[ Cổ Đại ] Nắng Trên Vườn Vải (Phần 1, Quyển 2) - Trí Toàn Minh Đăng

Thảo luận trong 'Truyện Dài' bắt đầu bởi Trí Toàn Minh Đăng, 8/1/20.

Lượt xem: 842

  1. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    [​IMG]

    Tác phẩm: Nắng Trên Vườn Vải
    Tác giả: Trí Toàn Minh Đăng
    Tình trạng sáng tác: Chưa hoàn thành
    Tình trạng đăng: Đang ra
    Lịch đăng: Khoảng 4 tuần/chương
    Thể loại: Dã sử, xuyên không, hành động, trinh thám, kinh dị, tâm linh
    Độ dài: Khoảng 200.000 từ
    Giới hạn độ tuổi đọc: 16+ [M]
    Cảnh báo về nội dung: Có sử dụng bạo lực
    Nguồn: truyencuatoi.com
    Thảo luận: Các tác phẩm của Trí Toàn Minh Đăng

    GIỚI THIỆU

    Tiếp nối câu chuyện của quyển một, quyển hai sẽ là cuộc hành trình phá những vụ án mới của ba bạn trẻ đến từ tương lai, nhằm truy tìm manh mối dẫn đến vụ án Lệ Chi Viên. Họ sẽ đối mặt với những thế lực nào, kết thân với ai, và phải vượt qua những thử thách mới như thế nào.

    Nắng Trên Vườn Vải là bộ truyện lấy cảm hứng từ vụ án oan nổi tiếng trong lịch sử - vụ án Lệ Chi Viên, và cuộc hành trình của ba bạn trẻ quay về thời Lê Sơ để tìm hiểu về sự thật của vụ án, cũng như tìm mọi cách minh oan cho Nguyễn Trãi và giúp đỡ những hậu duệ còn lại của dòng họ Nguyễn. Truyện là sự kết hợp của các yếu tố lịch sử, trinh thám, hành động, hài hước (và bi kịch), hy vọng sẽ đem lại cho độc giả trong nước và ngoài nước một góc nhìn mới về lịch sử Việt Nam.

    Xin mời mọi người đón đọc.

    MỤC LỤC

    THIẾT LẬP NHÂN VẬT
    Chương 51: LƯƠNG Y
    Chương 52: CANH BA
    Chương 53: NHẮN GỬI
    Chương 54: THẾ LỰC
    Chương 55: VÕ GIAI
    Chương 56: ĐÊM THÂU
    Chương 57: LỰA CHỌN
    Chương 58: CÚNG GIỖ
    Chương 59: DUYÊN ÂM
    Chương 60: Y ĐỨC
    Chương 61
    Chương 62
    Chương 63
    Chương 64
    Chương 65
    Chương 66
    Chương 67
    Chương 68
    Chương 69
    Chương 70
    Chương 71
    Chương 72
    Chương 73
    Chương 74
    Chương 75
    Chương 76
    Chương 77
    Chương 78
    Chương 79
    Chương 80
    Chương 81
    Chương 82
    Chương 83
    Chương 84
    Chương 85
    Chương 86
    Chương 87
    Chương 88
    Chương 89
    Chương 90
    Chương 91
    Chương 92
    Chương 93
    Chương 94
    Chương 95
    Chương 96
    Chương 97
    Chương 98
    Chương 99
    Chương 100
    Ngoại Truyện 4: Chuyến Đi Lạc​

    NHỮNG TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Chữ Nôm và Công Việc Khảo Cứu Cổ Văn Việt Nam - Dương Quảng Hàm
    2. Đại Từ Điển Chữ Nôm - Vũ Văn Kính
    3. Đại Việt Sử Kí Toàn Thư - Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sỹ Liên
    4. Đại Việt Thông Sử - Lê Quý Đôn
    5. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
    6. Lam Sơn Thực Lục - Nguyễn Trãi
    7. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí - Phan Huy Chú
    8. Nghìn Năm Áo Mũ - Trần Quang Đức
    9. Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu) - Nhiều tác giả
    10. Quốc Âm Thi Tập - Nguyễn Trãi
    11. Quốc Triều Hình Luật - Viện Sử Học
    12. Tứ Thư Bình Giải - Lý Minh Tuấn
    13. Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) - Nhiều tác giả
    14. Thập Bát Ban Võ Nghệ - Lê Văn Tâm
    15. Thuốc Nam - Nguyễn Công Đức
    16. Trang thơ Lê Thánh Tông (thivien.net)
    17. Trung Dược Lâm Sàng - Trương Thụ Sinh, Vương Chi Lan
    18. Tuệ Tĩnh Toàn Tập - Nguyễn Bá Tĩnh
    19. Ức Trai Di Tập Dư Địa Chí - Nguyễn Trãi
    20. Việt Điện U Linh Tập - Lý Tế Xuyên
    21. Việt Nam Phong Tục - Phan Kế Bính
    22. Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
    23. Vũ Trung Tuỳ Bút - Phạm Đình Hổ
    Cùng các tài liệu khác liên quan đến võ cổ truyền, đối đáp, văn thơ, các nghiên cứu tâm lý học (sẽ được trích dẫn sau mỗi chương) và kiến thức học thuật cũng như thực tế của tác giả.
     
    Chỉnh sửa cuối: 5/6/20
  2. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    THIẾT LẬP NHÂN VẬT
    (Cảnh báo: Có rất nhiều spoiler liên quan đến các phần sau.)

    NHÂN VẬT CHÍNH


    Pax William Dang-Raines

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Pax William Dang-Raines, hay Đặng Duy An (chữ Hán: 鄧惟安, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1999), tự Đức Bình (徳平), hiệu Huệ Nhiên (僡然), là một trong ba nhân vật chính của bộ truyện “Nắng Trên Vườn Vải”. Cậu chính là người kể chuyện xuyên suốt ba phần, xưng “tôi”, và đóng vai trò chủ chốt trong việc minh oan cho Nguyễn Trãi. Mối quan hệ của cậu và Nguyễn Trãi như thế nào sẽ dần dần được hé lộ trong các phần sau.

    Khi câu chuyện bắt đầu, Pax đã gần được 18 tuổi. Cậu vốn là con một, được sinh ra trong một gia đình với mẹ là người Việt, Đặng Quỳnh Chi, và ba người là Mỹ gốc Ai-len, Jason Justice Raines. Năm 12 tuổi, cậu trở thành anh trai nuôi của Andrey, đơn giản vì cậu sinh trước Andrey sáu tháng (nhưng giống em trai nuôi hơn). Từ nhỏ, xung quanh cậu toàn những thành phần thông minh tuyệt đỉnh: ba, mẹ, họ hàng nội ngoại, và có thêm hai thằng bạn thân tài giỏi càng khiến cậu cảm thấy mình lép vế. Mặc dù ba mẹ cậu không đặt kỳ vọng gì quá nhiều, cậu vẫn cảm nhận được một thứ áp lực vô hình khiến bản thân luôn cảm thấy vô dụng. Ở trường, nếu không có sự giúp đỡ của Andrey thì cậu nghĩ mình sẽ không thể vào nổi đại học. Trong lớp, vì tâm trí hay bị xao nhãng nên cậu chỉ học giỏi môn “Lịch Sử Thế Giới Cận Đại”, học kha khá môn “Nhà Nước và Chính Trị Mỹ”, và dở đều các môn còn lại. Pax luôn tự nhận mình ngu nhất nhóm, bởi thế nên cậu rất lười suy nghĩ và thích hùa theo số đông. Theo cậu, suy nghĩ là việc của Andrey, hoặc Nick, chứ đời nào mới đến lượt cậu? Cậu cũng chẳng thèm lãnh đạo hay dạy dỗ ai, bởi thầy không giỏi thì trò làm sao giỏi được? Chính vì sự thiếu tin tưởng vào bản thân sẽ khiến Pax gặp rất nhiều rắc rối sau này.

    Pax ngây thơ, hiền lành và thích làm việc thiện. Cậu là cái dạng công chúa và hoàng tử kinh điển trong phim Disney (không phải anh hùng nha), luôn lý tưởng hoá mọi thứ và chỉ nhìn vào mặt tốt của người khác. Cậu tin vào câu “ở hiền gặp lành”, và “nhân chi sơ tính bổn thiện”, sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai gặp nạn bên đường. Vì mẹ cậu rất tâm lý, nên dù là con trai, Pax vẫn không có vấn đề gì khi bộc lộ cảm xúc, tình cảm và đặc biệt là sự yếu đuối của bản thân trước mặt người khác. Vui thì cười, buồn thì khóc. Đơn giản thế thôi! Vì thế Pax rất dễ đoán, lại nói dối dở tệ. Cậu lãng mạn, mà theo Andrey là “tâm hồn treo ngược cành cây”, cực kì thích văn chương thi phú nên đọc rất nhiều thơ và tiểu thuyết, và giống như Nick, cậu rất thích kịch. Pax ghen tị với tài năng hội hoạ của Nick, bởi thứ cậu vẽ được duy nhất là người que tăm. Nói chung là Pax ghen tị nhiều thứ lắm, nhưng bởi là một con người quá tử tế, cậu sẽ nuốt cơn ghen xuống bụng và chuyển qua đổ thừa bản thân vì đã chưa cố gắng đủ - rằng cậu mãi mãi là một tên bất tài vô dụng.

    Pax là tên luỵ tình, và có sự trung thành tuyệt đối với bạn bè. Dù bọn bạn thân khốn nạn có làm cậu phật lòng, cậu vẫn rộng lượng tha thứ và một lòng một dạ sẵn sàng chết vì họ. Không như hai thằng kia, thù dai như đỉa, Pax rất ít khi để bụng chuyện gì, đặc biệt là với người cậu yêu quý. Với một Andrey nóng tính và thích làm đại ca, Pax luôn nhường nhịn để tránh làm to chuyện. Pax rất ngưỡng mộ Andrey, luôn lấy Andrey làm tấm gương sáng chói mà mình lâu lâu mới noi theo. Còn với Nick, cậu luôn coi thằng bạn là đồng bọn trong những phi vụ chơi khăm Andrey, và hai thằng nhóc có một điểm chung rất lớn là niềm đam mê nghệ thuật.

    Đừng coi Pax “hiền” và “khờ” vậy thì coi thường! Thằng nhỏ giấu nghề thôi! Học võ cổ truyền từ năm tám tuổi, Pax có những phẩm chất của một con nhà võ chính hiệu. Chỉ là cậu không biết và không nhận ra điều đó. Nhìn chung thì Pax bị người khác (và Andrey) chửi ngu riết rồi thì cậu không nhìn ra các phẩm chất tốt của mình. Khi nào người khác chỉ ra thì cậu mới, “Ủa, tui có cái đó hả?”. Nếu nói theo kiểu ngày xưa thì Pax chính một “chính nhân quân tử”, một đấng anh hùng “văn võ song toàn”, và là một chàng trai được nhiều cô gái mơ ước lấy làm chồng. Nhưng vì ở hiện đại mấy thứ tài năng đó cậu xem như không có ích cho sau này, nên giá trị bản thân tự động bị giảm đi quá nửa.

    Pax dễ bị dụ, dễ tin người, lại tính bộp chộp, thích làm anh hùng rơm nên người nào nắm thóp được điểm này thì coi như có thể hớt tay trên của cậu ngọt xớt. Ví dụ điển hình trong truyện là thằng Andrey và quan huyện thừa Trịnh Viêm. Andrey hớt tay trên của Pax như cơm bữa, cũng chỉ vì cậu lo lắng và quan tâm tới anh mình, không muốn Pax làm việc gì ngu ngốc. Trịnh Viêm là do bệnh nghề nghiệp, phải phán đoán và nhìn người để truy bắt tội phạm. Thật ra Nick cũng có thể làm thế trong một vài trường hợp, nhưng thường thì cậu không nỡ, tại cậu thương thằng bạn khù khờ của mình quá! Pax khi phát hiện ra mình bị lừa thì rất đáng sợ… chừng vài phút thôi, sau đó cậu sẽ tìm hiểu nguyên nhân về cú lừa kia và tìm cách giải quyết mọi chuyện cho ổn thỏa. Nói rồi, thằng nhóc này không thể nào thù dai được.

    Nói thẳng ra thì Pax William Dang-Raines là một con người quá tốt trong một cái thế giới quá xấu xa mà tác giả đã dựng lên.


    Andrey Sylvester Zakharov

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Andrey Sylvester ‘Petrovich’ Zakharov, hay Andrey Zakharov (tiếng Nga: Андрей Сильвестр ‘Петрович’ Захаров, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1999), tự Anh Giản (瀴僩), là một trong ba nhân vật chính của bộ truyện “Nắng Trên Vườn Vải”.

