[Nhật Ký] Hán tự

Thảo luận trong 'Góc Trái Tim' bắt đầu bởi Trạch Nhất, 30/1/20.

Lượt xem: 140

  1. Trạch Nhất

    Trạch Nhất
    Serendipity
    Tuế Tuế Niên Niên Nhân Bất Đồng
    Nguyện Trục Nguyệt Hoa Lưu Chiếu Quân
    Đại Khả Ái Tòa Soạn
    Tiểu Phú Bà Team Review
    Mod box review

    Tham gia ngày:
    2/1/20
    Kể từ khi học tiếng Nhật thì bắt đầu có một tình yêu mãnh liệt với chữ hán. Cũng nhờ điều này mà việc học từ vựng của mình trở nên dễ dàng hơn, cũng là phần được điểm ổn nhất khi đi thi.

    Hầu hết những bài đăng ở đây sẽ lấy nguồn từ trang FB Chiết tự chữ Hán, nhớ hán tự thông qua chiếu tự chữ Hán và trong Group FB Để học giỏi tiếng Nhật.

    Ngoài ra có lấy thông tin từ trang nào thì mình sẽ ghi cre ở từng bài đăng sau.

    Những phần chữ in nghiêng đều là của mình.

    Có mấy câu thành ngữ thì sẽ không tìm hiểu bên Nhật như nào đâu. Chủ yếu học chiết tự, cách nhớ và cách đọc thôi. Nội nhớ mấy cái âm kun và âm on đã đủ điên rồi chứ đừng nói là học thành ngữ =))

    FB_IMG_1527434802347.jpg
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/3/20
  2. Trạch Nhất

    Trạch Nhất
    Serendipity
    Tuế Tuế Niên Niên Nhân Bất Đồng
    Nguyện Trục Nguyệt Hoa Lưu Chiếu Quân
    Đại Khả Ái Tòa Soạn
    Tiểu Phú Bà Team Review
    Mod box review

    Tham gia ngày:
    2/1/20
    Nguồn: Chiết tự chữ hán
    Ngoài ra mình có chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với việc học tiếng nhật


    XÍCH - 赤

    Trong tiếng Nhật, màu đỏ mà chữ hán là 赤.
    Âm くん (kunyomi - tức âm thuần nhật): あか (aka).
    Âm おん (Onyomi - âm Hán): セキ (seki) hoặc シャク (shaku).

    Chữ XÍCH 赤 là một chữ Hội Ý, chữ này bao gồm ĐẠI 大 (to lớn) và bộ HỎA 火 (ngọn lửa) hợp lại mà thành.

    Ban đầu con người dùng màu sắc của sự vật để biểu thị màu. Như trong cấu tạo chữ XÍCH, ĐẠI 大HỎA 火 hợp lại với ý nghĩa "ngọn lửa lớn có màu đỏ".

    XÍCH 赤 là màu Đỏ, màu Son như trong các từ:

    XÍCH ĐẠO 赤道 (せきどう: sekidou): là một đường tròn tưởng tượng được vẽ ra trên bề mặt một hành tinh (hoặc các thiên thể khác) tại khoảng cách nằm giữa hai cực. Trên Trái Đất, xích đạo chia hành tinh ra thành Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Theo định nghĩa thì vĩ độ của đường xích đạo là 0°. Độ dài xích đạo của Trái Đất là khoảng 40.075,0 km, hay 24.901,5 dặm.

    XÍCH TỬ 赤子 ( あかご: akago):
    Con Đỏ, tức là đứa trẻ mới sinh ra còn trần truồng và đỏ hỏn.

    XÍCH THỐ MÃ 赤兔馬 (trong tiếng nhật không có cụm từ này, nếu muốn nói đến con ngựa màu đỏ, người ta sẽ dùng tính từ chỉ màu đỏ viết trước danh từ chỉ con ngựa): là Ngựa Xích thố, con ngựa có màu đỏ (XÍCH THỐ là con thỏ có màu đỏ, nhưng XÍCH THỐ MÃ lại là con ngựa đỏ).

    Theo sử sách Xích Thố được nhắc đến trong tiểu sử của Lữ Bố trong Tam quốc chí của Trần Thọ và Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Vào năm 193, Lữ Bố đã cưỡi con ngựa này khi giúp Viên Thiệu đánh bại Trương Yên. Xích Thố được cho là chạy nhanh, có thể nhảy qua hào. Trong Tào Man Truyện cũng có nhắc đến Xích Thố với câu: "Người có Lữ Bố, ngựa có Xích Thố".

    Sử sách không nhắc đến chuyện Xích Thố có chủ nào khác ngoài Lữ Bố. Không rõ sau khi Lữ Bố chết, con ngựa này nếu còn sống thì đã về tay ai.

