thấy Hoành Văn vào cửa, lập tức mặt mày như mới nở mấy đóa hoa.

    Đợi đến khi biết được bản tiên quân và Hoành Văn là bạn đồng hành, ta cũng móc bạc ra, tiểu nhị với chủ quán liền cười đến độ mắt mũi chẳng thấy đâu, ân cần sắp xếp cho bọn ta hai gian phòng thượng hạng, lại rất chu đáo chuẩn bị cho bọn ta vị trí ngồi đẹp nhất trong sảnh dưới lầu, rượu và thức ăn được bưng lên thuộc hàng thượng hạng.

    Sau khi đưa thức ăn lên, một gã tiểu nhị niềm nở tới rót rượu, sau đó bắt chuyện nói: “Đạo trưởng đây tiên phong đạo cốt, vừa nhìn đã biết là một cao nhân”.

    Ta khiêm nhường đáp lại: “Đâu có đâu có, bần đạo tu hành nông cạn, chỉ biết chút đạo thuật sơ sài như bói quẻ xem tướng, xem hung cát, đoán tương lai thôi”.

    Ánh mắt tiểu nhị chứa chan khâm phục.

    Thế là ta tiếp tục nói: “Xem phong thủy, quan sát thiên tượng, kỳ môn độn giáp… Bần đạo cũng biết chút chút”.

    Vẻ khâm phục trong mắt tiểu nhị lại càng dâng cao.

    Thế là ta lại tiếp tục nói: “Thật ra, nếu như bị thứ gì đó tà mị nhập vào người, yêu ma tác oai tác quái, thậm chí cả những chứng bệnh lạ không chữa nổi, bần đạo cũng có thể xem thử xem sao”.

    Tiểu nhị mừng vui khôn xiết, tức khắc đặt vò rượu xuống, vái bản tiên quân một vái: “Đạo trưởng, ngài đúng là do ông Trời phái đến mà!!! Tiểu điếm hiện giờ đang có một bệnh nhân trong tình thế hiểm nghèo, không biết có thể làm phiền đạo trưởng mở lòng từ bi mà xem bệnh cho người ấy hay không!”.

    Chủ quán đích thân dẫn đường, đưa ta và Hoành Văn lên trên lầu, vài tiểu nhị rào trước đón sau, chạy tới chạy lui xun xoe, nịnh nọt.

    Theo lời chủ quán, mấy ngày trước có một vị đại gia dẫn theo một đoàn người tới quán trọ này, vốn định sang sông, nhưng trên sông sóng lớn cuồn cuộn, không sang nổi. Vì vậy họ liền ở lại quán trọ, một vị công tử trong đoàn người lại còn sinh bệnh. Vài ngày sau, vị đại gia kia hình như có chuyện gì khẩn cấp, mới dẫn một nửa số người đi, để lại một nửa số người chăm sóc cho công tử bị bệnh. Kết quả, vị công tử kia ốm dầm ốm dề mãi không chịu khỏi, những người còn lại hình như cũng có việc, từng người từng người một nối đuôi nhau đi mất, cuối cùng chỉ còn một mình người như ma ốm ở lại quán trọ này.

    “Lúc người cuối cùng rời đi, đã để lại một số bạc rất lớn, nói vài ngày sau bọn họ sẽ trở về, dặn chúng tiểu nhân nhất định phải chăm sóc cho vị công tử kia thật tốt, còn rút kiếm chém phăng một cái góc bàn mà đe dọa, nói vạn nhất có gì xảy ra với vị công tử kia, thì số phận bọn tiểu nhân sẽ như cái bàn ấy”. Chủ quán kể lại bằng giọng rất đỗi thê lương.

    “Nhưng vị công tử nọ cứ càng ngày càng yếu, bọn tiểu nhân đã mời đủ mặt đại phu, ai cũng nói không chữa nổi. Hiện giờ vị này đang nằm trên giường mà ho ra máu, xem ra chỉ thoi thóp chút hơi tàn. Cầu xin đạo trưởng nghĩ cách gì đó giữ lại tính mạng cho người này. Nếu công tử đó mà chết ở đây, thì lúc đám người kia quay lại chúng tiểu nhân biết ăn nói làm sao.”

    Chủ quán mở cửa ra, chỉ cho ta xem con ma bệnh đang thoi thóp nằm trên giường bên trong.

    Đèn dầu tối mù tối mịt, nhưng chưa dủ để ta trông thấy kẻ-có-vẻ-sắp-chết đang nằm trên chiếu.

    Ta vừa nhìn rõ mặt người kia, lập tức quay sang nói với chủ quán rằng: “Yên tâm đi, hắn không chết nổi đâu”.

    Chủ quán túm chặt lấy ta, cứ như đang bấu víu vào đống lương thực cứu mạng vậy, hai tay run bần bật nói: “Đạo trưởng đúng là thần tiên sống, vừa nhìn một cái đã biết hết càn khôn, có câu ‘hắn không chết nổi đâu’ này của đạo trưởng, cái đầu của tiểu nhân cũng coi như có thể giữ yên trên cổ”.

    Ta bước từng bước vào trong phòng, lại gần bên giường.

    Người nằm trên giường đột nhiên mở mắt ra, dưới ánh đèn, đôi mắt đen như mực lại sáng đến dị thường, dõi về phía bản tiên quân, mở miệng, nói một câu cực kì rành rọt.