    Andrey là kiểu người mới nhìn vào thì tưởng nguy hiểm, nhưng khi đã quen thân thì mới biết cậu… nguy hiểm thật! Xung quanh cậu luôn có một luồng ám khí mà khiến ai trong phạm vi gần cũng có thể rùng mình. Cậu có thứ sức hút bí ẩn của một người có tố chất lãnh đạo. Không như Pax, Andrey biết rõ điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, và sẽ không từ mọi cách để đạt được mục đích. Cậu biết khai thác triệt để trí thông minh và ngoại hình để xây dựng các mối quan hệ, leo lên chức Chủ tịch Hội Học Sinh, kiêm luôn thủ khoa của khối, ẵm về đủ các loại giải thưởng từ các cuộc thi học sinh giỏi của bang, và trở thành thực tập sinh bán thời gian trong phòng mạch khi mới 17 tuổi. Nói thẳng ra thì cậu chính là “con nhà người ta” trong truyền thuyết, và hình tượng đứa con gương mẫu trong mắt quý vị phụ huynh. Cuối cùng thì công sức bỏ ra đã được đền đáp, khi cậu được nhận vào đại học John Hopkins, học tiền y khoa, với ước mơ sau này được trở thành bác sĩ nhi. Chính vì quá tự tin, quá cứng nhắc vạch nên một tương lai hoàn hảo sau này cho mình, mọi thứ đối với cậu thực sự bị đảo lộn khi quay về thời quá khứ.

    Andrey trước khi bị tai nạn giao thông (để lại vết sẹo trên trán) năm tám tuổi là một đứa trẻ hiền lành, dễ mến và thân thiện. Andrey sau tai nạn là một đứa trẻ nóng tính, cọc cằn, thô lỗ. Cậu rất nóng nảy, dễ phát khùng, hay càu nhàu, chửi rủa, và la hét inh ỏi từ những thứ nhỏ nhặt nhất, như một ông già khó tính. Bởi thế bạn bè thời tiểu học dần dần xa lánh cậu, chỉ có thằng Pax là lì lợm bám dính lấy cậu. Lên trung học, nhận ra điểm trừ này, cậu quyết định trưng ra bộ mặt lầm lì. Chỉ có hai thứ duy nhất trên đời làm cậu phá vỡ hình tượng cục băng thôi – đó là mấy thằng ngu và gái đẹp. Cậu luôn cố gắng kiềm chế những cơn giận bộc phát trong lòng và chỉ dám xả van mỗi khi tập võ cổ truyền. Cậu học võ chỉ vì bị Pax dụ dỗ chứ thật ra cũng không thích lắm, sau này tiếp tục theo vì cậu thấy nó có ích trong việc tự vệ và có lợi cho sức khoẻ chứ chẳng có lý do sâu xa gì đâu. Andrey thích nhất là ngồi hàng giờ trong phòng thí nghiệm của trường và lẽo đẽo đi theo người anh họ của Pax đang làm dược sĩ ở phòng mạch. Đối với cậu, giúp người và cống hiến cho khoa học mới là điều quan trọng nhất.

    Học giỏi bao nhiêu thì chuyện tình cảm càng ngu bấy nhiêu. Cậu hay chửi Pax (và đôi khi là Nick) ngu nhưng về khoản này hai thằng kia ăn đứt cậu. Andrey rất dở trong việc truyền đạt tình cảm của mình tới người cậu yêu quý. Với hai thằng bạn chuyên môn đi gây chuyện, cậu thể hiện tình cảm bằng cách âm thầm lo lắng và đi theo bảo vệ, còn ngoài mặt thì luôn ra vẻ "đại ca", xỉa xói và chửi bạn mình như cơm bữa. Thật ra Andrey rất nhạy cảm và dễ tổn thương (giấu kĩ lắm, sợ mất hình tượng), đã vậy còn gặp phải hai thằng bạn thân vô tư, vô tâm, vô trách nhiệm. Khi về quá khứ, trong khi hai thằng kia cứ tưng tửng, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, thì Andrey chính là hai sợi dây trói bọn họ lại, vì cậu biết ở thời này không cẩn thận là chết như chơi. Mà nếu một trong hai đứa chết thì trái tim cậu sẽ chịu không nổi. Trong ba đứa, dù không nói ra, nhưng Andrey là đứa ghét xuyên về quá khứ nhất. Cậu khao khát mãnh liệt muốn trở về thời hiện đại ngay từ cái giây phút phát hiện mình đã quay về thời Lê. Cậu bắt đầu lập kế hoạch, tính toán cẩn thận từng đường đi nước bước, tuyệt đối không được sai sót, chỉ để ba đứa có thể phá án và trở về hiện đại an toàn.

    Andrey rất thương Pax, và luôn coi Pax là thằng em khù khờ cần được bảo vệ 24/7. Cái tình thương vô bờ bến của một người anh, một người bạn thân, một tri kỷ. Cả hai thân nhau như anh em ruột, đi đâu cũng có nhau, và không bao giờ giấu được nhau chuyện gì. Andrey hay chửi Pax ngu (sau này thêm cụm từ “đầu bã đậu phộng”) một phần vì muốn thằng bạn động não, phần khác chính là chửi cho vui miệng. Thế mà Pax không hiểu, cứ tưởng Andrey chửi mình ngu thiệt nên càng ngày càng lười suy nghĩ, gây tác dụng ngược. Một thời gian sau, khi Nick chỉ ra cái sai lầm này của cậu, thì cũng đã quá muộn. Pax đã bắt đầu rơi vào cái hố của sự trầm cảm.

    Còn với Nick thì sao? Andrey, bởi vì quá ngu, đã vài lần vô tình làm tổn thương Nick, mém chút nữa là hai đứa cạch mặt nhau, làm Pax phải nhảy vào giảng hoà. Lúc đầu gặp, Andrey đã cố trò chuyện với Nick nhưng bị Nick bơ đẹp luôn. Quê quá nên cậu gào lên chửi Nick giữa nhà ăn và đùng đùng xách khay cơm đi chỗ khác. Sau này, khi hai đứa đã làm lành, Nick vẫn còn thận trọng với Andrey. Trong một lần Nick nghĩ quẩn và rạch tay, Andrey chính là người phát hiện ra đầu tiên và cứu sống cậu, sau đó bỏ học để ở bệnh viện cả ngày hôm sau. Lúc đó Nick mới biết bản chất thật sự của thằng bạn cọc cằn này, và cậu cũng dần đâm ra yêu quý Andrey. Andrey coi trọng cái tính phóng khoáng, sự tinh tế và cả cái thô thiển rất có duyên của Nick. Nhưng cậu cũng không thích lối sống vô tổ chức và thói trăng hoa của thằng bạn. Hai người như nước với lửa, và tác giả đến giờ vẫn không hiểu tại sao tụi nó thân nhau được.

    Nicholas Zephyrinus Kanelos
    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Nicholas Zephyrinus Kanelos, hay Nick Kanelos (tiếng Hy Lạp: Νικολας Ζεφυρίνος Κανέλος, sinh ngày 4 tháng 2 năm 1998), tự Ninh Khang (寧康), hiệu Hy Lạp Hoạ Gia (希臘畫家), là một trong ba nhân vật chính của bộ truyện “Nắng Trên Vườn Vải”. Cậu không phải là một con người bình thường, và cậu cũng rất tự hào khi tự nhận mình bất bình thường.

    Nick là kiểu người vừa hời hợt và vô duyên, lại vừa có thể nhạy bén và sâu sắc. Cậu không hề đơn giản như vẻ bề ngoài, càng không phải là người đần độn (mặt khác, cậu rất thông minh, mặc dù thường xuyên bị hiểu nhầm là người thiểu năng). Cậu thường nói thẳng toẹt ra suy nghĩ của mình, dù lời nói có khiến người khác đau lòng, vì cậu nghĩ thà sống thật với bản thân và mọi người, yêu ghét rõ ràng, còn hơn là giả tạo rồi đâm lén nhau sau lưng. Cậu không quan tâm mấy đến những sự việc diễn ra xung quanh mình, chỉ bắt đầu lo lắng khi nó có liên quan đến cậu hoặc người cậu yêu quý, như Pax và Andrey. Cậu có hai phương châm “Sống là tiến về phía trước” và “Mặc kệ nó, tới đâu hay tới đó”, bởi một phần vì quá khứ của cậu u ám quá. Nick là con rơi của một người thương nhân/nghệ sĩ giàu có người Hy Lạp và một nghệ sĩ đường phố người Mỹ gốc Phi. Lớn lên với người mẹ lúc nào cũng bận rộn, và người cha dượng nghiện ngập ghẻ lạnh và luôn đánh đập cậu, Nick đã bỏ nhà đi bụi và hình thành tư tưởng của một người thích tự do, đồng thời đánh mất niềm tin về một tình yêu chân thành. Cậu sống thật nhưng thường hay che giấu nỗi đau quá khứ bằng cách từ chối chia sẻ với bất kì ai, ngay cả hai thằng bạn thân. Cậu thích sống một mình, ăn một mình, ngủ một mình, làm việc một mình, khóc cũng một mình. Cậu không thèm đếm xỉa đến dư luận, luôn bất chấp những lời gièm pha để đi theo sở thích của mình – đó là nghệ thuật.

    Nick đặc biệt yêu hội hoạ, nhiếp ảnh, múa hát và kịch ứng tác. Một phần vì cậu biết mình có một trí nhớ hình ảnh siêu việt và khả năng quan sát tốt, có thể nhìn ra những thứ người thường không nhìn được. Cậu muốn đem khả năng này và truyền tải ra trên những trang giấy và chia sẻ với mọi người. Khác với Pax, người yêu thích văn học, Nick muốn truyền cảm hứng vào sáng tác của mình bằng những bức tranh và các hành động cụ thể. Đó là kịch. Tại sao lại phải là kịch ứng tác? Nick không thích sống trong thực tại, mà lại thích sống trong thế giới riêng do chính mình tạo nên. Lúc đó kịch bản sẽ do cậu tự biên tự diễn, không gì có thể gò bó cậu trong khuôn khổ về phép tắc ứng xử ngoài xã hội. Cậu rất ghét khi phải giao tiếp với người lạ, và đặc biệt là người mình không có cảm tình. Vì thế nên Nick rất giỏi trong việc bịa chuyện. Một vài tài năng nữa của cậu là ăn cắp vặt, ảo thuật và hoá trang. Bởi đó là chuyện mưu sinh mà!

    Trong truyện, Nick chỉ có cảm tình với bảy người thôi. Đó là hai thằng bạn thân, cô Cara - mẹ của Pax, và bốn người từ thời quá khứ. Đối với Nick, Pax là một trong những người quan trọng nhất cuộc đời cậu. Pax đã lôi cậu ra khỏi vỏ ốc và rất kiên nhẫn bước vào thế giới của cậu. Hai đứa có rất nhiều sở thích chung: kịch, nghệ thuật, các món ăn đường phố, phim ảnh và âm nhạc. Pax luôn ủng hộ cậu theo đuổi ước mơ nghệ thuật và chào đón cậu như một thành viên trong gia đình. Cậu thường xuyên ăn chực và ngủ nhờ ở nhà Pax khi bị thiếu nợ mấy tháng tiền phòng và phải cật lực tránh mặt chủ nhà. Pax cũng không quá tính toán gì với Nick mặc dù Nick luôn khăng khăng cậu phải ghi nợ. Sau này, khi hai người trở thành anh em kết nghĩa, Nick luôn dành một tình cảm đặc biệt cho Pax – tình thân mà cậu đã thiếu vắng bao lâu nay.

    Còn đối với Andrey thì sao? Lúc đầu Nick rất sợ Andrey, tại vì Andrey chính là hiện thân của mấy đứa nổi tiếng thích ra oai và bắt nạt kẻ yếu. Khi Nick cố tình bơ cậu trong lần đầu gặp mặt, Andrey đã nổi điên lên và chửi cậu tan nát. Mãi sau này, khi hai đứa đã xin lỗi và làm lành với nhau, Nick mới biết được Andrey là một con người khác. Và đến một năm sau hai đứa mới bắt đầu thân với nhau. Cậu và thằng bạn không có nhiều sở thích chung (nếu có thì cũng chỉ thông qua Pax), tính cách hay lý tưởng sống cũng khác nhau hoàn toàn. Sau này, hai đứa mới nhận ra vài điểm chung quan trọng làm chất keo dính hai người lại với nhau – đó là tính lưu manh xảo trá (Pax gọi họ là bộ đôi nguy hiểm). Cả hai đều sống tình cảm, nhưng cách thể hiện thì khác nhau. Andrey lo lắng bằng cách quát tháo và chửi người khác ngu, trong khi Nick lại là một con người dễ chịu và vui vẻ, nhưng lại vô cùng lý trí và là điểm tựa vững chắc trong lúc hoảng loạn. Thái độ bất cần đời và sự vô tâm của Nick nhiều lúc khiến Andrey tức điên, điều mà cậu cũng thấy buồn cười. Cậu thích cãi tay đôi và chọc cho Andrey phát khùng, cái mà cậu cho là thú vui tao nhã. Nick quý mến Andrey bởi tính cách thẳng thắn, lối sống tình cảm, sự thông minh, tự tin và mưu mẹo, nhưng cũng không ưa cái tính tự cao tự đại, nóng nảy và cứng đầu của thằng bạn mình. À, và ngoại hình đẹp của Andrey chỉ là phụ, nhưng đó cũng là điểm cộng, bởi theo Nick, đi với người đẹp thì mình cũng được thơm lây.