    Còn trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngựa Xích Thố ban đầu của Đổng Trác, sau đó Đổng Trác tặng lại cho Lã Bố. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng.

    Tác giả đã thêu dệt nên câu chuyện rằng sau khi Lã Bố chết, Xích Thố được Tào Tháo cho người chăm sóc, sau trao lại cho Quan Vũ. Khi Tào Tháo tặng ngựa Xích Thố cho Quan Vũ, Quan Vũ nhận ngựa xong liền phục lạy tạ ơn. Tháo đã phải ngạc nhiên nói: "Ta đã bao phen trao tặng nào là mỹ nữ, nào là vàng bạc, nào là gấm vóc, sao chẳng thấy Vân Trường vui, nay cho con ngựa này mà Vân Trường lại tạ ơn hậu như vậy?”

    Quan Vũ cưỡi ngựa Xích Thố qua năm cửa ải chém sáu tướng (chuyện hư cấu, không có thật). Sau khi Quan Vũ bị bắt và chặt đầu, bộ tướng của Phan Chương là Mã Trung được ban cho Xích Thố, nhưng con ngựa này bỏ ăn rồi chết.

    XÍCH 赤 ngoài nghĩa chỉ màu đỏ còn có nghĩa là Không có, là Trống trơn, là Lõa lồ. Như:

    XÍCH THỦ 赤手 (せきしゅ: sekishu) là tay không nên XÍCH THỦ KHÔNG QUYỀN 赤手空拳 (せきしゅくうけん : sekishukuuken) là Tay Không, tay không có cầm binh khí gì

    XÍCH CƯỚC 赤腳 (trong tiếng nhật, chữ CƯỚC đã được giản lược thành 脚) là Đi chân không ta có XÍCH CƯỚC ĐẠI TIÊN 赤腳大仙 (sekkyaku daisen hoặc shakkyaku daisen) là Ông Tiên đi chân không.

    XÍCH THÂN LOÃ THỂ 赤身 (あかみ: akami) 裸 (ら: ra) 體 (từ này theo từ điển Mazii có cùng cách đọc với 体: からだ: karada hoặc với 形: かたち: katachi); là Trần Truồng như nhộng (trong tiếng nhật sẽ dùng từ 赤裸々: せきらら: sekirara).

    XÍCH TỘC 赤族 là Trống trơn cả họ, ý nói giết chết cả họ.

    XÍCH BÁC 赤膊 hay XÍCH THỂ 赤體 là Không mặc gì cả, là mình trần.


    XÍCH 赤 là Trong sạch, nguyên chất, là Trung thành một lòng. Như: XÍCH KIM : là vàng nguyên chất, XÍCH ĐẢM là một lòng không thay đổi.


    Các thành ngữ thường gặp :

    1. XÍCH THẰNG HỆ TÚC 赤繩繫足: Là tơ hồng buộc chân. Tương truyền Vi Cố 韋固 đời Đường gặp “nguyệt hạ lão nhân” 月下老人 (ông lão dưới trăng). Ông lão đem dây đỏ buộc vào chân nam nữ, bảo họ sẽ nên vợ chồng. Đời sau, gọi nhân duyên tiền định là “xích thằng hệ túc” 赤繩繫足. các thành ngữ tương tự: “hồng thằng hệ túc” 紅繩繫足, “xích thằng oản túc” 赤繩綰足.

    2. THẦN CHÂU XÍCH HUYỆN 神州赤縣: Thời Chiến quốc, “Trâu Diễn” 鄒衍 người nước Tề gọi đất “Hoa Hạ” 華夏 là “thần châu xích huyện” 神州赤縣. Sau thành tên gọi khác của “Trung Quốc” 中國.

    3. XÍCH KHẨU BẠCH THIỆT 赤口白舌: Miệng lưỡi độc ác, chuyên ngậm máu phun người (hàm huyết phún nhân). Các thành ngữ tương tự: “hồng khẩu bạch thiệt” 紅口白舌, “xích khẩu độc thiệt” 赤口毒舌.