    “Lý Tư Minh, ngươi tới đây để đòi ta đền mạng sao?”.

    Ta giật nảy cả người, lùi về phía sau một bước dài. Ngọc Đế ơi, chẳng lẽ hồn Thiên Xu tự nhiên thông suốt, vừa nhìn đã nhận ra bản tiên quân?

    Chủ quán nói: “Đạo trưởng xin đừng kinh ngạc, vị công tử này bệnh nặng đến độ đầu óc hồ đồ, cả ngày gặp ai cũng nói câu đó. Ngày trước, lúc vị đại ca kia còn ở đây, nghe thấy công tử nói câu ấy liền bỏ đi, vừa ra khỏi cửa là bắt đầu đập bàn đập ghế, bàn của tiểu điếm không biết đã bị vị đại gia đó đập bể bao nhiêu cái rồi”.

    Tiếng thở dài của chủ quán nghe mới tang thương làm sao, bản tiên quân điều hòa hơi thở, thì ra là sốt đến độ đầu óc mê man, nói như vậy, ngày đó Thiên Xu đâm bản tiên quân một nhát, trong lòng cũng có chút áy náy.

    Ta bước vào, ngồi xuống bên mép giường, đôi mắt sáng trong như tuyết của Mộ Nhược Ngôn vẫn cứ nhìn ta chằm chằm. Bản tiên quân nhìn y, nở một nụ cười hòa nhã, sau đó nâng một cánh tay y lên, làm bộ đang bắt mạch.

    Vài lạng thịt khó khăn lắm mới đắp được lên người Thiên Xu hồi còn ở trong Đông Quận Vương phủ đều đã đi tong hết cả. Ngày đó Mộ Nhược Ngôn là thân da bọc xương, đến giờ tầng da bọc xương cổ tay kia lại càng mỏng đến độ gần như không có. Bản tiên quân đặt hờ hai ngón tay lên trên xương ống tay của Mộ Nhược Ngôn, nhắm hờ hai mắt, cố ra vẻ cao thâm.

    Hoành Văn đứng cạnh chiếc bàn có thắp một ngọn đền dầu nho nhỏ, ho khan một tiếng, tiếng ho vừa khéo vang lên cùng lời cảm thán của chủ quán. Ông ta tấm tắc nói: “Đạo trưởng đúng là cao nhân. Ngay cả bắt mạch cũng khác hẳn người thường”.

    Ta khoan thai đáp: “Đây là phương pháp bắt mạch gia truyền của bần đạo, thật ra nói về am hiểu thì bần đạo tinh thông bắt mạch qua sợi chỉ hơn”.

    Bản tiên quân thu tay về, Mộ Nhược Ngôn nằm ở trên giường ho liên tiếp bốn năm tiếng, cũng phun ra hai ba giọt máu.

    Thật chua xót làm sao, khi còn ở Đông Quận Vương phủ, bản tiên quân hầu hạ y nhiều đến độ thành quen, lập tức duỗi ống tay áo ra lau cho y. Mộ Nhược Ngôn nhắm nghiền hai mắt, thều thào đứng quãng: “Lý Tư Minh, ngươi xem xem, lúc này ta… sẽ biến thành con quỷ thế nào đây?”.

    Ta nói: “Thí chủ, đạo hiệu của bần tăng là Quảng Văn Tử. Thí chủ yên tâm đi, có bần đạo ở đây, nhất định sẽ giúp thí chủ bệnh đi xuân đến”.

    Những ngón tay gầy guộc của Mộ Nhược Ngôn túm chặt lấy tay áo của bản tiên quân: “Khụ khụ, ta hại chết ngươi, ngươi lại muốn ta sống để chịu tội, cũng được, đây là báo ứng… báo ứng ta nên chịu…”.

    Ồ, xem ra vẫn nghe được lời ta nói.

    Hoành Văn há miệng ngáp dài, “Đạo trưởng cứ từ từ chẩn mạch chữa bệnh đi, tại hạ phải về ngủ trước đây”, nói xong liền quay người ra khỏi cửa.

    Ta nhích người ra xa một chút, kéo ống tay áo khỏi tay của Thiên Xu, đứng dậy. Chủ quán vội vội vàng vàng hỏi: “Đạo trưởng, tình hình thế nào rồi?”.

    Ta vân vê chòm râu, lắc đầu: “Không được khả quan cho lắm, vị công tử này vốn có bệnh cũ trong người, nay lại thêm tâm bệnh nữa, bần đạo trở về phòng tĩnh tâm suy nghĩ trước đã, sáng sớm mai mới có thể viết ra đơn thuốc. Không biết trong quý điếm có tổ yến hay không, tạm thời cứ hầm một bát cho công tử ăn cái đã”.

    Chủ quán nói: “A, lúc vị đại gia kia tới cũng có mang tới vài cân tổ yến, hiện giờ vẫn còn”. Mấy gã tiểu nhị rất lanh lợi, lập tức đi hầm tổ yến. Chủ quán thì cung kính đưa bản tiên quân tới tận phòng, sai người khiêng một thùng gỗ mới tinh đổ đầy nước tắm vào trong, còn tặng thêm vài đĩa hoa quả khô để ta lót dạ bữa khuya.