    NHÂN VẬT PHỤ-CHÍNH

    Phạm Tạc Tổ
    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Phạm Tạc Tổ, hay Nguyễn Tạc Tổ (chữ Hán: 阮鑿祖, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1443), tự Ái Gia (愛家), hiệu Anh Vũ (英武), là một con người đáng thương. Cậu sinh năm Quý Hợi, là năm Thái Hoà thứ nhất. Năm Quang Thuận thứ hai (1461), cậu được 19 tuổi ta (18 tuổi).

    Sinh ra trong một gia tộc bị vu oan giá hoạ rồi tàn sát dã man, nhưng không như chuyện tích cũ kể về người con trai đi báo thù nợ máu, cậu tuyệt đối không mang mối hận truyền kiếp với triều đình nhà Lê. Mẹ cậu là Phạm Thị Mẫn đã dạy dỗ cậu tử tế, biến cậu thành một con người trưởng thành, thật thà, hiền lành, và trung kiên. Dù thế, cậu vẫn biết rõ cha mình là ai, đã bị đắc tội như thế nào với triều đình, rồi bị thái hậu và cận thần hàm oan ra sao. Thật ra thì cậu chẳng muốn dính dáng gì đến triều đình nữa, cho đến khi Duy An xuất hiện và tự ngầm xưng là con trai Nguyễn Trãi. Đến lúc đó, cuộc đời cậu như bị đảo lộn, bởi tưởng chừng như cậu đã tìm ra được người anh em cùng cha khác mẹ thất lạc bấy lâu nay. Từ khi mẹ cậu mất, Tạc Tổ đã rời đất Thanh Hoá và đi ra Bắc, ngao du đó đây để tìm những người thân còn sót lại trong gia tộc. Cậu lưu lạc đến huyện Gia Định, ghé thăm Lệ Chi viên năm xưa và hội ngộ được với “em trai” Duy An. “Em trai” cậu văn hay võ giỏi, khí phách ngút trời, luôn chiến đấu vì chính nghĩa, khiến cậu vạn lần bội phục. Nhưng vì Duy An còn chối bay chối biến thân phận con trai Nguyễn Trãi nên Tạc Tổ không dám để lộ thân phận của mình. Cậu luôn muốn gặp lại và giữ liên lạc với “em trai” ở Đông Kinh để cùng nhau tìm cách minh oan cho cha, lấy lại thanh danh cho dòng họ Nguyễn.

    Tạc Tổ được dạy dỗ và cho ăn học tử tế, lại được chính vị Tế tửu đã về hưu của Quốc Tử Giám, Vũ Mộng Nguyên (Lạn Kha) dạy dỗ nên Tứ thư Ngũ kinh đều thuộc làu làu. Cậu thông minh, sắc bén, có khiếu văn thơ giống cha cậu. Mặc dù đã đỗ Hương cống (sau này) và hoàn toàn có thể thi Hội, thi Đình và đỗ đạt Tiến sĩ, Tạc Tổ đã một mực từ chối vì không muốn tiếp bước cha mình theo nghiệp quan (để rồi gần vua lại dễ bị bay đầu). Lê Tư Thành dù rất tiếc (và rất bực) nhưng cũng không tài nào thuyết phục được tên này, đành phải ban cho cậu 100 mẫu ruộng và bổ nhiệm cậu làm Đồng tri châu. Sau khi làm quan, cậu mới đổi lại họ Nguyễn, lấy cho mình cái tên hiệu là Anh Vũ. Mọi người đều gọi cậu là Nguyễn Anh Vũ. Cái tên dân dã Tạc Tổ chỉ được gọi lên bởi người thân trong gia đình cậu mà thôi.

    Không giống như “em trai” tính tình hậu đậu và bộp chộp, Tạc Tổ làm gì cũng cẩn thận, từ tốn, trừ việc bếp núc. Cậu lễ phép, ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng chậm rãi. Mỗi lời cậu nói ra đều có ý tứ rõ ràng, tuyệt đối không nói chuyện xàm xí (chẳng hạn các thể loại như tán dóc, mách lẻo, đâm thọt). Tạc Tổ có tâm hồn nhạy cảm (đôi lúc hơi mít ướt) và yêu thích sự tĩnh lặng của thiên nhiên, hệt như cha cậu lúc về già, và cậu thích sống một đời cô độc, chu du nay đây mai đó, nhưng vì đã hứa với mẹ trước khi mất rằng cậu sẽ lấy vợ nối dõi tông đường nên cậu định sẽ chọn đại một, hai cô nào đó ưa nhìn, gia thế tốt về làm vợ. Chỉ không ngờ sau này vợ cả của cậu gia thế hiển hách và tính cách dữ dội (hổ báo) quá, nên Tạc Tổ bị vợ đè đầu cưỡi cổ cũng trở thành chuyện thường tình.

    Trong truyện, Tạc Tổ có hướng suy nghĩ trái với lẽ thường này cũng một phần bị ảnh hưởng từ Nick. Đối với cậu, Nick lúc đầu là một dấu chấm hỏi to đùng. Hai người dần dần cũng thân nhau (nhất là sau vụ án thứ ba) theo cái kiểu bạn cùng phòng bất đắc dĩ, và nhận ra cả hai cũng có nhiều điểm chung: đều có gia đình tan nát, yêu thích nghệ thuật, có đầu óc cầu tiến và chịu thương chịu khó. Nick dạy cậu vẽ tranh, còn cậu dạy Nick chữ Hán và chữ Nôm. Hai người học hỏi rất nhiều từ nhau và tư tưởng người này chắc chắn sẽ truyền qua người kia. Tạc Tổ ngưỡng mộ sự phóng khoáng và tài năng hội hoạ của Nick, còn Nick coi trọng sự lạc quan và tính chu đáo của cậu.

    Tạc Tổ đối với Andrey thì hơi sờ sợ, vì Andrey luôn khiến người ta có cảm giác nguy hiểm đang đến gần (giống như cái cảm giác ở gần Lê Tư Thành). Với lại thằng nhỏ nóng tính và bạo lực quá, đã vậy còn mang vũ khí trên người 24/7 (ngay cả đi nhà xí cũng mang theo dao găm là thế nào?). Tạc Tổ không bao giờ muốn làm Andrey nổi giận, bởi cậu đã chứng kiến “em trai” mình bị Andrey hành hung ngay giữa ban ngày ban mặt. Việc thằng Andrey cao lớn và mặt mày lúc nào cũng như kẻ vừa bị mất tiền càng khiến Tạc Tổ càng né tránh cậu. Nói chung là trong bộ ba hiện đại, Tạc Tổ coi Pax như người thân, Nick như bạn thân, chỉ có Andrey là coi như bạn xã giao.

    Nói đến đây thì ai cũng nghĩ Phạm Tạc Tổ là mẫu người lương thiện kinh điển. Nhưng dù lương thiện cách mấy thì cũng không thể nào thành thánh nhân được. Cậu ta cũng là con người, cũng có một đống tật xấu mà tác giả rất vui vẻ công khai cho bàn dân thiên hạ. Cậu bị suyễn bẩm sinh nên thể chất yếu, chạy chừng một hai cây số đã muốn xỉu. Tim yếu nên rất dễ bị hù doạ. Mắt bị cận hơi nặng nhưng không có kính để đeo, và bàn chân bị mất hai ngón (do sự cố mà tác giả sẽ kể sau). Vì sinh ra trong gia cảnh bi đát, cậu đã tập cho mình cái tính lạc quan thái quá, đến nỗi người ta nghĩ cậu bị hoang tưởng hoặc thần kinh không bình thường (nói trắng ra là bị khùng đó quý vị [​IMG]). Nếu không có Pax xuất hiện thì cậu giống như bị thiếu động lực sống, luôn do dự không biết nên làm cái gì cho cuộc đời đỡ nhạt. Đến giây phút quyết định quan trọng thì cậu không có chính kiến, hỏi cái gì cũng ừ hử vậy hả, cũng một phần do chế độ phong kiến không cho phép những người thân phận hèn kém như cậu phát biểu ý kiến riêng. Cuối cùng, Tạc Tổ bị mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế mức độ nhẹ đối với cách viết chữ và mớ dụng cụ học tập (sách vở, giấy tập, bút viết,…). Cậu luôn coi chúng như bảo vật, bởi thế đứa nào dám đụng đến hoặc lỡ làm xáo trộn thì coi như tàn đời với thằng nhỏ.


    Lê Khắc Xương
    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Lê Khắc Xương (chữ Hán: 黎克昌, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1440), hay Tân Bình vương (辛评王), Cung vương (恭王), bí danh khi vi hành và dùng để liên lạc thư tín là Lê Phong (黎風), là hoàng tử thứ hai của vua Lê Thái Tông và Bùi Quý nhân, là em trai của Lê Nghi Dân, anh trai của Lê Bang Cơ và Lê Tư Thành. Cậu sinh năm Canh Thân (1440), Đại Bảo năm thứ nhất. Năm Quang Thuận thứ nhất (1461), cậu được 22 tuổi ta (21 tuổi).

    Khắc Xương có dáng người cân đối, cao ráo (so với người thời xưa thì là cao, nhưng vẫn không cao bằng Pax, người chỉ cao khoảng 1m7). Cậu thích màu xanh lá nên toàn mặc trang phục màu xanh lá. So về ngoại hình thì Khắc Xương không có điểm gì quá nổi bật, thần sắc cũng không đẹp (lồng lộn) như các anh em của mình. Tuy vậy, cậu vẫn có thần thái tiềm ẩn của một người trong hoàng tộc. Cậu không quá quan tâm đến ngoại hình, trừ những dịp đặc biệt. Tuy vậy, cậu luôn sạch sẽ, chỉn chu và thường chú ý đến các loại trang phục và màu sắc trên người. Cậu ít đeo trang sức (trừ một viên ngọc bội cẩm thạch của mẹ) và lúc nào cũng có sẵn vài ba bộ thường phục trong túi, để lẩn vào trong dân chúng và tận hưởng những giây phút vi hành ngắn ngủi mà thú vị.

    Khắc Xương là con người hiền hậu, giản dị, thông minh, nhạy cảm và có năng lực sáng tạo. Cậu đam mê nghệ thuật, yêu thích cái đẹp và không thích bạo lực. Từ nhỏ, vì lớn lên trong cung cấm nên Khắc Xương đã tự luyện cho mình con mắt tinh tường, có khả năng đọc và đánh giá tâm tư người khác. Chỉ cần một cú nháy mắt, một cái nhếch môi, hoặc một sự thay đổi âm tiết trong giọng nói là cậu nhận ra ngay. Ví dụ như cậu đã nhìn ra việc Viên ngoại lang Lê Ngoạt muốn từ chức sau khi Nghi Dân lên ngôi vua, hay chuyện các công thần Lê Thụ, Lê Ê, Đỗ Bí, Lê Ngang lập mưu lật đổ anh mình.

    Trước chính biến Diên Ninh, Khắc Xương chủ yếu dành thời gian rèn luyện khả năng âm nhạc của mình: ca hát, đánh đàn (đàn tranh, nhị, bầu, tì bà), nghiên cứu âm luật, sáng tác ra các bản nhạc cung đình và dân gian. Cậu cũng biết võ thuật, chỉ là học để phòng thân chứ không có hứng thú gì (dù thường xuyên bị Tư Thành khích tướng đòi thi đấu). Sau khi người em Bang Cơ bị anh cả Nghi Dân giết chết, Khắc Xương rơi vào tình trạng rối loạn căng thẳng lo âu, xảy ra thường trực và gần ranh giới với chứng bệnh trầm cảm. Cậu thu mình vào một góc, người lúc nào cũng đờ đẫn như mất hồn, và trở nên đa nghi hơn (dù không đa nghi bằng Tư Thành). Sau chính biến Thiên Hưng và Nghi Dân bị bức tử, Khắc Xương gần như muốn từ bỏ ngôi vị vương gia luôn. Lúc Lê Lăng đến đón cậu làm vua, cậu trốn mãi mới chịu ra mặt, sau đó thì từ chối thẳng thừng, thậm chí nói rằng nếu làm vua thì thà cho cậu uống chén thuốc độc tại chỗ. Lê Lăng và các đại thần sợ quá nên cúi đầu rút lui và qua phủ của Gia vương, đón Tư Thành lên làm vua.