     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/20
  3. Trạch Nhất

    Trạch Nhất
    Serendipity
    Tuế Tuế Niên Niên Nhân Bất Đồng
    Nguyện Trục Nguyệt Hoa Lưu Chiếu Quân
    Đại Khả Ái Tòa Soạn
    Tiểu Phú Bà Team Review
    Mod box review

    Tham gia ngày:
    2/1/20
    Nguồn: Chiết tự chữ hán
    Ngoài ra mình có chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với việc học tiếng nhật

    SINH - 生

    Chữ này có rất nhiều cách đọc âm Kunyomi nên mình sẽ chỉ nhắc đến hai cách đọc thường gặp nhất là 生 : なま (nama) tức là tươi, sống.
    Ví dụ như khi nói đến truyền hình trực tiếp thì sẽ dùng 生放送 (なまほうそう: namahousou).
    Ngoài ra trong động từ thì có 生きる (いきる: ikiru) tức là sống. Ở Nhật có rất nhiều từ nói về việc sống. Ở đây mình không phân biệt vì sẽ khá dài.
    Âm Onyomi thì chỉ có hai cách đọc là セイ : sei và ショウ : shou
    Ví dụ: nếu trong từ sinh hoạt 生活: せいかつ (seikatsu) thì sẽ đọc là sei.
    Trong cụm 一生懸命 ( いっしょうけんめい : isshoukenmei) nghĩa là cố gắng hết sức có thể thì đọc là shou.



    Có khá nhiều quan điểm về nguồn gốc hình thành chữ SINH 生 . Thứ nhất, chữ SINH 生 là chữ hội ý kết cấu đan xen, bao gồm bộ NHÂN 人 (con người) và bộ THỔ 土 hợp lại mà thành. Tính chất hội ý của chữ SINH 生 là con người sinh ra và lớn lên từ đất. Trong truyền thuyết về Nữ Oa tạo ra con người ( nữ thần thủy tổ của thần thoại trung quốc) và “Sáng thế ký” của người Công giáo có một điểm chung là “đắp đất tạo người”, Con người được tạo ra từ đất. Điều này làm rõ quan điểm của người xưa, con người sinh ra từ cát bụi, sau này chết đi cũng trở về cát bụi.

    Quan điểm thứ hai căn cứ vào hình dạng chữ cổ. Từ giáp cốt văn đến triện văn, chữ 生 được biểu thị là hình ảnh một mầm cây mọc lên trên mặt đất, nét phẩy xuất hiện sau này biểu trưng cho chiếc lá cây, cũng có thể hiểu là hướng mà cây phát triển sẽ là hướng lên trên. Nghĩa gốc của từ này chỉ cây cỏ sinh trưởng trên mặt đất. Ngoài ra chữ “sinh” còn có nghĩa là sản sinh, sáng tạo và nuôi dưỡng.

    Trong thư pháp chữ Khải, chữ “sinh” (生) bên trên là “nhân” (人), bên dưới là “thổ” (土), “con người ở trên mặt đất” nghĩa là sinh. Con người sau khi chết đi thì an vị dưới đất, không thể ở trên mặt đất được. Vậy thì nơi ở của người sống nên là ở trên mặt đất, nơi có ánh Mặt trời, nếu ở lâu trong căn phòng dưới mặt đất hoặc dưới gầm cầu, đường hầm thì sẽ mang đến âm khí u ám, không có lợi cho sức khỏe.

    Nếu nhìn từ góc độ khác, theo lý luận của Đạo gia, trong không gian vũ trụ mà xã hội nhân loại tồn tại này, hết thảy vạn vật đều do âm dương Ngũ hành tạo thành, vật chất cấu thành thân thể người cũng không phải ngoại lệ. “Thổ” đứng vị trí thứ năm trong ngũ hành, cho nên đối với sinh mệnh ở cảnh giới rất cao mà nói, thân thể người chính là đất, con người sống ở thế gian chính là bị chôn vùi trong đất, “sinh” đối với con người lại chính là “tử” trong mắt của các sinh mệnh cao tầng, con người đến thế gian chính là đi vào cõi chết. Câu nói của Lão Tử “xuất sinh nhập tử” (sinh ra là chết đi) chính là có hàm nghĩa như vậy.

    Cho nên con người chỉ có cách duy nhất là khắc khổ tu luyện trong chính Pháp đại Đạo, dũng mãnh tinh tấn, cuối cùng ra khỏi Ngũ hành, mới có thể rời xa cõi chết, bước vào cuộc sống vĩnh hằng.
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/20
    Hoshi Shiori thích bài này.
  4. Trạch Nhất

    Trạch Nhất
    Serendipity
    Tuế Tuế Niên Niên Nhân Bất Đồng
    Nguyện Trục Nguyệt Hoa Lưu Chiếu Quân
    Đại Khả Ái Tòa Soạn
    Tiểu Phú Bà Team Review
    Mod box review

    Tham gia ngày:
    2/1/20
    Nguồn: Nhớ hán tự thông qua chiết tự chữ hán
    Ngoài ra mình có chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với việc học tiếng nhật


    VÔ : 無

    Âm kunyomi: ない : nai
    Âm onyomi: 厶 / ブ : mu/bu
    Hồi xưa học từ 無事 : buji : vô sự, bình an nhưng không nhớ. Về sau khi chơi game, bạn master guild người Nhật dạy lại cho nên nhớ mãi Q.Q