    Trước khi ra khỏi phòng, ta còn quay đầu nhìn Mộ Nhược Ngôn thêm lần nữa. Dưới bóng đèn dầu lờ mờ là một bóng người trắng nhợt đang nằm, trông hệt như một hình nhân bằng giấy.

    Bản tiên quân bước ra khỏi cửa, y cũng không nói thêm câu gì nữa.

    Căn phòng ngay sát vắch hẳn là phòng của Hoành Văn, cửa phòng đóng chặt. Ta đưa mắt nhìn một cái, liền nói với chủ quán rằng, thùng gỗ mới tinh cùng nước tắm kia đem cho vị công tử phòng bên dùng đi, gối đầu, chăn đệm trong phòng hắn cũng thay mới toàn bộ. Vị công tử kia là người cực kì cao quí, mọi thứ đều phải mới tinh, sạch sẽ, chút tiền vặt ấy hắn thừa sức trả.

    Chủ quán đương nhiên gật đầu ngay tắp lự. Đợi đến khi ta cũng tắm rửa xong, liền thổi tắt đèn dầu, nằm thẳng trên giường, cầm miếng bát quái bằng đồng trong tay, thoát chân thân khỏi xác lão đạo sĩ.

    Suốt cả quãng đường, chúng ta đều thuê hai phòng trọ, một gian cho Quảng Văn Tử, một gian ta và Hoành Văn ở. Hắn không sang lôi bản tiên quân ra, ta cũng đành phải tự tìm hắn.

    Đèn trong phòng Hoành Văn cũng đã tắt, ta lần mò trong bóng tối, bước tới bên giường, người nằm trên giường xoay mình lại, nói: “Chẩn trị xong rồi à?”.

    Ta cười khan, “Xong rồi”. Ta vừa nói vừa vặn vẹo hai tay, “Ngươi nhích vào bên trong một chút, chừa cho ta tí giường nằm đi”.

    Hoành Văn phì cười, hơi dịch vào trong một chút, ta nhân cơ hội đó nằm luôn xuống giường, kéo chăn đắp lên người. Hoành Văn nói: “Bệnh của Thiên Xu không nhẹ đâu, ta xem chỉ còn xót lại chút hơi tàn thôi. Bệnh này của hắn, chỉ sợ không chữa nổi bằng cách dưới nhân gian, Ngọc Đế lại không cho phép dùng tiên thuật để cứu hắn. Không biết Quảng Vân đạo trưởng có cách gì hay không?”.

    Ta nói: “Cứ đối phó cho xong là được, không chữa được thì để hắn xuống chỗ Diêm Vương”.

    Hoành Văn cười khẽ: “Ngươi nỡ chắc, Hôm nay Thiên Xu chỉ nói mấy câu thôi, cũng đủ để ngươi quên sạch một đao hắn đã đâm ngày trước rồi. Nói để hắn đi gặp Diêm Vương, chẳng lẽ trong đầu ngươi đã có cách gì rồi?”.

    Ta không dám tiếp lời, Hoành Văn đoán không sai, trong lòng ta quả thật có một cách.

    Ngoài cửa sổ mơ hồ vang lên tiếng gió. Thanh âm này bản tiên quân quen thuộc quá rồi, cũng đã bám theo bọn ta suốt cả quãng đường. Hoành Văn nhẹ giọng nói: “Cái cách mà ngươi nghĩ ra được, là đây sao?”.

    Tiếng gió vang lên, kèm theo mấy tiếng lạch cạch nhỏ xíu, sau đó mọi thứ lại trở về yên lặng. Một lúc lâu sau, ta nhẹ nhàng mở cửa phòng ra, bên ngưỡng cửa quả nhiên có bó cỏ linh chi được buộc rất chỉnh tề. Loại cỏ linh chi này được gọi là Kim La Linh Chi, là một loại cỏ vô cùng quý giá, hơn nữa tuy là cỏ tiên, nhưng lại sinh trưởng ở trần gian, ta cũng chỉ nhìn thấy có vài lần trên thiên giới.

    Bó cỏ linh chi này là tặng cho Hoành Văn, người tặng chính là con hồ ly đoạn tụ si tình gan to không sợ chết, một lòng tưởng nhớ Hoành Văn.

    Lại nói về việc này, ngày ấy ta và Hoành Văn vừa ra khỏi thành Thượng Xuyên liền bị con hồ ly này lén lút theo đuôi. Cục Lông này rất có bản lĩnh, không biết làm cách gì mà lần nào cũng lần mò vào được quán trọ mà ta và Hoành Văn dừng chân lúc nửa đêm, đứng ngoài phòng bồi hồi trông ngóng, còn để lại một bó Kim La Linh Chi.

    Kim La Linh Chi có thể thanh trừ khí độc, bồi dưỡng nguyên thần, phỏng chừng con hồ ly đó lo lắng Hoành Văn bị ta lôi kéo bôn ba giữa hồng trần hỗn loạn này sẽ bị nhiễm bẩn, mới cố ý tặng thứ này.