    Khắc Xương có một niềm yêu thích đặc biệt với nghệ thuật hát chèo, một phần vì họ ngoại của cậu có người làm trong gánh hát (chị em của ông ngoại Bùi Cầm Hổ). Vào đời vua Lê Thái Tông, nhạc khí cung đình của Lương Đăng được biểu diễn trong hoàng cung, hát chèo và các loại nhạc tục dân gian chính thức bị cấm biểu diễn. Khắc Xương lúc đó còn nhỏ, thường hay theo ông ngoại ra ngoài cung để xem kịch hát và hay hát theo, về cung liền bị rầy la vì giao du với lũ người “xướng ca vô loài” mà cảm thấy bất bình. Càng cấm đoán thì cậu càng thích, thế là cậu tự mình nghiên cứu, viết ra kịch bản và một số bài nhạc rồi lén lút tuồn ra ngoài Đông Kinh. Chỉ có một số ít cận thần trong triều biết được thú vui “sai trái” này của Cung vương, trong đó có Viên ngoại lang Lễ bộ Lê Ngoạt (người gián tiếp giúp đỡ Khắc Xương trong mấy bài hát chèo). Thậm chí, ước mơ thầm kín của Khắc Xương là được làm ca sĩ hát chèo và bán gánh chè hát rong khắp kinh thành. Mãi sau này, khi Tư Thành biết được sở thích của anh mình thì trở nên khinh miệt cậu. Tình nghĩa anh em lúc ấy cũng đã nguội lạnh.

    Khắc Xương rất ghét những thứ liên quan đến chính trị, giết chóc, đấu đá lẫn nhau, và bất công xã hội. Cả đời làm vương gia, cậu phải chứng kiến cảnh huynh đệ tương tàn, công thần bị hàm oan, nhân dân đói khổ, và trực tiếp bị kéo vào các âm mưu chính trị của nhiều thế lực trong triều. Cậu không có nhiều bạn, và nếu có cũng chỉ xã giao. Nhiều lúc cậu thấy bản thân bị cô lập trong chính ngôi nhà của mình. Khắc Xương cả đời sống trong cô độc. Người cậu yêu quý nhất (Bang Cơ) thì lại bị sát hại dã man. Người cậu ngưỡng mộ nhất (Nghi Dân) lại sát hại người cậu yêu quý. Người em trai duy nhất còn sống thì lại đối xử ngày càng xấc láo và lạnh nhạt với cậu. Cậu cưới người mình không yêu, và yêu người từ chối mình. Vương phi và cậu không quá gần gũi, dù họ vẫn tôn trọng lẫn nhau. Khắc Xương xem vương phi như một người bạn tốt hơn là một người vợ hiền.

    Đối với Khắc Xương, Đặng Duy An là một con người thú vị. Duy An đem đến niềm vui hiếm hoi cho cậu. Cả hai cùng có nhiều sở thích: âm nhạc, hội hoạ, văn học, kịch... Tính cách của họ cũng khá tương đồng. Họ đều là anh trai bị lép vế trong nhà. Khắc Xương ngưỡng mộ và tôn trọng Duy An, không bao giờ coi mình là bề trên cả. Khắc Xương đã nhận định Duy An là con của Nguyễn Trãi rồi, nên lấy làm thương tiếc và luôn muốn bảo vệ cậu khỏi sự truy sát của triều đình. Ban đầu thì mối quan hệ có dè dặt, nhưng sau khi đã thấy tấm lòng chân thành và biết hoàn cảnh đáng thương của cậu ta, Khắc Xương đã nhiệt tình đứng sau giúp đỡ. Hai người trở thành bạn tốt của nhau. Khắc Xương là nhân vật Duy An thân thiết chỉ sau Phạm Tạc Tổ. Khắc Xương chia sẻ nỗi niềm thầm kín của mình và được Duy An giúp đỡ để thực hiện mong ước. Ngược lại, Khắc Xương sẽ giúp Duy An trong việc giải oan cho gia tộc.

    Khắc Xương khá tò mò về hai anh chàng ngoại quốc kia, đặc biệt là tên hoạ gia có thể sử dụng ma thuật. Cậu nghĩ hắn là người trời phái xuống giúp đỡ Duy An và Tư Thành, nhất là khi phát hiện ra tấm bản đồ Đông Kinh và kĩ thuật vẽ tranh mới lạ. Còn tên da trắng kia cũng được cậu nể phục với tài năng y thuật hơn người, dù hắn làm cậu nhớ tới đứa em trai Tư Thành. Ba người giữ mối quan hệ quân-thần và luôn tôn trọng lẫn nhau.


    Lê Tư Thành
    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Lê Tư Thành (chữ Hán: 黎思誠, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1442), hay Bình Nguyên vương (平原王), Gia vương (嘉王), hiệu Thiên Nam Động Chủ (天南洞主), Đạo Am Chủ Nhân (道庵主人), Tao Đàn Nguyên Soái (騷壇元帥). Ngoài ra còn có huý, bí danh khi đi vi hành và tên dùng trong văn kiện ngoại giao là Lê Hạo (黎灝). Cậu là hoàng tử thứ tư của vua Lê Thái Tông và Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Năm 1460, sau chính biến Thiên Hưng, cậu được 19 tuổi thì các đại thần đón lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Thuận (光順).

    Với tiêu chuẩn sắc đẹp thời xưa, Tư Thành được coi là “thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường”. Cậu có dáng người cao ráo, lưng thẳng, đầu ngẩng cao. Đôi mắt xếch hẹp và dài, lông mày như kiếm, mũi cao hơi hếch, có cái răng khểnh bên trái. Tóc cắt ngắn gọn gàng vuốt ngược ra sau, hoặc để dài ngang vai rồi búi lên (thời trẻ). Cả người cậu đều toát ra thần thái của bậc vương giả. Lúc còn là Bình Nguyên vương, Tư Thành không mấy quan tâm đến vẻ bề ngoài, nhưng từ khi lên ngôi vua, cậu rất chú ý đến cách ăn mặc và hình tượng của mình. Lúc đầu cậu có hơi ngán ngẩm, rồi dần dần cũng quen. Tư Thành luôn đeo bên mình một món trang sức bằng bạc (nhẫn, vòng cổ, vòng tay, lắc chân…) để thử độc và bùa hộ mệnh để chống lại những kẻ có âm mưu ám hại mình. Trong ống tay áo của cậu lúc nào cũng thủ sẵn một hoặc hai món vũ khí phòng thân.

    Tư Thành là một vị vua nhiều tài nhưng cũng lắm tật. Lớn lên trong cung cấm, không mang theo gánh nặng ngôi báu, Tư Thành thoả sức học tập và rèn luyện bản thân. Cậu thông minh, sắc bén, ham học hỏi (luôn mang sách theo mình 24/7) và có chí cầu tiến trong hầu hết những lĩnh vực mà cậu cảm thấy sẽ giúp ích cho mình sau này. Cậu rất hiếu thắng, thích thi đấu từ văn đến võ, nhưng trước khi ra lời thách đấu đều tính toán kĩ lưỡng tỉ lệ thắng-bại của mình. Giống như anh trai Khắc Xương và Bang Cơ, Tư Thành đã tự luyện tập kĩ năng đọc và đoán tâm tư của người khác. Trong những buổi thiết triều, cậu đều luyện nó với những quan lại lớn tuổi, những người mà cậu cho là lão luyện trong lĩnh vực lừa dối, xu nịnh và bày mưu tính kế. Càng thấu hiểu quần thần thì cậu càng thấy kinh sợ sự khốc liệt của triều đình, và càng xây dựng hình tượng một Bình Nguyên vương ngoan hiền, nhã nhặn, tuyệt đối chẳng muốn gây sự với ai.

    Cho đến khi chính biến Diên Ninh xảy ra. Cái chết bất ngờ của anh trai Bang Cơ làm Tư Thành bị một cú sốc tâm lý lớn. Trong lòng tuy vô cùng bất bình trước sự bạo nghịch của anh trai Nghi Dân, Tư Thành vẫn phải ngậm đắng nuốt cay khuất phục trước vị vua mới, vẫn là dưới vỏ bọc một người em trai ngoan ngoãn. Lúc này, chính vì bị chấn động quá mạnh về tâm thần nên một nhân cách khác dần dần hình thành trong cậu. Tư Thành trở nên đa nghi quá độ, nhìn thấy khắp nơi đều là kẻ thù, và ngày càng lạnh nhạt, vô tình, thậm chí là tàn nhẫn với thuộc hạ. Ban ngày, cậu là Gia vương Lê Tư Thành, cư xử lễ độ, hoà nhã, chính trực, chăm chỉ học hành và luyện tập võ nghệ. Ban đêm, sau vài chén rượu thì cậu là Lê Hạo – một kẻ thâm hiểm và tàn nhẫn, âm thầm trợ giúp các đại thần lập mưu lật đổ Thiên Hưng đế, trả thù cho cái chết oan uổng của Bang Cơ. Đương nhiên là không ai biết hay nghi ngờ đến nhân cách thứ hai này, ngoại trừ cậu. Tư Thành biết đến sự tồn tại ấy nhưng mặc cho chúng hành động, nếu kết quả là ngôi báu thuộc về cậu. Sau khi lật đổ và bức tử Lệ Đức hầu Lê Nghi Dân, quả như dự đoán từ trước, Khắc Xương từ chối làm vua nên Tư Thành nghiễm nhiên có được thiên hạ trong tay.

    Tư Thành có niềm đam mê rất lớn với võ thuật, thành thạo nhiều loại binh khí và kĩ năng, như cưỡi ngựa, bắn cung và đấu vật; và văn học, đặc biệt là thơ Hán và thơ Nôm. Khi rảnh rỗi, một là cậu đi luyện võ với thầy và các bạn đồng môn ở trường Giảng Võ, hai là cậu đọc sách và làm thơ, viết luận trong phủ vương gia hoặc thư phòng. Ngoài ra, Tư Thành còn dành sự quan tâm đặc biệt đối với lịch sử, địa lý, triết học Nho giáo, chính trị và pháp luật. Sau này, khi đã lên ngôi hoàng đế, những khía cạnh khác như giáo dục, toán học, thiên văn học và hội hoạ dần được cậu chú ý nhiều hơn. Tư Thành không bao giờ cho phép bản thân được xao nhãng hay lười biếng, bởi thế nên lịch trình hằng ngày của cậu đều kín hết. Cậu thích lập kế hoạch từ trước đến cả vài tháng và cố gắng hoàn thành công việc một cách hiệu quả nhất. Sống có nguyên tắc là thế, dù vậy Tư Thành vẫn cố dành thêm thời gian giải trí cho bản thân (tất nhiên là vẫn nằm trong kế hoạch định sẵn). Đôi khi cậu sẽ đi vi hành, đóng giả đủ thứ vai, đủ ngành nghề để “mục sở thị” đời sống của bách tính và bắt quả tang quan lại tham ô.

    Đối với Tư Thành, cậu ghét nhất là những kẻ nịnh bợ, không có chính kiến, “gió chiều nào ta theo chiều đó”. Đứng thứ hai là những kẻ tham quyền cố vị, lộng hành, quan lại tham nhũng, chuyên quyền, ức hiếp kẻ dưới và lăm le chiếc ngai vàng của cậu. Từ thời trẻ, cậu đã chứng kiến nhiều vụ hãm hại, tàn sát lẫn nhau giữa các quan lại trong triều, nên cái chết chẳng còn ý nghĩa gì nữa, chẳng còn đáng sợ nữa. Dần dà Tư Thành càng nguội lạnh với sự chết chóc, cho dù có người bị đưa ra chém trước mặt cậu cũng không chớp mắt lấy một cái. Ai đã đắc tội với cậu thì ý nghĩ đầu tiên chính là “xử trảm kẻ đó”. Bởi gần vua như gần cọp thật chẳng sai!

    Suốt 37 năm làm vua, Tư Thành đã đưa nhà Lê đến thời kỳ cực thịnh. Đối với nhân dân, cậu là một vị vua anh minh, “là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được”. Thế mà đối với gia đình, đặc biệt là người anh trai Lê Khắc Xương thì cậu lại đối xử thiếu tình thân ái. Mối quan hệ của họ bắt đầu rạn nứt từ khi Tư Thành lên ngôi vua. Quan đại thần Lê Lăng bị khép tội và xử tử thì Khắc Xương có nói đỡ cho ông, và giây phút Tư Thành dùng quyền lực để đuổi anh trai mình về thì mối quan hệ đã không thể cứu vãn được nữa. Cái chết tức tưởi của Khắc Xương (nghĩ quẩn, lâm bệnh nặng rồi chết trong ngục) cũng do thói đa nghi của Tư Thành mà ra.

    Trong bộ truyện, ngay từ đầu Tư Thành đã không coi ba nhân vật chính như người bình thường rồi! Đêm trước ngày ba người quay trở về quá khứ, Tư Thành đã nằm mộng thấy một cậu thiếu niên bị té lăn cù mèo từ trên núi Chí Linh xuống, rồi cầu xin cậu tìm giúp chỗ ẩn náu và một ân huệ. Sau đó liền xuất hiện hai vị hộ pháp to lớn, một trắng một đen, túm lấy cổ áo và kéo thằng nhỏ quay về (trước sự phản đối quyết liệt của cậu nhóc). Cảm thấy giấc mơ có điểm kì lạ, sẵn dịp vi hành cậu đã ghé chùa Côn Sơn nhằm hỏi ý kiến vị sư trụ trì. Tình cờ là trước đó vị sư đã gặp được ba người giống hệt như miêu tả, thế là Tư Thành tìm mọi cách truy ra tung tích của họ.