    Nhiều tài liệu về chữ Hán sau này cho rằng: Chữ VÔ 無 là chữ Tượng Hình mô tả một con chim bị đốt trên một đống lửa đang cháy lớn (phần trên của chữ này hơi giống bộ truy còn phần dưới nhìn như đống lửa), con chim bị đốt cháy không còn gì nữa, nên VÔ 無 có nghĩa là "Không có". Thực tế đây là cách giải thích chỉ đơn thuần dựa vào hình thể chữ VÔ 無 hiện nay, người phân tích đã quên là Chữ Hán có một quá trình phát triển lâu dài và chỉ có nghiên cứu tìm hiểu quá trình diễn tiến của chữ ta mới thực sự hiểu đúng ý nghĩa của từng chữ Hán (thông qua các dấu tích khảo cổ mà người xưa để lại). Trên tinh thần học chữ Hán theo nguồn gốc và Lục Thư, xin được Giải thích chữ VÔ 無 như sau:

    VÔ 無 thuộc dạng chữ Giả Tá. Cả chữ VÔ 無 và VŨ 舞 (âm kun: ま / まい : ma/mai, âm on: ブ : bu). Chữ vũ này là vũ trong vũ đài hoặc khiêu vũ chứ không phải vũ trong lông vũ hay vũ trong mưa đâu) đều có chung một nguồn gốc, nói một cách chính xác hơn VÔ nguyên là chữ VŨ. Trong Giáp cốt Văn chữ là hình ảnh một vũ công đang múa với những chiếc đuôi ngựa ở trên tay. Hoạt động múa diễn ra trong các lễ hội hoặc các buổi tiệc của vua chúa. chữ VÔ nghĩa gốc là Múa nhưng sau đó được mượn (giả tá) để chỉ nghĩa là "không có", nghĩa gốc dần dần cũng bị mất hẳn. Vì VŨ đã được mượn hẳn và trở thành chữ VÔ, nên để chỉ nghĩa gốc là "múa" , người ta đã thêm hình ảnh hai bàn chân ở phía dưới (xem diễn tiến chữ VŨ phần dưới ảnh), để trở thành VŨ như ngày nay: 舞 (phân biệt với chữ VÔ 無).

    Trong ngôn ngữ ta biết rằng tiếng nói có trước, chữ viết có sau. Xã hội ngày càng phát triển, trong khi tiếng nói ngày càng đa dạng, mà chữ viết thì giới hạn. Để giải quyết vấn đề khó khăn này, người Hán đã phát triển thêm một phép tạo chữ mới là Giả Tá, đây là cách mượn chữ đã có sẵn để diễn tả một sự hình dung mới. Chữ Giả tá có thể có chung hình thái và âm đọc với chữ gốc (chỉ mượn để chỉ thêm ý khác), hoặc một số chữ Giả Tá vốn không có chữ đó, mượn chữ để diễn một ý khác hơn nghĩa gốc của chữ đó (như trong trường hợp VÔ 無 và VŨ 舞 đã nói ở trên) .

    Quay trở lại với chữ VÔ 無. VÔ 無 là Không có, là trái với HỮU 有 (âm kun: あ : a, âm on: ユウ / ウ : yuu/u. Trên thực tế thì mình chưa gặp âm on "u" của từ này bao giờ, hoặc có thể ít gặp nên mình không nhớ. Âm kun thì hay gặp nhất trong từ あります : arimasu: tức là có, nhưng không dùng cho sinh vật sống) là Có.

    Như:
    VÔ ĐỊCH 無敵 (むてき : muteki) là Không có đối thủ, Không ai chống lại nổi.
    VÔ CƯƠNG 無疆 (tiếng nhật không có từ này. Tuy nhiên nếu theo quy tắc âm on thì từ này có lẽ đọc là むきょう: mukyou hoặc ぶきょう : bukyou vì chữ cương 疆 có cách đọc âm kun là さかい : sakai và âm on là キョウ : kyou) hay VÔ BIÊN 無邊 (trong tiếng nhật thấy dùng từ này: 無辺 : むへん : muhen tức là vô biên. Chữ biên 邊 có nhưng chưa từng gặp, dù cùng cách đọc âm kun là あた / ほと / べ : ata/hoto/be và âm on là ヘン : hen đồng thời mang ý nghĩa giống biên 辺. Có lẽ do khó viết hơn) là Không có giới hạn, ý nói nhiều lắm, lớn lắm.
    VÔ ƯU 無憂 (nhật cũng không dùng từ này luôn nhưng theo quy tắc âm on thì chắc đọc là むゆう : muyuu. Tra từ điển thì không có nhưng đánh máy thì vẫn ra) là Không nghĩ ngợi lo buồn gì cả.

    ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ 獨一無二 (nhật dùng cụm này 天下無双 : てんかむそう : tenkamusou hoặc 天下無比 :てんかむひ : tenkamubi) là có một không hai.
    VÔ MINH 無明 (むみょう : mumyou) là ngu si, không có trí tuệ.

    VÔ 無 thông nghĩa với VÔ 毋 (âm on tương tự chữ VÔ bài đang nói đến còn âm kun là はは / ぼ / ない / なか) nghĩa là Đừng, là chớ, là Không nghĩa là Đừng, là chớ, là Không nên. VÔ 無 cũng thông nghĩa với PHI 非 (âm kun: あら, âm on:ヒ) nghĩa là Không phải, chẳng phải.

    Chữ VÔ 無 còn được đọc là MÔ. như: NAM MÔ 南無 (なむ : namu) đây nguyên tiếng Phạn là "Namah", nghĩa là quy y, cung kính.

    VÔ dùng như PHỦ 否 (âm on như chữ PHI còn âm kun là いな / いや : ina/iya) đặt ở cuối câu dùng để hỏi mang nghĩa là Không?, chăng?

    Các thành ngữ thường gặp:

    VÔ CỔ BẤT THÀNH KIM 無古不成今 Không có ngày xưa thì sẽ không hình thành được ngày nay. Câu này trong tập "Tăng Quảng Hiền Văn", nguyên văn như sau :观今宜鉴古,无古不成今 (Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim) Nghĩa là : thấy ngày nay thì nên xem xét ngày xưa, không có ngày xưa thì không thành ngày nay được. Một sự vật hiện tượng nào mà ta thấy hôm nay cũng đều do một chuỗi các diễn biến thay đổi trong quá khứ mà thành. Do đó muốn hiểu sự vật hiện tượng ngày nay một cách sâu sắc thấu đáo thì không thể không xem xét sự vật hiện tượng này ngày xưa ra sao, diễn biến, thay đổi thế nào, vì sao thay đổi. Có như vậy ta mới hiểu rõ về nó, hiểu quy luật thay đổi, và có thể dự đoán được tương lại của nó.

    HỮU THỦY VÔ CHUNG 有始無終 là có mở đầu mà không có kết thúc, chỉ lòng dạ con người hay đổi thay, có mới nới cũ.

    HỌA VÔ ĐƠN CHÍ 禍無單至: nghĩa là tai vạ không tới một mình, mà còn lôi kéo thêm nhiều tai vạ khác. Cũng chỉ vận rủi, có nhiều tai vạ cùng xảy tới. Cũng nói HOẠ BẤT ĐƠN HÀNH ( tai vạ chẳng đi một mình ). Câu nói "Phước bất trùng lai, Họa vô đơn chí" là cách nói thuần tuý của người Việt Nam ta, người Trung Quốc thì nói là: PHƯỚC VÔ SONG CHÍ, HỌA BẤT ĐƠN HÀNH 福無雙至,禍不單行.

    TỨ CỐ VÔ THÂN 四顧無親: CỐ 顧 là ngoảnh đi nghảnh lại để nhìn, TỨ CỐ là nhìn khắp bốn bể, VÔ THÂN là không ai thân thích. Thành ngữ này chỉ cảnh sống đơn độc, không họ hàng thân thích, không nơi nương tựa.

    CỬ MỤC VÔ THÂN 舉目無親 : Đưa mắt nhìn không thấy ai thân thuộc. Hình dung kẻ ở quê người hoặc cô đơn không ai nương tựa.

    MỤC HẠ VÔ NHÂN 目下無人: Dưới mắt không người, chỉ sự khinh người, tự phụ. Thành ngữ này tương tự như các thành ngữ : BÀNG NHƯỢC VÔ NHÂN 傍若無人; MỤC TRUNG VÔ NHAN 目中無人, MỤC VÔ DƯ TỬ 目無餘子.

    CƯ VÔ CẦU AN 居無求安: Ở không cần cho an nhàn sướng thích. Luận Ngữ 論語:
    "Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chánh yên, khả vị hiếu học dã dĩ” 君子食無求飽, 居無求安, 敏於事而慎於言, 就有道而正焉, 可謂好學也已 (Học nhi 學而) Người quân tử ăn không cầu được no thừa, ở không cần cho an nhàn sướng thích, làm việc siêng năng mà thận trọng lời nói, tìm người đạo đức để sửa mình, như vậy có thể gọi là người ham học.

    VÔ CÔNG BẤT THỤ LỘC 無功不受祿 :Nghĩa là không có công sức gì hết thì không dám nhận bổng lộc. Câu nầy dùng để từ chối khi không biết vì sao lại được thưởng.