    Bản tiên quân là một vị thần tiên rất từ bi, chỉ than thở thế gian thật lắm kẻ si tình, việc này ta chỉ đơn giản xem như gió thoảng mây bay. Sau khi nhặt cỏ linh chi lên, cuối cùng Hoành Văn nở nụ cười rồi nhét vào trong tay áo, cũng giả bộ không biết người tặng là nó. Vì thế tận hôm nay hồ ly vẫn cứ nghĩ rằng bản thân náu mình rất tốt, ngày ngày làm vậy.

    Ta cầm theo cỏ linh chi trở về giường, cười nịnh nọt với Hoành Văn: “Có thể cho ta một hai nhánh lá không?”.

    Hoành Văn biếng nhác đáp: “Ta biết ngay ngươi định đem nó đi cứu Thiên Xu mà. Nếu ngươi muốn lấy thì cứ lấy đi, tuy nhiên, có câu này ta vẫn cứ phải lắm lời, Tống Dao Nguyên quân lần này xuống trần là để thiết kiếp chứ không phải để cứu khổ cứu nạn. ‘Cầm gậy đánh uyên ương’ sắp bị ngươi biến thành ‘tình đậm sâu khiến giai nhân cảm động’ mất rồi. Ngươi cũng nên có chừng có mực”.

    Ta nhét cỏ linh chi vào trong áo, trở về giường nằm, nói: “Tuy rằng về sau Thiên Xu Tinh quân với ta có chút khoảng cách, nhưng dù sao năm đó cũng đã cứu ta một lần. Ân tình ấy, chung quy ta vẫn phải trả hắn”.

    Việc của Tống Dao Nguyên quân ta ghét nhất chính là nợ ân tình của người khác, nhất là ân tình của Thiên Xu Tinh quân – người mà sau này có chút “bất hòa” với ta.

    Rất nhiều năm về trước, lúc đó ta mới được thăng thành Quảnh Hư Nguyên quân, có một lần Hoành Văn tới Phật Giới Tây Phương tham gia Pháp Đạo Hội. Ta ở trên thiên đình cô đơn trống vắng, liền tới chỗ của Bích Hoa Linh quân uống trà, ngắm nghía đám tiên thú hắn nuôi để giải sầu, vừa đúng lúc có con rồng một sừng tu tiên lạc lối, tẩu hỏa nhập ma, bắt đầu phát cuồng. Nguyên quân ta giơ cao trường kiếm đối địch với rồng, bất hạnh bị con súc sinh đó phun một ngụm khói vào mặt, lại bị đuôi rồng quất bay ra xa vài trượng, không chỉ mất hết mặt mũi thần tiên, mà còn trọng thương.

    Vừa may Thiên Xu Tinh quân cũng ở trong phủ của Linh quân, tuy rằng thường ngày y thản nhiên lạnh nhạt, nhưng lúc đó cũng ra tay chữa trị cho ta. Từ đó, bản tiên quân nợ y một món ân tình.

    Lại thêm mấy trăm năm nữa trôi qua, ta cùng Thiên Xu Tinh quân đối chất trên điện Linh Tiêu, đến giờ ta vẫn cứ nghĩ nó chỉ là một giấc mộng hoang đường. Thiên Xu Tinh quân từng cứu ta một mạng, Thiên Xu Tinh quân thanh cao mà lạnh lùng, lại muốn vu cho ta một cái tội danh vô căn cứ, để ta bị đày trở lại trần gian, vĩnh viễn không thể trở lại thiên đình.

    Hoành Văn nói: “Khi đó Thiên Xu nói ngươi có tội cũng có chứng cứ, không coi là vu vạ. Nhưng ta cũng không hiểu được vì sao hắn phải làm vậy. Theo tính cách của Thiên Xu, hắn không đời nào làm ra chuyện như thế. Hắn làm vậy, tất có nguyên do”.

    Ta nói: “Nguyên do là gì ta đây cũng chẳng muốn biết. Nói gì thì nói, ân tình ngày xưa nợ hắn sẽ trả xong, chuyện Ngọc Đế giao phó cho ta cũng sẽ làm tròn. Năm ấy hắn vu tội cho ta nhưng không thành, liền xem như chuyện ấy không xảy ra, đợi đến lúc hắn trở lại thiên đình, gặp nhau cười một cái, đôi bên vẫn cứ là tiên hữu”.

    Tống Dao Nguyên quân ta là một thần tiên vô cùng độ lượng.

    Ngày hôm sau, ta dậy từ khi trời còn sớm tinh mơ, định bụng nói với chủ quán một tiếng, đem Kim La Linh Chi đi sắc một chén cho Mô Nhược Ngôn uống. Khi ta cùng Hoành Văn bước xuống thang lầu, lại trông thấy một đám tiểu nhị đang vây quanh một cái lồng, kẻ vặn tay người xắn áo.

    Một tiểu nhị lên tiếng chào hỏi chúng ta, điệu bộ cực kỳ khoái trá: “Chúng tiểu nhân tối qua có bắt được một con vật vô cùng hiếm gặp, đạo trưởng với công tử có muốn qua xem một chút không?”.

    Ta vui vẻ đáp lời, bước lại gần.

    Ôi trời, trong lồng nào phải ai xa lạ.

    Cục Lông trắng bạc đang héo rũ cả người, cúi đầu chồm hỗm trong lồng, như anh hùng lỡ bước, tựa Sở Bá Vương bên bến Ô Giang, thật xót xa.

    Hồ ly, sao ngươi lại bị bắt thế này?