    Bởi thế nên cậu đã cố tình nhắm mắt cho qua trước sự xuất hiện đáng ngờ của hai kẻ ngoại quốc ở Đông Kinh. Trong ba người thì Tư Thành thấy mình và tên da trắng – Anh Giản – có nhiều điểm tương đồng nhất và tên da đen – Ninh Khang – có vẻ khả nghi nhất. Cậu xem Duy An (Pax) như con trai thất lạc của vị cố Nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trãi, ân nhân năm xưa của mẹ cậu. Lần nữa, với thân phận “vương gia Lê Hạo” (vì sự hiểu lầm của Duy An), Tư Thành âm thầm giúp đỡ cậu lấy lại thanh danh cho dòng họ. Ngược lại, Ninh Khang (Nick) và Anh Giản (Andrey) – hai vị ‘Hắc Bạch Trấn Môn’ kia – trong quá trình ở lại Đông Kinh và cùng Duy An phá án Lệ Chi Viên đã giúp Tư Thành nhận ra nhiều tư tưởng tiến bộ, giúp cậu điều hành đất nước tốt hơn.

    Lưu ý: Đây là truyện dã sử, tác giả đã xây dựng nhân vật dựa trên hình tượng Lê Tư Thành ngoài đời thật, nhưng có một số tình tiết là hư cấu dưới góc nhìn và phân tích (tâm lý) của tác giả, nên xin mọi người đừng lấy đó mà đồng nhất với chính sử.

    Nguồn: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ (Thánh Tông Thuần Hoàng Đế)


    NHÂN VẬT PHỤ

    Trịnh Viêm

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Trịnh Viêm (chữ Hán: 鄭炎, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1431), tự Thử Kỳ (暑期), hay Trịnh tuần sát sứ, Trịnh huyện thừa, là người đứng đầu võ ban của huyện Gia Định. Sau bao năm làm quan và đối đầu với tri huyện Phạm Tất, Trịnh Viêm đã trở thành con người chính trực và nghiêm minh, nhưng lại thâm trầm và đầy toan tính.

    Trịnh Viêm vốn xuất thân là cô nhi, sống ở làng Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương, trấn Thanh Hoá. Năm bốn tuổi, ông được các sư trong chùa nhận nuôi và truyền thụ lại võ thuật. Không ai biết họ hàng của ông là ai, vì lúc nhỏ ông chỉ nhớ được một chữ “Trịnh” trong tên của mình. Sau này truy ra gia phả thì mới biết ông là họ hàng xa của khai quốc công thần Trịnh Khắc Phục. Từ nhỏ ông đã rất thẳng thắn và nóng tính (nên mới được đặt huý là Viêm) nhưng đã vô cùng tháo vát và chịu khó làm lụng. Ông chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ sau này sẽ làm quan. Năm mười tám tuổi, ông rời chùa và đi phu một năm, sau đó thi làm cấm vệ binh trong kinh thành. Vì tính tình nhanh nhẹn và ham học hỏi, chẳng mấy chốc những thành tích đã giúp ông thăng chức làm đội trưởng.

    Trong một lần truy bắt tội phạm, ông đã lập được công lớn, ngăn được một vụ mưu sát gia đình Thượng thư Lễ bộ. Thấy Trịnh Viêm là con người tài giỏi, tuấn tú và có nhiều triển vọng, Thượng thư có ý muốn gả con gái nuôi cho. Vì từ chối lời mời, Trịnh Viêm vẫn được ông ta nói tốt cho và trọng thưởng, được thái hậu ban chỉ thăng lên tòng bát phẩm. Sự nghiệp làm quan của ông cứ như diều gặp gió. Ông được điều qua cục Hình, chuyên về phá án, liên tục lập được nhiều công trạng. Sau đó, ông lại được thăng lên chánh bát phẩm, rồi tòng thất phẩm. Cứ tưởng sẽ được ở Đông Kinh dài dài, ai ngờ ông lại bị điều xuống làm tuần sát sứ ở huyện Gia Định.

    Bất mãn trước sự điều phối của triều đình, Trịnh Viêm càng ức chế hơn khi gặp phải đồng nghiệp là một tên tham quan. Phạm Tất lúc này chưa có Lê Ngỗi chống lưng nên không dám làm gì Trịnh Viêm. Hai người là kiểu bằng mặt mà không bằng lòng. Trịnh Viêm lập tức điều tra thân thế của tên chuyển vận sứ kia, biết hết những mánh khóe vòi vĩnh tiền hối lộ của Phạm Tất. Nhưng bản thân ông không muốn làm to chuyện, vì dù gì nó cũng chỉ là mấy đồng vặt vãnh, và gia đình Phạm Tất rất có uy trong vùng. Hai người việc ai nấy làm, thân ai nấy lo, không ai đụng chạm gì đến ai. Thời gian trôi qua thật êm đềm, cho đến xảy ra chính biến Diên Ninh. Khi ấy tên Lê Ngỗi, cháu ruột của Thái uý Lê Lăng, xuất hiện trong làng.

    Trong một lần lơ đãng, Trịnh Viêm đã vô tình nhận tiền của Lê Ngỗi (thật ra trên danh nghĩa là mượn tiền để giúp đỡ một người trong làng trả nợ). Thế là từ đó Lê Ngỗi cứ vịn vào cớ đó để uy hiếp Trịnh Viêm, khiến ông há miệng mắc quai. Trịnh Viêm tức muốn hộc máu nhưng vẫn không thể tố cáo hai người họ. Lê Ngỗi còn dùng thân phận và khả năng tài chính để đe doạ số phận của các tiểu thương và thợ thủ công nhỏ lẻ trong làng. Bất lực trước sự bành trướng thế lực của Lê Ngỗi và Phạm Tất, Trịnh Viêm biết bao lần đã có ý định nghỉ việc. Rồi ông nghĩ đến số phận của dân chúng và gạt bỏ ý định trên.

    Đối với Trịnh Viêm, thằng nhóc Duy An (Pax) giống như là một phép màu từ trên trời rơi xuống, người đã giúp mong muốn của ông thành hiện thực. Chính nhờ cậu mà ông mới lấy hết can đảm đánh cược vào vụ án này. Theo ông, đó chính là vụ án mà ông sẽ lật đổ phe Tất-Ngỗi. Trước mặt Phạm Tất, ông giả vờ mình không biết gì về vụ án, nhưng ông lại bí mật phái tên lính Trình Trung Nghĩa đi điều tra sự việc, còn mình sẽ ở phủ theo dõi mọi cử động của Duy An. Từ lúc đầu, ông đã nghi ngờ thân thế bí ẩn của thằng nhóc. Sau khi phát hiện ra sự thật kinh hoàng, rằng Duy An chính là con trai thất lạc của Nguyễn Trãi, thì cậu ta lại cắn lưỡi tự sát. Cuối cùng Trịnh Viêm cũng cứu được cậu. Cảm thấy vô cùng tội lỗi, ông thề sẽ bảo vệ thằng nhóc này đến cùng, sẽ dùng sức mạnh dư luận để trấn áp sự lộng quyền của hai kẻ kia, cùng dân chúng tố cáo tội ác của bọn họ. Ông còn may mắn gặp được Lê Tư Thành đang vi hành, thế là hai người lập kế hoạch, tương kế tựu kế. Trịnh Viêm biết trước mình sẽ bị Lê Ngỗi hạ độc thủ tiêu nên đã chuẩn bị sẵn. Ông coi nó như một hình phạt cho sự lưỡng lự của mình bấy lâu nay.

    Đối với Trịnh Viêm, hai vị thương nhân ngoại quốc (Andrey và Nicholas) cũng không phải người bình thường. Họ mang thần thái của một người không đến từ thời đại này, mà là một thời đại nào đó rất xa xôi. Những dụng cụ kì lạ mà Trung Nghĩa miêu tả cho ông là bằng chứng khó chối cãi. Trong phần một, ông chưa có dịp tiếp xúc nhiều với họ, nhưng đến các phần sau, Trịnh Viêm là một trong số ít những người biết được thân phận thật sự của hai nhân vật chính. Dù vậy, ông vẫn một mực tin rằng Duy An là con trai của Nguyễn Trãi.

    Lê Ngoạt

    Đọc tiếp
    Lê Ngoạt (chữ Hán: 黎節, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1415), tự Tùng Tiết (松節), hiệu Đình Lễ (亭禮), là một con người tài giỏi và chính trực. Ông làm quan dưới của triều nhà Lê, đến chức Viên ngoại lang Lễ bộ, trật hàm chánh ngũ phẩm thì cáo về hưu do không chịu quy phục dưới quyền của Thiên Hưng Đế Lê Nghi Dân. Ông còn là thầy dạy nhạc và người bạn thân thiết của Hoàng tử Lê Khắc Xương.

    Lê Ngoạt là người làng Võng Thị, là con của một cặp vợ chồng ngư dân nghèo, chuyên đánh cá ở hồ Dâm Đàm. Tuy cha mẹ đều không biết chữ, từ nhỏ Lê Ngoạt đã luôn có mong ước nhận mặt chữ, và một ngày được làm quan trong triều. Năm 21 tuổi, ông đỗ Tiến sĩ và được bổ dụng vào làm quan dưới thời của của vua Lê Thái Tông. Ông chăm chỉ làm việc, tuyệt đối không muốn dính dáng gì đến các cuộc tranh giành quyền hạn các thế lực trong triều. Trước sự thanh trừng quan lại nghiêm khắc của Thiệu Bình đế, ông (lúc đó chỉ là một vị quan tòng thất phẩm nhỏ nhoi) rất sợ bản thân bị ép theo phe phái của các vị quan to khác nên đã trốn rất kĩ, chỉ có mặt khi cần, hạn chế giao thiệp bên ngoài và chỉ nói chuyện với các vị nữ quan Lễ nghi học sĩ. Ngoài ra, ông cũng từng vài lần được diện kiến Nguyễn Trãi và có những cuộc đàm luận văn thơ và âm nhạc thú vị. Từ đó, chàng trai trẻ Lê Ngoạt đâm ra ngưỡng mộ Nguyễn Trãi, và đã vô cùng bàng hoàng trước thảm án Lệ Chi Viên giáng xuống dòng họ Nguyễn.

    Lê Ngoạt trước khi làm quan đã có hứng thú với âm luật và hát chèo. Năm bảy tuổi, ông tự mày mò học thổi sáo, thổi tiêu, rồi tìm thầy dạy cho mình các loại nhạc cụ dân tộc khác như đàn tranh, đàn bầu, đàn tì bà. Khi đã biết chữ, tự ông đã viết ra nhiều tập truyện, tuỳ bút, kịch bản, bài hát, thơ Hán và thơ Nôm. Ông cũng tự kiếm tiền trang trải cho bản thân bằng cách này. Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông càng có ham muốn học hỏi thêm về dòng lễ nhạc cung đình, thậm chí viết thư xin được chuyển vào Lễ bộ. Ở đây, Lê Ngoạt tiếp tục trau dồi và ngày càng xuất chúng, đến nỗi ông đã được chính Thái hậu giao cho nhiệm vụ dạy dỗ âm luật cho các hoàng tử. Trong số các hoàng tử thì Tân Bình vương Lê Khắc Xương là người học trò yêu thích của ông.

    Tân Bình vương cũng vô cùng yêu quý và kính trọng người thầy của mình, hễ kết thúc bài học là cứ lẽo đẽo đi theo thầy đòi dạy thêm. Hai người đã cùng nhau soạn ra nhiều bài nhã nhạc và nhạc dân gian. Cả hai đều có mong muốn thay thế dòng nhạc cung đình phỏng theo quy chế của nhà Minh bằng dòng nhạc mang thuần sắc thái của Đại Việt, nhưng không thành. Chính vì sự nghiêm khắc và cứng nhắc của triều đình nhà Lê, Khắc Xương đã vô cùng bất mãn. Trước sự kinh ngạc của Lê Ngoạt, cậu thiếu niên 16 tuổi đã bắt chước thầy mình và sáng tác một loạt các vở và bài hát chèo rồi nhờ ông bí mật tuồn ra ngoài Đông Kinh. Khắc Xương không giấu thầy mình điều gì (ngay cả chuyện lén lút yêu một cô ca kỹ), và ngược lại, Lê Ngoạt không hề trách móc hay đánh giá cậu. Vì không có người tâm sự, Lê Ngoạt không hề biết Khắc Xương đã rơi vào trạng thái trầm cảm thế nào sau khi ông cáo bệnh về hưu.

    Lê Ngoạt là con người chất phác, thẳng thắn, chính trực, yêu thích nghệ thuật, đặc biệt là kịch, nhưng rất chán ghét khi cuộc sống cung đình chính là vở kịch mà ông phải diễn hàng ngày. Khi chính biến Diên Ninh diễn ra, ông đem lòng hận kẻ giết vua kia nên đã giả vờ bệnh nặng rồi xin nghỉ hưu, trở về với cuộc sống đạm bạc trước kia. Ông làm vậy là do được Nguyễn Trãi truyền cảm hứng, và chính ông cũng chẳng ham gì vinh hoa phú quý sau bao năm làm quan. Điều duy nhất khiến ông hối tiếc là phải từ biệt người học trò cưng của mình.