    VÔ TRUNG SINH HỮU 無中生有 có nghĩa là không có mà làm thành có. Đây là tên một kế trong 36 kế. Bản chất của kế này là đánh lạc hướng, làm rối beng sự việc lên, tung tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào đó mà thủ lợi.

    CẨN TẮC VÔ ƯU 謹則無憂 : Thận trọng giữ gìn thì không phải lo lắng về sau.

    CAO CHẨM VÔ ƯU 高枕無憂 : Gối cao nhàn nhã không lo lắng. theo nghĩa đen có nghĩa là kê cao gối ngủ mà không phải lo lắng. Nó thể hiện hình ảnh một người có thể ngủ trong hòa bình mà không có bất kỳ lo lắng cuộc sống nào hết, được sử dụng để mô tả sống một cuộc sống yên bình và không có ưu phiền. Câu nói này bắt nguồn từ câu chuyện về Mạnh Thường Quân và Phùng Huyên được đưa ra trong “Sách Chiến Quốc” (戰國策):
    Thời Chiến Quốc (475-221 TCN), Mạnh Thường Quân là người được trọng vọng nhất trong giới quan chức nước Tề. Ông là một người thân thiện gần gũi lại thành tâm đãi ngộ người tài đức, nên đã có rất nhiều hầu gia cùng thân tín lui tới nhà ông trong một thời gian rất dài. Một trong số đó là Phùng Huyên.
    Không giống đa số người khác, Phùng Huyên là một người trầm tĩnh, và ít nói ra kiến giải của mình mỗi khi được Mạnh Thường Quân hỏi.
    Một lần nọ, Mạnh Thường Quân nhờ Phùng Huyên đến xứ Tiết để thu tô thuế của vùng đó.
    Phùng Huyên nhận lệnh và đến nơi ngay, nhưng thay vì thu tô, ông thản nhiên cầm phiếu thu tô đốt ngay trước mặt nhân dân, đồng thời mở tiệc chiêu đãi chúng dân. Ông nói: “Mạnh Thường Quân đúng là một chủ nhân tốt, ngài không tiếc gì chút tiền của nhỏ này, cho nên cấp cho mọi nhà. Chủ yếu ngài mong mỏi cải thiện hơn đời sống của nhân dân, số tiền này cấp cho mọi người, không cần trả lại cho ngài nữa”.
    Nhân dân nghe xong vô cùng cao hứng, trong tâm đối với Mạnh Thường Quân thập phần cảm kích.
    Vài năm sau, Mạnh Thường Quân bị giáng chức và được đưa đến vùng Tiết xa xôi đó. Khi đưa gia đình đến nơi, Ông không khỏi chấn động trước sự chào đón nhiệt tình của người dân, họ nói rằng họ muốn được trả ơn cho sự hào phóng của Ông đã giúp đỡ người dân lần trước.
    Đến tận thời điểm đó, Mạnh Thường Quân mới sáng tỏ điều tuyệt vời mà Phùng Huyên đã làm cho mình. Tuy nhiên Phùng Huyên đã nói với Mạnh Thường Quân là sẽ không chỉ có thế, mà còn làm cho Mạnh Thường Quân quay về làm tướng quốc của nước Tề.
    Sau đó, Phùng Huyên đã đi yết kiến vua nước Ngụy và thuyết rằng: “Mạnh Thường Quân là người rất có tài năng, nếu quý quốc có thể thâu nhận nhất định sẽ hữu ích”. Ngay sau đó Mạnh Thường Quân đã được vua Ngụy trọng vọng, mời đảm trách một vị trí quan trọng trong triều Ngụy.
    Hay tin Mạnh Thường Quân được phong hầu tại triều Ngụy, vua Tề mới biết mất nhân tài, bèn sốt sắng cho người tìm đến Mạnh Thường Quân. Ông hứa sẽ phục chức Tướng Quốc cho Mạnh Thường Quân.
    Đến lúc này, Phùng Huyên khuyên Mạnh Thường Quân nên lịch sự từ chối vị trí mà vua Ngụy cấp, cùng với đó cầu vua Tề xây dựng một Điện Triều tại xứ Tiết.
    Sau khi ngôi điện được xây dựng, Phùng Huyên nói với Mạnh Thường Quân: “Bây giờ ngài có 3 nơi để sống. Ngài có thể kê cao gối ngủ mà không cần lo nghĩ nữa rồi”.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/3/20
  5. Trạch Nhất

    Trạch Nhất
    Serendipity
    Tuế Tuế Niên Niên Nhân Bất Đồng
    Nguyện Trục Nguyệt Hoa Lưu Chiếu Quân
    Đại Khả Ái Tòa Soạn
    Tiểu Phú Bà Team Review
    Mod box review