    Hoành Văn cũng sững người, hồ ly ngẩng đầu nhìn hắn một cái, ánh mắt lóe lên ngấn lệ, rồi lại gục đầu xuống, ngồi co trong một góc lồng.

    Đám tiểu nhị rất phấn khởi.

    “Gần đây mèo rừng với chồn hoang hoành hành dữ quá, chúng tiểu nhân liền đặt một bẫy sắt ở bên dưới mái hiên, chỉ hy vọng bắt được đám mèo chồn đó, ai ngờ lại tóm được con vật này. Đạo trưởng thấy nhiều biết rộng, màu lông của con hồ ly này cực kỳ hiếm lạ, nhất định là rất đáng tiền. Nếu lột sống bộ lông của nó xuống thì không biết có bán được mười lượng bạc hay không?”.

    Bản tiên quân chắp tay niệm một tiếng, lại nói: “Tội lỗi, tội lỗi, tuy rằng nó chỉ là súc sinh, nhưng để sống mà lột da cũng quá độc ác. Hôm nay mệnh nó đã định phải bỏ mạng ở chỗ này, các vị coi như nể mặt bần đạo, để nó về trời trước rồi hẵng lột da”.

    Hồ ly đột ngột ngẩng đầu, quăng cho bản tiên quân một cái nhìn đến là thê lương. Rồi nó lại ai oán trông về phía Hoành Văn, gục đầu xuống.

    Ta trông thấy chân trước bên phải của nó tựa hồ có vết máu, giống như là vết thương mới khá nặng.

    Quả nhiên, Hoành Văn lên tiếng: “Tại hạ bỏ ra mười lượng vàng, các ngươi bán nó cho ta đi”.

    Thỏi vàng nện xuống mặt bàn, đám tiểu nhị trông thấy cười như đóa hướng dương, sáng lạn vô cùng, ân cần đáp: “Chúng tiểu nhân lập tức lột tấm da hồ ly này cho công tử”.

    Hoành Văn nói: “Ta thấy bộ dạng nó hiếm thấy, tạm thời để nuôi trước đã”.

    Ta nói:”Thí chủ không sợ hồ ly hôi sao?”.

    Hồ ly lại lườm ta một cái, ra chiều căm phẫn.

    Hoành Văn mở cửa lồng, ôm hồ ly ra ngoài, “Ta không ngửi thấy mùi gì cả, cứ nuôi đi”.

    Hồ ly rúc đầu vào ngực Hoành Văn, dụi tới dụi lui.

    Tất cả trở về căn phòng trên lầu của bản tiên quân, đóng cửa phòng lại, hồ ly nằm sấp trên đầu gối Hoành Văn, cuộn tròn người lại, bộ dạng cực kì hưởng thụ. Ta tựa người bên mép bàn, “Cục Lông này, lần trước bản tiên quân thấy ngươi rèn giũa cơ bắp khá lắm, cũng coi như một trang hán tử, sao bây giờ lại mảnh mai yểu điệu thế”.

    Hồ ly lập tức nhảy xuống khỏi đầu gối Hoành Văn, lộn một vòng biến thành hình người để tỏ rõ cái tôn nghiêm của nó, lạnh giọng nói: “Tên của tại hạ là Tuyên Ly, dường như tiên quân đã biết rồi”. Sau đó rung rung vành tai, không thèm nhìn ta, lại dõi ánh mắt si tình về phía Hoành Văn, “Đa tạ Thanh quân đã ra tay cứu mạng”.

    Hoành Văn nói bằng giọng rất điềm đạm, đương nhiên, Hoành Văn hắn lúc nào tính tình chẳng tốt, đứng trước mặt ai chả điềm đạm: “Ngươi bị trọng thương, Kim La Linh Chi là tiên vật, ngươi vốn không lấy được, chỉ cần chạm vào sẽ hiện nguyên hình. Cần gì phải mạo hiểm như thế”.

    Hồ ly nói: “Vì Thanh quân bỏ mạng cũng đáng, Tuyên Ly cam tâm tình nguyện”.

    Bản tiên quân nghe mà ê hết cả răng.

    Hoành Văn vươn tay đưa cho nó một viên đơn, “Ngươi uống viên đơn này trước đi, có lẽ sẽ đỡ hơn một chút”. Hồ ly chìa móng ra nhận, nhìn Hoành Văn chăm chú, khiến kẻ khác thấy mà tê dại cả người, một lúc sau mới nhét viên đơn vào miệng, nuốt xuống. Bản tiên quân không nhịn được ho khan một tiếng, nói: “Vết thương trên cánh tay ngươi trông rất cổ quái, do đâu mà có?”.

    Hồ ly vốn coi bản tiên quân như không khí, nhưng thấy Hoành Văn cũng nhìn mình, nó đành buồn bực đáp: “Bị một gã người phàm đánh thương”.

    Ta nghe mà kinh ngạc không thôi, Cục Lông này chí ít cũng có cả nghìn năm tu hành, loại người phàm nào mà hung mãnh như vậy, có thể đánh nó bị thương. Hoành Văn cũng hỏi: “Kẻ đó lai lịch thế nào, sao lại có thể đả thương ngươi”.