    Lê Ngoạt cực kì tò mò trước người con trai út của Nguyễn Trãi – Nguyễn Duy An, người mà ông gọi là Đức Bình. Lúc nghe về án ở huyện Gia Định, ông đã tự nhủ phải tìm ra được cậu bé và giúp đỡ cậu minh oan cho dòng họ. Ai ngờ rằng bọn họ đã tự tìm đến ông, ở ngay tại làng Yên Thái, và Duy An còn rất thân thiết với Lê Khắc Xương. Theo Lê Ngoạt, Duy An có vẻ ngoài hơi ngớ ngẩn, cư xử kì quặc, nhưng được cái văn võ song toàn, lại tuổi trẻ tài cao, biết nhiều ngôn ngữ và quen thân với người ngoại quốc. Cậu bé có chí lớn thế là tốt, nên Lê Ngoạt sẽ không ngần ngại giúp cậu khi cần: một chuyến đi đò, một bữa cơm, một lời giải thích liên quan đến kì thi Hương. Ông luôn hy vọng có ngày Duy An sẽ thay thế mình, kết thân với Khắc Xương để cậu bớt cô đơn trong cung cấm. Còn trong hai sứ giả ngoại quốc, Lê Ngoạt đặc biệt có ấn tượng với cậu “Hy Lạp Hoạ Gia” Ninh Khang kia. Dù bản thân không giỏi hội hoạ, ông rất ngưỡng mộ tài năng của cậu và hy vọng sẽ học được gì đó mới mẻ. Lê Ngoạt có tư duy của một người luôn thích tìm tòi, học hỏi những điều mới lạ. Tuổi tác sẽ không bao giờ là rào cản đối với ông.


    Phạm Thị Hoa
    Đọc tiếp
    Phạm Thị Hoa (chữ Hán: 范氏花, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1400), hay Phạm Hoa, còn được gọi là bà Hoa, bà Cả, bác Cả, là bạn thời thơ ấu và hàng xóm với Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ.

    Bà lớn lên ở làng Hải Hồ, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, là con gái của một nhà nho có tiếng trong vùng và một người thợ dệt chiếu. Dưới thời giặc Minh còn đô hộ, cha bà chỉ có thể lén lút dạy học chữ Hán và chữ Nôm cho đám trẻ con, sau này bị phát hiện thì bị bắt đi phu và chết trong rừng. Hai người bạn Lộ và Hoa nương tựa và cùng nhau lớn lên, nên sớm đã biết tự lập và trưởng thành.

    Vì rất hay chữ, bà thường hay kiếm tiền bằng nghề viết chữ thuê để giúp đỡ gia đình. Bà còn có ý định dạy học, tiếp nối nghề của cha nhưng bị phản đối quá, đành phải gạt nó qua một bên. Bà cũng có ý định bắt chước Thị Lộ, làm việc trong cung, nhưng sợ tính cách cương trực của mình sẽ có ngày gây hoạ. Đến giờ bà vẫn không hiểu sao bạn thân mình lại thích làm việc trong cung đến vậy.

    Không như những người con gái khác, bà Hoa lấy chồng rất muộn (27 tuổi) và không có con. Bà rất kiên quyết chờ cho những đứa em đủ lớn mới dám lấy chồng. Bà thông minh, tháo vát, năng nổ và nóng tính, sẵn sàng thẳng thừng từ chối những chàng trai hỏi cưới mình. Bà biết rõ được giá trị của bản thân nên không vội vàng gì với việc lập gia đình. Đối với người hiện đại thì đó là chuyện bình thường, nhưng với người xưa thì bà phải chịu những lời gièm pha và kì thị của mọi người. Bà cũng mặc kệ họ. Khi bà Lộ chia sẻ chuyện làm vợ lẽ của Nguyễn Trãi, một người hơn họ đến mấy chục tuổi, bà Hoa đã một mực khuyên răn, nói rằng người như Nguyễn Trãi thì không nên cưới, nhưng bạn của bà không nghe. Sau này khi tai hoạ ập xuống, bà luôn tìm mọi cách để giúp đỡ từ bên ngoài. Nhờ bà và thầy Lê Đạt nên hai người thiếp của Nguyễn Trãi – Phạm thị và Lê thị – mới có thể chạy thoát.

    Chồng của bà là Đặng Cao Ân, một chủ xưởng làm giấy dó và giấy lệnh giàu có nhất ở cái làng Yên Thái. Ông ta chỉ có đúng một người vợ, nên dân làng giấy thường hay gọi bà là bà Cả, bác Cả, dì Cả, gọi riết rồi không ai còn nhớ tên thật của bà nữa. Sau khi chồng bà mất, một mình bà cáng đáng công việc ở xưởng. Vì tính kỹ lưỡng và hào phóng, bà rất được lòng mọi người, khiến cho xưởng giấy ngày càng phát đạt. Gia tài của bà không bao giờ giữ rịt cho riêng mình. Những mùa hạn hán, lũ lụt, bệnh dịch, bà đều mở kho thóc phát cho dân làng, rồi tài trợ thuốc men cho nhà có người bệnh. Bà giàu có, nhưng không ai có thể ghen ghét với bà.

    Khi nghe tin con trai của Nguyễn Trãi còn sống, bà đã dang rộng vòng tay chào đón đứa nhỏ. Dù gì thì nó cũng là con của người bạn quá cố của bà. Bà càng ngạc nhiên hơn khi phát hiện không chỉ một, mà có đến hai người con còn sống – Tạc Tổ và Duy An. Một đứa giỏi văn, một đứa giỏi võ. Chắc Nguyễn Trãi sẽ rất tự hào. Điều kì lạ là Duy An không hề biết mình có “anh trai”. Bà rất thương hai thằng nhóc, và càng thương hơn khi nghe những gì bọn nhóc đã trải qua. Đối với bà, Tạc Tổ cư xử có vẻ bình thường hơn Duy An, nhưng bà đoán sự bất thường kia có thể đến từ những năm tháng bôn ba khắp nơi và kết thân với nhiều người ngoại quốc.

    Trong ba nhân vật chính, xét theo nhiều khía cạnh thì bà thương thằng nhóc “Rây” (Andrey) nhất. Từ đầu bà đã rất ấn tượng với sự thích nghi nhanh chóng và nhiệt tình thái quá của cậu. “Rây” rất lễ phép, biết điều, siêng năng, thông minh, nhanh trí, nhiều tài lẻ. Cậu rất được việc ở xưởng, ở nhà cũng chăm làm, chăm học.

    Tiếp theo đó mới là Tạc Tổ, Duy An và “Lát” (Nicholas). Theo bác thì Tạc Tổ và Duy An hiền lành nhưng hơi khờ khạo, đôi khi giống như hai con ngựa, phải thúc roi vào mông mới chạy. “Lát” là thằng nhóc kì quặc nhất. Thằng nhóc khi thì trưởng thành, khi thì trẻ con, nhìn thì ngớ ngẩn nhưng lại khôn lỏi, chăm việc nhà nhưng lại lười dọn dẹp, và có thói quen thích gây sự với “Rây”. Vì không thể giao tiếp nhiều nên giữa hai người vẫn còn chút gì đó rào cản. Tuy vậy, bà cũng biết quá khứ thằng nhóc không đơn giản. Vết sẹo chi chít trên cổ tay là bằng chứng rõ ràng nhất.

    Vì thế nên bà mới quan tâm lo lắng cho cả bọn như chính con đẻ của mình.


    Lê Nhật Minh
    Đọc tiếp
    Lê Nhật Minh (chữ Hán: 黎日, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1441), tự Đình Quang (亭光), hiệu Liễu Trai (憭齋), là một kẻ lãng tử. Cậu sinh năm Tân Dậu, Đại Bảo năm thứ hai. Vào Quang Thuận năm thứ hai (1461), cậu được 21 tuổi ta (20 tuổi). Cậu là con trai trưởng của Hình bộ Tả thị lang Lê Cảnh Huy và thứ phu nhân Trần thị (vợ hai).

    Đối với các em trong nhà thì Nhật Minh có nhan sắc tầm thường nhất, thậm chí là xấu. Cậu cao tầm thước, tướng đứng hơi khòm. Da ngăm đen, khuôn mặt vuông vức, đôi lông mày sâu róm và mắt hay cười nên hí tịt. Cậu có lỗ tai to, vểnh ra hai bên và có khả năng nhúc nhích hai vành tai. Lúc thì cậu để ria mép, lúc thì mày râu nhẵn nhụi làm Pax vô tình so sánh cậu giống Sở Khanh. Cậu có dáng người mảnh khảnh, tay chân dài thòng, nhưng cái bụng lại hơi phệ (do uống rượu quá nhiều).

    Từ nhỏ cậu đã được sống trong nhung lụa, được mẹ và dì ba nuông chiều hết mực, mặc dù cha cậu luôn có nỗi lo, rằng một ngày đẹp trời cậu sẽ nổi loạn và trở nên hư hỏng. Cậu quả là có nổi loạn thật. Năm 16 tuổi, cậu từng đi đánh bạc, đánh đến hết sạch tiền, không dám về nhà mà bỏ đi bụi đời hết hai tuần. Sau vụ đó cậu bị cha đánh nát đít và bắt đầu công cuộc tìm vợ cho yên bề gia thất. Từ khi ấy cậu đâm ra sợ cha, trở nên phục tùng và ít đánh bạc hẳn, dù trong thân tâm vẫn tìm mọi cách trì hoãn cuộc hôn nhân. Cậu yêu thích tự do, thích những buổi ngao du đó đây, và rất ghét cưới vợ sinh con, vì theo cậu đó chính là sự bó buộc khủng khiếp nhất trên đời. Cậu thẳng thừng từ chối những tiểu thư xin đẹp gia thế hiển hách, trực tiếp (hoặc lén lút) phá đám các bà mối và đặc biệt là bỏ đi chơi suốt ngày, nhất là khi cha cậu có ở nhà. Cuộc tranh đấu cho quyền tự do đã kéo dài gần 5 năm, và cha cậu lúc này đã gần như bó tay với thằng con ngỗ nghịch.

    Nhật Minh được cho ăn học tử tế nhưng lại không muốn vào Quốc Tử Giám học cùng các bạn đồng trang lứa. Cậu biết chữ Hán và Nôm, văn thơ đối đáp cũng tạm được, giỏi tính toán và khá nhanh trí. Dưới ánh mắt của mọi người trong phủ, cậu là một tên trưởng tử ăn chơi sa đoạ, mê tửu sắc và tiêu tiền như nước, là thứ mà bà dì Cả gọi là “phá gia chi tử”. Nhưng trong mắt người em gái Nguyệt Hạ, Đào Xuân và người em trai Phú Hiển, cậu là một người anh cả dễ dãi, hài hước và rất cưng chiều em. Không ai biết cậu dùng số tiền xin đi chơi của cha để mở một quán ăn kinh doanh, sau này làm ăn rất phát đạt. Những buổi đi chơi kỹ viện thật ra là để tìm hiểu và học hỏi các hình thức kinh doanh khác nhau, sẵn tiện ngắm các người đẹp. Lâu ngày, cậu xây dựng hình tượng một ông chủ nghiêm khắc và biết cách nắm lấy cơ hội, và cuối cùng thì cậu cũng có thể tự lập ở tuổi 22.

    Nhật Minh rất yêu thích nghệ thuật, tuy nhiên người nhà cậu không ai ủng hộ sở thích này. Cậu chỉ dám thổ lộ điều này với Nguyệt Hạ, người có cá tính giống cậu. Cậu đam mê hội hoạ, biết thổi sáo và đánh đàn tranh. Chỉ khi được đắm mình trong tiếng nhạc, cậu mới có thể thả hồn đi khắp nơi, và được là chính mình. Ước mơ lớn nhất của Nhật Minh chính là được ngao du thiên hạ, điều mà cậu cho là khó bao giờ đạt được. Với thân phận con trai trưởng, theo lẽ thì cậu phải cưới năm bảy bà vợ để nối dõi tông đường, là một đứa con hiếu thảo, chứ không phải rũ bỏ hết tất cả và xách túi nải lên đường. Nghệ thuật, đối với cậu, chính là sự giải thoát duy nhất khỏi những luật lệ phong kiến hà khắc.

    Đối với gia đình, cậu yêu mẹ, sợ cha, quý mến dì ba và các em, và chán ngán dì cả. Cậu lười biếng nhưng đối xử hoà nhã với mọi người, vui tính và cười rất nhiều. Ở nhà cậu ăn mặc sang trọng, chỉ khi ra đường thì ăn mặc bình dân để tránh bị lộ mặt. Đối với bạn bè, cậu chỉ có duy nhất một người bạn thân, họ Du tên Hoài. Hai người gặp nhau ở trường và kết thân từ đó. Và rồi cậu gặp mặt Ninh Khang.