    Tham gia ngày:
    2/1/20
    TRƯỜNG - 長

    Âm kun: なが / おさ : naga/osa (Mình chưa gặp âm kun osa bao giờ, hoặc do ít thấy nên không nhớ. Chủ yếu là thấy naga
    Âm on: チョウ : chou


    TRƯỜNG 長 thuộc dạng chữ Tượng Hình, từ Giáp Cốt Văn đến Đại Triện là hình tượng một người đứng đưa tay về phía trước, trên đầu là hai sợi tóc dài bay về phía sau; đến chữ Tiểu Triện thì thành 3 sợi tóc và bên dưới là hình chữ TẨU 走 (âm kun: はし : hashi, âm on: ソウ : sou) là Đi và lại thêm một nét cong như là vạt áo bay về phía sau. Nên, TRƯỜNG là DÀI, là LÂU, là mượn hình tượng cụ thể để diễn tả một ý trừu tượng. Vì chẳng những có Ý là DÀI, khi TRƯỜNG 長 được Giả Tá mượn đọc là TRƯỞNG thì lại có nghĩa là LỚN nữa!

    TRƯỜNG 長 là DÀI, cả về không gian và thời gian nữa.
    Như:
    TRƯỜNG ĐOẢN 長短 : ちょうたん : choutan là Dài Ngắn.
    TRƯỜNG SAM 長衫: là Áo Dài.
    TRƯỜNG CỬU 長久 : ちょうきゅう : choukyuu : là Lâu Dài.
    TRƯỜNG KỲ 長期 : ちょうき: chouki là Cái Kỳ hạn lâu dài.
    TRƯỜNG DẠ 長夜 : ちょうや : chouya là Đêm Dài...

    TRƯỜNG THIÊN TIỂU THUYẾT 長篇小說: Ta nói là Truyện Dài; Ngược lại ĐOẢN THIÊN TIỂU THUYẾT là Truyện Ngắn. (Trong tiếng nhật, truyện dài là 長編小説 hoặc 長篇小説 đều được đọc là ちょうへんしょうせつ : chouhenshousetsu, truyện ngắn là 短編 : たんぺん : tanpen)

    TIỆT TRƯỜNG BỔ ĐOẢN 截长补短 Là Cắt dài vá ngắn

    SƠN CAO THỦY TRƯỜNG 山高水長 là Núi cao sông dài, chỉ cảnh đẹp đất nước; Cũng chỉ sự vững bền, như núi lúc nào cũng cao, sông lúc nào cũng dài.

    VẠN CỔ TRƯỜNG THANH 万古长青: Là muôn đời xanh tươi. Ý nói đến sự bền vững trong quan hệ; quan hệ hữu nghị bền vững.

    VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH 萬里長城: là bức tường thành nổi tiếng của Trung Quốc liên tục được xây dựng bằng đất và đá từ Thế kỷ thứ 5 TCN cho tới Thế kỷ thứ 16, để bảo vệ Đế quốc Trung Quốc khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ, người Turk, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông Cổ và Mãn Châu.

    TRƯỜNG 長 còn có nghĩa là SỞ TRƯỜNG 所長 : しょちょう : shochou Tức là Giỏi về một bộ môn nào đó, như TRƯỜNG VU ÂM NHẠC 長于音樂: là Giỏi về Âm Nhạc; TRƯỜNG VU TẢ TÁC 長于寫作 : là Giỏi về viết lách, sáng tác... Ta có thành ngữ CÁC HỮU SỞ TRƯỜNG各有所長: là Mỗi người đều có Sở Trường riêng của mình.

    Khi TRƯỜNG được Giả Tá đọc là TRƯỞNG thì có nghĩa là LỚN, như TRƯỞNG THÀNH 長成: là Lớn Lên, Ý chỉ Đã Khôn Lớn.

    SINH TRƯỞNG 生長 : せいちょう : seichou Được sinh ra và lớn lên.

    YỂN MIÊU TRỢ TRƯỞNG 揠苖助長: là Rút cây lúa cao lên để giúp cây lúa mau lớn, ý nói nóng nảy muốn mau chóng thì chỉ hư việc và tỏ ra kém hiểu biết.

    TRƯỞNG còn có nghĩa là Nuôi Cho Lớn, như trong Kinh Thi, chương Tiểu Nhã, bài LẠO NGA:
    父兮生我,母兮鞠我。拊我畜我,長我育我,顧我復我,出入腹我。欲報之德,昊天罔極! Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, phủ ngã súc ngã, TRƯỞNG ngã dục ngã, cố ngã phục ngã, xuất nhập phúc ngã. Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực!