    Hồ ly nói bằng giọng khô không khốc: “Không biết hắn lai lịch thế nào, nhưng hắn lại dám mò tới trước động của ta để ăn trộm cỏ linh chi, ta bèn ra tay dạy dỗ hắn một phen, nhất thời sơ ý, bị thương nhẹ. Kẻ đó bị ta giam vào trong động rồi, hình như họ Đan thì phải”.

    Thì ra Nam Minh Đế quân một đi không trở lại chẳng phải vì hắn là loại tình lang bạc bẽo, tàn nhẫn vô tình, mà là bởi đi trộm thuốc chữa bệnh cho Thiên Xu lại bị hồ ly bắt gọn. Ai da, tình cảm Nam Minh dành cho Thiên Xu, quả thật khiến bản tiên quân có chút cảm động.

    Năm xưa cầm gậy đánh uyên ương thì tàn nhẫn ghê gớm, lúc này bắt đầu si tình cũng si đến chết người. Than ôi, tình ơi tình hỡi. Nhưng nói thế thì, sao hắn lại biết đường ăn trộm linh chi tiên mà yêu quái trồng để chữa bệnh cho Thiên Xu?

    Là kẻ nào đã nói cho hắn biết?

    Ta hỏi hồ ly: “Sau khi bắt được tên trộm cỏ linh chi đó, ngươi xử hắn thế nào?”.

    Hồ ly nói: “Nhốt lại”.

    Ta nói: “Chỉ nhốt thôi à? Hắn trộm mất cỏ tiên của ngươi, còn khiến cánh tay ngươi bị thương nữa. Ngươi lại không hành hạ cũng không đập gãy hai tay hai chân hắn cho hả dạ?”.

    Hồ ly liếc ta một cái, lạnh giọng đáp: “Không. Từ trước tới nay ta đều không thích so đo với đám người phàm, chỉ vặn gãy một tay hắn, trói trong động thôi”. Rồi nó lại đưa mắt ngóng Hoành Văn, “Ta chưa từng làm tổn thương đến tính mạng của bất cứ người phàm nào”.

    Hồ ly đang bộc bạch cái sự thanh cao của mình. Nó nhìn Hoành Văn, ánh mắt rất thành khẩn, vành tai khẽ run lên, Hoành Văn nở nụ cười, nó liền mừng vui ra mặt, bộ dạng đang muốn lập tức biến trở lại nguyên hình, nhảy lên đầu gối Hoành Văn.

    Đúng lúc này, ngoài cửa vang lên tiếng bước chân, hồ ly lập tức biến trở lại nguyên hình, nhảy phốc lên đầu gối của Hoành Văn. Bản tiên quân liền tóm lấy nhúm lông ở gáy hồ ly, nhấc nó lên, Cục Lông vặn vẹo cơ thể, lộ ra đám răng nanh sắc bén.

    Tiểu nhị đứng ngoài gõ cửa: “Công tử, đạo trưởng, cơm sáng đã xong rồi, mời hai vị xuống lầu dùng bữa”.

    Ta liền kẹp chặt hồ ly dưới nách, sau đó dùng một tay mở cửa phòng ra, niệm một tiếng đạo hiệu: “Chúng ta sẽ xuống ngay đây, đa tạ, đa tạ”.

    Ta đóng cửa lại, hồ ly giãy giụa nhảy xuống đất, lộn một vòng, hóa lại hình người. Bản tiên quân và Hoành Văn sửa soạn xuống lầu dùng cơm, trước khi ra khỏi cửa ta còn có lòng hỏi hồ ly một câu: “Có cần mang một cái bánh bao về cho ngươi không?”.

    Hồ ly kiêu ngạo đáp: “Không cần”.

    Sau khi dùng xong bữa sáng, bọn ta trở về phòng, ta vốn hi vọng hồ ly đã trở về hang ổ, ai dè vừa mở cửa ra đã trông thấy một Cục Lông trắng toát đang cuộn mình trên giường của Hoành Văn, đánh một giấc rất là thích ý.

    Hồ ly không chịu trở về hang ổ, còn giải thích bằng lời lẽ hùng hồn, lí do đanh thép. Hoành Văn Thanh quân đã mua nó trước ánh mắt bao người, nếu như nó đột nhiên biến mất, sẽ khiến kẻ khác hoài nghi. Nhằm tránh cho Hoành Văn Thanh quân gặp thêm phiền phức, nó sẽ tạm thời ở lại chỗ này.

    Hoành Văn có lẽ cũng cảm động đôi phần trước tấm tình si của Cục Lông kia, cũng có thể là vì thấy thú vị, đã ngầm đồng ý cho nó ở lại.

    Hồ ly rất mừng, bản tiên quân lại có chút âu lo. Năm đó ta đơn phương thích một người, dỗc gan dốc ruột, biết loại chuyện này càng cố lại càng gỡ không ra. Chuyện của Thiên Xu và Nam Minh là một minh chứng thê lương sờ sờ trước mặt. Hoành Văn tuy không đến nỗi giống hai vị ấy, thế nhưng xưa nay hắn có một cái tật, chính là ham thử cái lạ để tìm niềm vui, vạn nhất hắn đột nhiên cao hứng, cùng với hồ ly nếm trải tư vị ái tình thì…

    Bản tiên quân vừa nghĩ đã rùng mình.