    Đối với Nhật Minh, Ninh Khang giống như một phép màu vậy. Người hoạ gia xứ Hy Lạp này là hiện thân của mọi ước mơ trong đầu cậu. Thiên tài hội hoạ, biết âm luật, biết làm phép (ảo) thuật, thông minh, tài năng, tự do tự tại. Không biết ngôn ngữ Đại Việt cũng chẳng sao, miễn là hai người có thể hiểu nhau qua ánh mắt và cử chỉ. Cậu thấy Ninh Khang rất giống mình, rất nghệ sĩ, phóng khoáng, chân thành, sòng phẳng và không toan tính. Cậu hay rủ bạn bè mua tranh của Ninh Khang, rồi mời đi thăm thú đó đây. Hai người hay đua ngựa chạy đường dài hoặc ngồi hàng giờ trên đỉnh đồi ngắm cảnh. Ninh Khang hay tặng cậu những bức vẽ, và ngược lại cậu tặng cho anh chàng cây sáo ngọc của mình, sẵn tiện dạy thổi sáo luôn. Ninh Khang rất hay động tay động chân với cậu: ôm, hôn tay, khoác vai, xoa đầu, cái cậu đoán là phong tục của xứ Hy Lạp xa xôi. Cậu cũng chẳng ngại gì, thậm chí còn thích sự mới lạ này. Tuy vậy, càng quen biết Ninh Khang thì ước mơ được tự do càng trở nên cháy bỏng, và cậu nhận ra mình sẽ trở nên vô cùng đau khổ khi bị ràng buộc trách nhiệm của lễ giáo phong kiến.

    Hai người đồng hành của Ninh Khang – Duy An và Anh Giản – lại là một bí ẩn khác. Sau này, khi cùng nhau phá án, Nhật Minh mới có thể hiểu thêm đôi chút về họ. Duy An hiền lành và nhu nhược nhưng vô cùng tử tế. Anh Giản hắc ám hơn và hay nhìn đời bằng nửa con mắt, nhưng lại rất thông minh và thực dụng. Nhật Minh thích Duy An hơn vì Anh Giản hay coi thường và thích gây sự với Ninh Khang. Con người của Anh Giản quá cao ngạo, và đối với cậu, người cao ngạo sẽ dễ gặp thất bại trên trường đời.


    Lê Nguyệt Hạ
    Đọc tiếp
    Lê Nguyệt Hạ (chữ Hán: 黎月夏, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1445), tự Ngọc Quỳnh (玉瓊), là một cô nàng cực kì cá tính. Cô sinh năm Ất Sửu, Thái Hoà năm thứ ba. Vào Quang Thuận năm thứ hai (1461), cô được 17 tuổi ta (16 tuổi). Cô là con gái thứ hai của Hình bộ Tả thị lang Lê Cảnh Huy và thứ phu nhân Mạc thị (vợ ba).

    So với các chị em gái trong nhà thì Nguyệt Hạ bị coi là kém sắc nhất, nghĩa là chỉ toàn giống mấy cái xấu của cha mẹ: mặt vuông vức, lùn tịt, tay chân ngắn ngủn, da đen sạm do cháy nắng, tóc rễ tre lúc nào cũng xù lên, mũi tẹt, răng hô, hai bên má lấm tấm mụn. Ngoại trừ đôi mắt ti hí khi cười lên rất có duyên và má lúm đồng tiền bên trái thì nhìn cô chẳng có gì nổi bật. Cô thường bị chị cả Hoài Thu chê bai về ngoại hình và luôn nhắc nhở phải chăm sóc bản thân thật tốt, nhất là khi thường xuyên về nhà lấm lem và xơ xác sau buổi cưỡi ngựa với anh trai. Với mái tóc dài quanh năm xù ra như cây chổi chà, cô thường chẻ mái đôi và thắt bím ra sau, cột bằng sợi dây màu vàng, và không bao giờ để tóc dài đến thắt lưng. Có lần cô đã cắt xén mái tóc, làm cho nó ngắn hơn vai để dễ cột lên như ông anh, thế là bị mẹ phạt quỳ gối hết mấy tiếng đồng hồ. Cô thích mặc trang phục nam hơn nữ, có ít nhất vài bộ giao lĩnh chín thân giấu dưới giường (do Nhật Minh mua cho). Tuy vậy, cô vẫn thích mặc kết hợp các loại giao lĩnh, viên lĩnh, thường, đối khâm, chủ yếu là màu vàng, cam và đỏ.

    Vì là con thứ nên Nguyệt Hạ có cảm giác cha mẹ quên mất sự hiện diện của mình. Không như người chị cả xinh đẹp tinh thông cầm, kì, thi, hoạ, lấy được tấm chồng tốt, là người con gái ngoan hiền, gương mẫu, hay người anh trai cả Nhật Minh nổi loạn nhưng cực kì tháo vát và tài giỏi, hay như người em trai Phú Hiển luôn chăm chỉ đọc sách thánh hiền, chờ ngày đỗ đạt, Nguyệt Hạ biết mình chính là đứa con gái bất tài, vô dụng, nhạt nhoà nhất trong gia đình. Làm thì dở mà phá hoại thì giỏi. Đã vậy còn cư xử như một thằng con trai, luôn bị mọi người đánh giá là “thứ con gái vô duyên, mất nết”, sợ sau này sẽ không lấy được chồng. Mẹ cô đã nhiều lần tìm người mai mối cho con gái nhưng sau khi gặp mặt Nguyệt Hạ thì mấy chàng trai chỉ có nước chạy dài.

    Nguyệt Hạ có tính cách khác hẳn với chuẩn mực của con gái thời xưa: thẳng thắn, bốc đồng, nóng tính, cẩu thả, lười biếng, đam mê võ thuật, mê tiền hơn mạng,… bị uốn nắn cách mấy cũng không sửa được. Cha cô do bận bịu công việc triều chính nên khi về nhà chỉ dạy dỗ vài lần, trước cô con gái ương ngạnh quá cũng đành bất lực. Mẹ cô đến giờ vẫn chưa bỏ cuộc, vẫn còn nuôi hy vọng một ngày nào đó con gái bà sẽ có người hốt. Thấy cô nàng gần gũi chàng trai nào (có gia thế tốt) là bà liền ghép đôi họ ngay. Sau này đến 19 tuổi mà vẫn còn ế thì tiêu chuẩn giảm đi chút xíu, chỉ cần chàng trai nào tốt hỏi cưới thì sẽ chấp thuận. Tưởng chừng vì quá hổ báo nên sẽ ở giá cả đời, ai ngờ sau này lại nên mối nhân duyên với một người đặc biệt.

    Nguyệt Hạ thích giả trai trốn ra ngoài phủ, cưỡi ngựa, bắn cung và đánh võ. Khổ cái vì không có năng lực hoá trang, mỗi lần cô ra ngoài đều bị phát hiện (đầu tiên là giới tính, tiếp theo là thân phận tiểu thư nhà quan). Cô đánh võ tàm tạm, là do Nhật Minh lén dạy cho. Kỹ năng bắn cung và cưỡi ngựa là do cô tự luyện tập. Nguyệt Hạ thích hát chứ không thích đàn, thích chơi bài chứ không thích đánh cờ, thích bàn luận văn học hơn là làm thơ, và chỉ thích ngắm tranh chứ không thích vẽ. Công, dung, ngôn, hạnh đã không có, cầm, kì, thi, hoạ lại càng chẳng thấy đâu. Nói vậy chứ Nguyệt Hạ chưa bao giờ hối hận. Cô luôn muốn sống thật với chính mình trong cái xã hội phong kiến hà khắc này. May mắn thay, sở thích của cô luôn có một người đứng sau ủng hộ - đó là anh cả Nhật Minh.

    Nguyệt Hạ chỉ “hổ báo” cho tới giây phút gặp được Duy An. Trong mắt cô, Duy An là một chàng trai hoàn hảo. Đẹp trai (theo tiêu chuẩn ngày xưa nha), văn võ song toàn, đã vậy tính cách còn hiền lành, dễ sai bảo và nói chuyện rất hợp rơ với cô. Duy An vô cùng lịch sự, nghe cách nói chuyện là biết người có học, lại là người có kiến thức sâu rộng ở các lĩnh vực lạ và luôn tôn trọng sở thích của cô, không bao giờ đánh giá cô bằng những tiêu chuẩn thời xưa. Việc Duy An là “con trai” ngài Đại hành khiển Nguyễn Trãi càng khiến cậu trở nên thú vị. Hai người có một điểm chung rất lớn: đó là cảm giác bản thân là thành viên vô dụng nhất nhà. Khi gặp Duy An, ngoài việc thích khiêu khích cậu đấu võ thì Nguyệt Hạ mới bộc lộ sự nữ tính của mình (làm quá đến nỗi ai trong phủ cũng biết), và tự nhủ sau này nhất định sẽ cưới cậu về làm chồng (bắt rể luôn tại không còn chi họ Nguyễn ở Nhị Khê).

    Với hai tên ngoại quốc bạn của Duy An, Andrey (Anh Giản) và Nick (Ninh Khang) thì Nguyệt Hạ cũng tò mò không kém. Cô ngưỡng mộ sự thông minh nhanh trí của Anh Giản và đặc biệt yêu thích những bức tranh của Ninh Khang. Cô là người đầu tiên bao che cho Ninh Khang trong vụ trọng án ở phủ, và cùng với anh trai Nhật Minh tích cực tìm bằng chứng minh oan cho cậu.

    Còn với tên Phạm Tạc Tổ thì Nguyệt Hạ mới nhìn đã thấy khó ưa kinh khủng. Cậu ta đúng là kiểu thư sinh trói gà không chặt, suốt ngày đi “dạy đời” cô về thứ lễ nghi phép tắc (hệt như mẹ của cô) nên Nguyệt Hạ rất ghét, tìm đủ mọi cách cà khịa lại cho đỡ tức. Đối với cô, Tạc Tổ là kiểu người nói thì giỏi nhưng làm thì không được, thêm cái yếu đuối, mong manh dễ bể, lại không biết võ thuật nên giá trị của cậu trong mắt cô chỉ bằng con kiến. Tạc Tổ cũng chẳng ưa gì cô nàng, nghĩ cô là một con người vô duyên suốt ngày đu bám “em trai” Duy An nên lén lút (cùng Andrey) tìm cách phá đám, sợ Duy An mà dính vào cái nhà đó thì chỉ thêm rắc rối thôi.

    Và một số nhân vật khác mình sẽ giới thiệu sau, bao gồm:
    Coi chừng bị spoil
    Hình bộ Tả thị lang, Lê Cảnh Huy, cùng các con của ông (Nhật Minh, Nguyệt Hạ, Phú Hiển, Đào Xuân, Hoài Thu và Triều Dương)
    Điện tiền chi đô chỉ huy sứ, Nguyễn Đức Trung
    Thái uý, Lê Lăng (Lý Lăng)
    Thái bảo, Lê Liệt (Đinh Liệt) và con trai út Đinh Thái Văn
    Đội trưởng đội cận vệ cửa Nam, Phùng Thán
    Tên lính gác cổng thành, Nhâm Bính Ngạn
    Bộ khoái huyện Gia Định, Trình Trung Nghĩa
    Chị họ hàng xa của Phạm Tạc Tổ, Phạm Bảo Hà
    Cô bé Huỳnh Thy trong án lần trước
    Góa phụ bán chè, Hồ Gia Hân và con trai Hoàng Thiều Huy
    Học trò cũ của Nguyễn Trãi, Lê Đạt
    Cậu học trò làng Yên Thái, Cao Hùng
    Thái y viện đại sứ, Lưu Công Định
    Thái y viện phó sứ, Lê Minh Đán
    Thái y viện biện nghiệm, Vũ Duy Nghiêm
    Lương y Đặng Thiếu.
    Và rất nhiều nhân vật quần chúng khác.
     
    Chỉnh sửa cuối: 21/5/20
  3. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 51
    LƯƠNG Y


    Thật là đáng báo động!

    Thân nhiệt của Nick truyền qua hai cánh tay tôi. Cái trán nóng hừng hực của cậu ấn vào vai làm tôi nhảy dựng lên như bị bỏng. Andrey nhanh chóng đỡ lấy cậu và vác đến bên chiếc giường gần nhất, tranh thủ kiểm tra những dấu hiệu bệnh. Theo sát sau lưng là bác Cả và Tạc Tổ. Cơn giận của bác Cả chắc giờ đã tiêu tan hết, bởi chưa gì mà bác đã muốn đi gọi thầy lang ở làng bên cạnh cho Nick. Tạc Tổ chỉ dám lặng lẽ đứng ra sau, một tay ôm lấy mặt.

    Mời đọc tiếp Chương 51
    Tôi thận trọng ngồi xuống bên giường, “Cậu ta... không sao chứ?”

    “Không!” Andrey nạt, vén tay áo của Nick lên để bắt mạch. “Nhìn cậu ta đi! Tại sao lại để ra nông nỗi này? Tại sao không nói cho tao sớm hơn?” Andrey ấn hai ngón tay lên cổ tay gầy guộc chừng vài giây, nhắm tịt đôi mắt. Tôi không biết thằng bạn đã học được những gì về kĩ thuật bắt mạch trong Đông y. “Mạch đập nhanh quá, gần như gấp đôi nhịp trung bình, đã vậy còn không ổn định...”

    “Như vậy nghĩa là?”