    Có nghĩa:
    Cha thì Sanh ta, mẹ thì mang nặng ta, ẳm bồng đút mớm, nuôi nấng dạy dỗ ta, chăm nom ta lúc bệnh hoạn, Ra vào lo lắng cho ta. Muốn báo ơn sâu nầy, ví như trời cao thăm thẳm!

    TRƯỞNG còn chỉ người Đứng Đầu, như: TRƯỞNG NAM 長男 : ちょうなん : chounan.
    TRƯỞNG NỮ 長女 : ちょうじょ : choujo.
    TRƯỞNG BỐI 長輩
    GIA TRƯỞNG 家長 : かちょう : kachou.
    THỦ TRƯỞNG 首長 : しゅちょう : shuchou.
    THUYỀN TRƯỞNG 船長 : せんちょう : senchou.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/3/20
  6. Trạch Nhất

    Trạch Nhất
    Serendipity
    Tuế Tuế Niên Niên Nhân Bất Đồng
    Nguyện Trục Nguyệt Hoa Lưu Chiếu Quân
    Đại Khả Ái Tòa Soạn
    Tiểu Phú Bà Team Review
    Mod box review

    Tham gia ngày:
    2/1/20
    AN - 安

    Âm kun: やす : yasu
    Âm on: アン : an

    Bàn về chữ 《安》”An” – Phụ nữ trong nhà, bình yên mọi nẻo. (Ngoài ra trong tiếng nhật, 安い : yasui nghĩa là rẻ)

    Người xưa nói, phụ nữ trong nhà thì “An”. Chữ “An” trong chữ tượng hình gồm bộ “miên” (chỉ mái nhà) và bộ “nữ” (âm on là ジョ : jo và âm kun là おんな : onna) (chỉ người phụ nữ) kết hợp với nhau tạo thành “An”. Cổ nhân muốn nói “phụ nữ ở trong nhà thì An“

    Đầu tiên theo đúng nghĩa đen của chữ, phụ nữ ở trong nhà sẽ được bảo hộ bình an.

    Trong Văn hóa Phương đông, người xưa coi trẻ con và phụ nữ là “tiểu nhân”, không phải để nói về tính cách hay đạo đức, mà để diễn đạt về hình thể. Trẻ em và phụ nữ là những đối tượng bé nhỏ, cần được bảo vệ. Thế nên, “phụ nữ ở trong nhà sẽ có được an toàn”.
    Việc bảo vệ và chăm lo được cho người phụ nữ của mình là trách nhiệm mà người đàn ông phải đảm đương. Phụ nữ chỉ cần bình an sống trong nhà, chăm sóc gia đình là được.

    Tiếp theo, trong nhà có phụ nữ thì sẽ bình an.

    Ở đây là nói đến vai trò của người vợ, người mẹ trong gia đình. Khi có mẹ ở cạnh bên con cái sẽ được giáo dưỡng tốt hơn, lớn lên trong sự an toàn bởi có mẹ luôn kề bên. Có mẹ ở nhà con cái sẽ được yêu thương, được quan tâm chăm sóc. Đây chính là “dưỡng”. Đồng thời, người mẹ còn là người nắm giữ lề lối gia phong, lấy tình yêu của bản thân mà hướng dẫn con cái đến những điều tốt đẹp, dạy dỗ con hướng đến những giá trị đạo đức cao cả. Đây chính là “giáo”.

    Không chỉ thế, khi mẹ ở cạnh con, thế giới tinh thần của đứa trẻ cũng phát triển vô cùng bình ổn. Người xưa nói “yêu thương như mẹ” là vì vậy. Đó không chỉ là tình cảm đơn thuần, vô điều kiện, mà còn là sự lý trí của người mẹ khi lấy tình cảm để giáo huấn con cái trưởng thành. Vì thế, đối với tất cả những người con, mẹ ở trong nhà sẽ được bình an là vậy.

    Người chồng trong xã hội cũ mang trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất đối với gia đình, trách nhiệm với xã hội. Cho nên, chồng là người đối ngoại, vợ là người đối nội.

    Chồng là trời, vợ là đất, trời là dương, đất là âm. Trong gia đình cần âm dương hòa hợp. Có thể thấy, có sự phân vai hết sức rõ ràng trong cấu trúc gia đình truyền thống. Thế nên, người vợ ở trong nhà khiến người chồng yên tâm ra ngoài làm việc. Anh ta không phải lo lắng cho con, cho cha mẹ già trong nhà nữa. Vì đã có người vợ thay anh ta làm điều đó. Đồng thời, gia tài cũng được quản lý sát sao vì đã có vợ ở nhà. Thế nên, vợ ở trong nhà là bình yên như vậy đó.
     

Chia sẻ trang này