    Hơn nữa Thiên Xu còn đang nằm thoi thóp trong phòng, chờ uống cỏ linh chi. Kim La Linh Chi là thứ hồ ly tặng cho Hoành Văn, nó canh ở chỗ này thì bản tiên quân làm sao mặt dày mày dạn tới xin Hoành Văn được.

    Ta nhìn Hoành Văn và hồ ly, đột nhiên thấy lo lắng, thuận dịp bèn tới phòng của Thiên Xu xem thử.

    Hai gã tiểu nhị đang nhanh tay nhanh chân dọn dẹp trong phòng Thiên Xu, nghe nói từ tối hôm qua tới giờ, Thiên Xu lại ho ra mấy ngụm máu nữa. Chủ quán cũng chen chân vào phòng. Ông ta nhìn bản tiên quân bằng ánh mắt trông mong, nói: “Tối qua đạo trưởng nói sáng nay nhất định sẽ kê được đơn thuốc, không biết giờ đã có chưa?”.

    Bản tiên quân ho khan một tiếng: “Có thì có rồi, nhưng…”.

    Tiếng gõ cửa vang lên, một tên tiểu nhị bước vào, trên tay là một bát nước màu xanh sẫm, “Đạo trưởng, tiểu nhân mang thuốc đến cho ngài đây”.

    Ta còn đang kinh ngạc, đã thấy Hoành Văn bước vào trong phòng, “Ta đã tính kĩ thời gian để sắc thuốc, ngươi cho hắn uống xem thế nào?”.

    Hai gã tiểu nhị đỡ Mộ Nhược Ngôn dậy, cạy khớp hàm y ra, bản tiên quân múc từng thìa thuốc một, đổ vào miệng Nhược Ngôn. Kim La Linh Chi quả thực rất có duyên với Mộ Nhược Ngôn, bát thuốc này đút cho y uống cực kì thuận lợi. Mộ Nhược Ngôn được đặt lại xuống gối, không thấy nhúc nhích gì.

    Chủ quán lắp bắp hỏi: “Đạo trưởng, vị công tử này…”.

    Hơi thở Mộ Nhược Ngôn đều đặn nhưng không sâu, vẻ sầu khổ trên gương mặt cũng phai nhạt phần nào, chỉ những khi ngủ say y mới có bộ dạng thế này.

    Vì thế ta liền nói: “Không sao, không sao, tạm thời để vị thí chủ này yên tĩnh nghỉ ngơi, đợi đến khi tỉnh lại, bệnh sẽ có cơ khỏi hẳn”.

    Giấc ngủ này của Mộ Nhược Ngôn kéo dài suốt một ngày một đêm.

    Chủ quán với đám tiểu nhị lo lắng có khi y đã bị bản tiên quân đầu độc chết rồi cũng nên, ra ra vào vào liên tục để dò hơi thở. Đám người hầu bàn mai phục khắp nơi: Từ cửa trước cửa sau cho tới cửa sổ, đầu cầu thang, chỉ sợ ta thừa cơ chạy mất. Thế là những lúc không ngủ, ta bèn kê một cái ghế dựa, ngồi trước cái bàn trong phòng Mộ Nhược Ngôn, tự đánh cờ với chính mình cho khuây khỏa, đỡ mất công chủ quán với đám tiểu nhị phải lo lắng phập phồng.

    Đêm đến, ta trở về phòng, thoát chân thân ra, tới tìm Hoành Văn. Hồ ly hiện nguyên hình, ngủ trên một cái gối đặt ở ghế. Ta xách cổ nó lên, chỉ về hướng căn phòng sát vách: “Thân xác bản tiên quân dùng ban ngày đang nằm trên chiếc giường trong căn phòng đó. Ngươi có thể đẩy lão xuống đất rồi lên giường mà ngủ”.

    Hồ ly cố sống cố chết bấu chặt móng vuốt vào gối, nói: “Tại sao không để ta và Thanh quân ở chung ở một phòng?”.

    Bản tiên quân nói cực kỳ dứt khoát: “Ngươi có tình cảm với Hoành Văn Thanh quân. Bản tiên quân sợ ngươi cùng hắn ở cùng phòng sẽ sinh chuyện”.

    Hồ ly hóa thành hình người, nở nụ cười lạnh lẽo: “Tống Nguyên quân suy nghĩ cũng quá xấu xa rồi, ta qủa thật có ngưỡng mộ Thanh quân. Nhưng nếu Thanh quân không bằng lòng, ta tuyệt đối sẽ không ép buộc người”.

    Ta lẩm bẩm trong lòng, đúng, vốn ta cũng không lo nghĩ cái chuyện ấy. Cái vị Hoành Văn Thanh quân này nào dễ ép buộc, ta muốn còn không được, huống gì là con yêu quái có chút đạo hạnh như ngươi.

    Hoành Văn nằm yên trên giường không thấy động tĩnh gì, phỏng chừng còn đang hớn hở theo dõi trò vui.

    Ta dịu giọng, dùng lí lẽ thuyết phục hồ ly: “Thanh quân và ta lần này phụng mệnh xuống trần, nhất cử nhất động đều có tiên quan trên trời theo dõi, giới luật của thiên đình cực kì nghiêm ngặt, nếu hắn và ngươi quá thân mật với nhau, chỉ sợ sẽ khiến kẻ khác buông lời hiềm nghi”.

    Hồ ly khoanh tay trước ngực, ngồi trên ghế, đôi mắt lập lòe thứ ánh sáng xanh u ám: “Lý do Tống Nguyên quân đưa ra, thứ cho tại hạ không thể gật bừa. Tống Nguyên quân cùng với Thanh quân đêm đêm ngủ cùng giường, nghe nói lúc trên thiên đình cũng thường tới phủ của Thanh quân chực ăn chực uống, dường như Nguyên quân chưa hề bị giới luật nhà trời chạm đến bao giờ. Cho nên theo tại hạ thấy, quy củ của thiên đình không nghiêm ngặt quá mức như người ta vẫn hay đồn đại”.

    Cái con súc sinh lắm lông này, không ngờ đã kịp đi nghe ngóng dò hỏi về bản tiên quân với Hoành Văn rồi! Không biết còn nghe được từ đâu mấy cái chuyện thị phi trắng đen lẫn lộn như thế. Dám bảo bản tiên quân thường ngày đến chỗ Hoành Văn ăn chực!

    Hồ ly nói tiếp: “Chẳng lẽ Nguyên quân lại muốn nói, bởi vì ta là yêu, còn ngài là tiên, cho nên những việc ngài làm được ta không làm được?”. Sau đó nó chỉnh trang lại áo choàng cho ngay ngắn, đứng dậy: “Ta đã từng nói tuyệt đối sẽ không gây phiền phức cho Thanh quân, nếu Nguyên quân đã có lời nhắc nhở, ta sẽ sang phòng bên để ngủ. Chỉ có điều…”.

    Hồ ly đi về phía tường, quay đầu lại, dùng khóe mắt liếc ta: “Tuy rằng hiện tại ta là yêu quái, nhưng chỉ cần vượt qua một nghìn năm trăm năm thiên kiếp nữa thôi là có thể thăng thiên thành tiên, lúc cùng ở trên thiên đình rồi, sự tình thế nào còn chưa biết được”. Nói rồi vung tay áo, xuyên tường, sang bên căn phòng cách vách để ngủ.

    Ta kéo ghế ra rồi ngồi xuống, Hoành Văn thấp giọng nói: “Trước giờ có thấy ngươi lấn cấn ba cái quy củ của thiên đình thế đâu. Chẳng lẽ chuyện của Thiên Xu với Nam Minh khiến ngươi giác ngộ ra cái gì rồi?”.

    Ta gượng cười: “Cũng gần như vậy”, sau đó nhóm người dậy, bước tới bên giường: “Đúng rồi, hôm nay may mà có ngươi đưa bát cỏ linh chi đó tới, cảm ơn ngươi”.

    Hoành Văn biếng nhác đáp: “Cứ nhớ ngươi thiếu ta một chầu rượu là được rồi. Thật ra ta chỉ muốn xem thử, sau khi ngươi trả lại hết nợ cho Thiên Xu rồi, thì sau này có thể làm ra những chuyện gì”.

    Ta nói: “Đương nhiên là Ngọc Đế căn dặn thế nào, Mệnh Cách an bài ra sao ta liền làm thế đó”. Lại nói, mấy ngày gần đây không thấy có động tĩnh gì từ lão già Mệnh Cách, kể cũng kỳ quái.

    Hoành Văn dịch vào trong một chút, ta nằm xuống mé giường ngoài, đột nhiên lại nhớ ra một chuyện: “Đúng rồi, không phải Nam Minh còn đang bị nhốt ở trong động hồ ly sao. Hồ ly ở lỳ tại đây không đi, Nam Minh nhất định đang chịu đói trong động, ta đã cứu Mộ Nhược Ngôn rồi, vậy có cần làm phước thêm lần nữa, bảo hồ ly thả hắn ra, cho Nam Minh cùng Mộ Nhược Ngôn diễn một vở kịch uyên ương đoàn viên không?”.

    Hoành Văn nằm bên cạnh ta, thấp giọng cười một tiếng.

    Bản tiên quân hỏi hắn, “Ngươi cười cái gì?”. Hoành Văn đáp: “Cũng không có gì, chỉ thấy câu nói của ngươi thú vị thôi”.

    Sau khi trời sáng, ta lại tới phòng của Mộ Nhược Ngôn ngồi, an ủi trái tim hốt hoảng của chủ quán.

    Tiểu nhị mang một bộ cờ tới. Hoành Văn ngồi đánh cờ cùng bản tiên quân để giải sầu, hồ ly nằm trên ghế cạnh Hoành Văn, đám tiểu nhị đi tới đi lui, ngó trộm nó liên hồi.

    Bản tiên quân đánh cờ với Hoành Văn đã mấy nghìn năm, chưa thắng được hắn trận nào, ngày hôm nay vẫn phải rầu rĩ nhận thua. Chủ quán ân cần sai người bê cơm trưa lên tận phòng, bốn đĩa đồ ăn, một vò rượu còn thêm cả một tô canh nóng hổi.

    Tiểu nhị đặt tô canh lên trên bàn, mở nắp ra, trong khoảnh khắc khi hơi nóng nghi ngút bốc lên, giữa làn khói lờ mờ, ta thấy Mộ Nhược Ngôn đang nằm trên giường nhúc nhích.m
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/7/17 lúc 14:57

Chia sẻ trang này