    “Làm sao tao biết được? Sốt cao như vậy là triệu chứng của rất nhiều loại bệnh, đã vậy tụi mình còn không biết cơn sốt bắt đầu từ khi nào, sốt liên tục hay sốt từng cơn, thân nhiệt cao lên dần đều hay tăng đột ngột...”

    “Tất nhiên là chúng ta không thể nào biết được,” tôi chêm vào, “trừ khi Nick tỉnh dậy.”

    “Nói chung là,” Andrey đứng bật dậy và vuốt mặt, “cái thằng khốn kiếp này đã biết mình bị sốt như vậy mà còn dám đi ra ngoài, trời trưa nắng nóng thì không đội nón, rồi buổi tối ngủ lạnh thì không trải chiếu, đắp chăn... Suốt ngày cứ thích đi lông bông ngoài đầu đường xó chợ, đi từ sáng sớm đến tối mịt. Không ai biết cậu ta làm cái gì, ở đâu, còn sống hay đã ngoẻo...”

    “Thôi... thôi mà...”

    Andrey tức tối làm một tràng dài, càng nói càng hăng. Sắc mặt của cậu thay đổi xoành xoạch, khi thì đỏ bừng, khi thì đen kịt. Tôi mà hỏi nữa chắc Andrey sẽ lật luôn cái bàn chứ không đùa đâu.

    Từ đằng sau, Tạc Tổ bước tới và chạm vào vai tôi, có ý hỏi chuyện. Tôi lẹ làng giải thích tình hình và tranh thủ kéo Tạc Tổ qua một bên, tránh đi “quả bom” trước mặt.

    “Không ổn rồi. Tôi sợ quá cậu ạ.”

    “Ừ. Tôi cũng vậy.” Tôi bày đặt ngó nghiêng. “Ủa? Mà bác Cả đâu rồi?”

    “Bác ấy đã ra ngoài rồi. Có lẽ bác muốn tìm thầy lang cho Ni-cô-lát?”

    “Vậy chúng ta nên ngồi đây chờ thôi. Khi nào cậu ta tỉnh dậy sẽ hỏi chuyện.”

    Thế là bọn tôi nóng ruột ngồi chờ. Trong lúc đó Andrey lặng lẽ đi nấu cháo, rồi lục lọi ba lô lôi ra một vỉ Tylenol (còn ba viên cuối cùng) và viên sủi vitamin C. Tạc Tổ thô lố mắt trước viên thuốc lạ, lẩm bẩm hỏi về thứ “thần dược” bị tên Lê Ngỗi nhắm tới trong án trước, làm tôi không biết phải trả lời thế nào. Quả thật trong tình huống nguy cấp này thì Andrey chẳng thèm giấu diếm gì nữa.

    Chẳng biết bọn tôi đã chờ trong bao lâu, cuối cùng thì Nick cũng chịu tỉnh dậy.

    “Tao chết rồi,” cậu ta thì thào.

    “Ê, mày cảm thấy thế nào?” Andrey hỏi ngay, tay lần nữa đặt lên trán của Nick, chỗ đã chườm khăn lạnh.

    “Andrey quan tâm tới tao,” Nick lẩm bẩm, mắt từ từ nhắm lại, “Vậy thì tao chết thật rồi!”

    “Này! Này! Nicholas! Không được ngủ nữa!” Andrey xém chút nữa đã hét giật giọng, “Tao đang nghiêm túc đó, cái thằng đầu buồi...”

    “Mày sao rồi?” Tới lượt tôi nhẹ giọng hỏi. Sự nóng nảy không đúng lúc này của Andrey chỉ toàn làm rách việc. Ừ thì, tôi biết cậu ta đang cực kì lo lắng cho Nick, nhưng điều đó không có nghĩa là cậu nên biến sự lo lắng đó thành những cơn giận bộc phát tức thời.

    Nick lại chầm chậm mở mắt. Lần này cậu chớp hai lần như muốn định thần lại, sau đó con ngươi từ tốn đảo qua lần lượt từng người. Tạc Tổ phía sau, Andrey và tôi phía trước. Khoé miệng cậu nhếch lên thành nụ cười ngờ nghệch, ngón tay nắm lấy ống tay áo của Andrey, giật giật.

    “Andrey...”

    “Chuyện gì?”

    “Nếu... nếu lần này,” từ ống tay áo, Nick chụp lấy cổ tay của thằng bạn và kéo lại gần, thều thào, “tao không thể qua khỏi...”

    “Không! Không thể nào! Tao sẽ không để chuyện đó xảy ra!” Andrey át luôn lời trăn trối. “Mày cảm thấy thế nào rồi?”

    “Tao cảm thấy... mệt mỏi, chóng mặt, đau nhức toàn thân. A, có con ruồi nè! Ờm... thì nặng nề, giống như bị tạ đè. Bên ngoài thì nóng, bên trong thì lạnh...”

    “Gì nữa?”

    “Tao... có cảm giác... Ủa, tại sao tao lại ở đây? Đáng lẽ tao phải ở chỗ của Nhật Minh chứ...” Nói rồi Nick ngả đầu qua một bên, mắt từ từ nhắm lại. “Chắc lại uống rượu nhiều quá... Mấy người đẹp đâu rồi?”

    “Này! Này, Nicholas! Không được ngủ! Mày mà dám ngủ nữa là tao sẽ...”

    À! Vậy là thằng bạn của tôi đang mê sảng. Bình thường Nick đã cư xử kì quặc, nay chắc cậu không còn biết xấu hổ là gì. Đúng như tôi đã lo sợ, cậu lật cổ tay Andrey và hôn lên đó một cái chóc!

    “Người đẹp... Andrey... là người đẹp...” Nick lảm nhảm.

    Cái gì vậy trời!?

    Andrey cẩn thận gỡ các ngón tay đang bấu chặt kia ra, vừa làu bàu vừa kéo lại vạt áo (tôi nghe được mấy cụm từ như “đồ háo sắc”, “mê gái bỏ bạn”, “ăn chơi trác táng”). Điều ngạc nhiên là cậu không hề nổi đoá hay la hét ỏm tỏi như khi nãy, thậm chí còn kéo tay và đỡ lưng cho thằng bạn mình ngồi dậy. Andrey lau mặt cho Nick và đưa cho cậu chén cháo nóng hổi. Cậu làm tôi nhớ tới cái cách mẹ chăm sóc mỗi lần bọn tôi bị ốm.

    “Ăn cái này, uống thuốc rồi nghỉ ngơi thật tốt. Chút nữa bác Cả sẽ gọi thầy thuốc đến chẩn bệnh cho mày...”

    “Không ăn đâu! Không uống thuốc. Tao mệt quá!” Hai cánh tay Nick như hai cái vòi bạch tuột, quấn chặt lấy Andrey. Cậu ngả đầu lên vai Andrey rồi dụi dụi vài cái. “Ôm... ôm...”

    Nick từ nhỏ vốn dĩ đã thiếu thốn tình thương, lúc mất đi ý thức cơ thể sẽ tự động tìm kiếm một chỗ dựa đáng tin cậy cho mình. Chứng kiến cảnh tượng này làm tôi tự dưng thấy xót cho cậu quá! Dường như Andrey có cùng suy nghĩ với tôi, bởi thằng nhỏ chỉ thở dài, nhè nhẹ vỗ lưng Nick như đang dỗ dành một đứa trẻ.

    “Thôi, thôi được rồi. Tao biết mày đang rất mệt, nhưng hãy cố gắng ăn đi! Ăn xong xuôi thì... tao sẽ ôm mày.”

    “Thật không?”

    “Thật.”

    “Ôm và hôn nữa...”

    Đúng là cái thứ “được voi đòi tiên”, tôi nghĩ, bĩu môi, Cái đồ cơ hội. Andrey liên tục ra hiệu bằng mắt với tôi, tín hiệu lẫn lộn, hình như là sự đan xen giữa “cứu”, “giúp” và “biến”.

    Tôi nghiêng đầu, chìa ra bộ mặt bối rối. Rốt cuộc thì cậu ta muốn tôi làm gì?

    Cứu Nick thì chắc tôi cứu không được rồi! Giúp Andrey thì tên vô dụng như tôi giúp được gì? Còn biến khỏi đây thì tôi dư sức!

    Hiểu rõ vấn đề, tôi toét miệng cười, đưa ngón cái lên và kéo Tạc Tổ ra khỏi căn phòng.

    ----------​

    Buổi chiều tà mà bác Cả lẫn thầy thuốc vẫn chưa về đến nhà, làm tôi trở nên xót ruột vô cùng. Tình trạng bệnh của Nick vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Sau khi ăn uống và trả lời một đống câu hỏi từ Andrey, Nick đã lăn ra ngủ tiếp.

    “Có khi nào...” Tạc Tổ mạnh dạn suy đoán, trong lúc hai đứa đang ngồi thừ người ra ở bậc thềm sân sau, “cậu Ni-cô-lát bị nhiễm vào thứ bệnh ấy...”

    Mặc dù rất muốn gạt phắt thứ giả thuyết kia, tôi vẫn nghiến răng trả lời, “Có lẽ... Tôi... tôi chỉ cầu mong cho cậu ta mau chóng qua khỏi.”

    “Cậu An-rây kia có tài y thuật xuất chúng, tôi tin cậu ấy sẽ tìm ra cách thôi mà.”

    Làm gì có chuyện đó! Khoé miệng giần giật, tôi vội quay mặt đi chỗ khác, không dám đổ gáo nước lạnh vào ngọn lửa lạc quan le lói của Tạc Tổ. Thằng Andrey chỉ là học sinh, trình độ và kiến thức y học chỉ ngang với tay mơ. Cậu ta chủ yếu đọc nhiều sách lý thuyết, chứ ba cái vụ chữa bệnh này thì còn lâu mới được thực nghiệm ở thời hiện đại. Vụ án trước tôi không biết cậu ta rút mũi tên và khâu vết thương kiểu gì, nhưng không thể chừa ra khả năng Andrey là “chó ngáp phải ruồi”.

    Nhắc đến thằng bạn là nó liền xuất hiện. Trông bộ dạng của Andrey giống như mấy thực tập sinh vừa xong ca trực khuya trong phòng hồi sức cấp cứu.

    “Nick thế nào rồi?”

    Andrey lắc đầu, thả người xuống cạnh tôi và gục đầu vào hai cánh tay. Đợi chừng vài phút cậu ta mới ngước lên và trả lời.

    “Tao đã hỏi hết rồi. Cạy miệng một thằng Nicholas mê sảng còn khó gấp chục lần một thằng Nicholas say xỉn. Nói chung là hiện tại vẫn chưa kết luận được gì. Tao biết được cậu ta bắt đầu phát hiện các dấu hiệu khác thường vào hai ngày trước, từ sau bữa tối. Người phát ớn lạnh theo từng cơn. Mệt lả, đau đầu và chóng mặt. Nicholas còn nói, cả người của cậu ta nhức mỏi, nhất là ở phần hai cánh tay và cẳng chân. Đến sáng hôm nay thì phát hiện sốt cao, suy nghĩ không thông suốt, rồi đến ngất xỉu vì kiệt sức và mê sảng.”

    “Ừ,” tôi lại giở thói a dua, “Đúng là chưa thể nói được gì.”

    “Mê sảng chứ cái thói đu bám và cơ hội của cái thằng đó vẫn y chang lúc tỉnh táo. Báo hại tao phải dụ dỗ đủ kiểu mới chịu ăn. À, lúc nãy còn vừa ăn cháo vừa lảm nhảm, cái gì mà, xung quanh tao tràn ngập âm khí, phải tuyệt đối cẩn thận... Đúng là vớ vẩn!” Andrey khịt mũi rồi tự lẩm bẩm. “Hèn gì hôm đó Nicholas đã bắt đầu nói năng linh tinh. ‘Thế lực’ gì ở đây hả trời?”

    Chuyện này thì tôi không đồng ý lắm. Ngẫm đi nghĩ lại, tôi cảm thấy Nick vẫn còn khá tỉnh táo trong buổi họp hôm ấy. Những lời nhận xét và đóng góp ý kiến đều rất hợp lý. Theo tôi thì Nick chỉ bắt đầu mất đi lý trí vào sáng ngày hôm qua.

    Tuy vậy, tôi vẫn không nghĩ mình nên xem nhẹ lời cảnh báo về một “thế lực tiềm ẩn” của Nick.

    “Còn mày nữa. Hồi nãy tao kêu giúp tao thoát ra khỏi đó để đi chuẩn bị thuốc, vậy mà nỡ lòng nào bỏ tao đi luôn.” Andrey đảo mắt, ngáp một cái thật dài. “Tao đi chợp mắt một chút, khi nào bác Cả về nhớ dựng đầu tao dậy.”

    “Ok.”

    Ngồi bên cạnh, Tạc Tổ lặng lẽ lắng nghe cuộc trò chuyện bằng tiếng Anh của bọn tôi, mặt biểu lộ ao ước muốn học thứ ngôn ngữ này. Tôi tóm tắt lời của Andrey (bỏ qua mấy lời than phiền), ngạc nhiên khi thấy Tạc Tổ thở ra một hơi dài thườn thượt.

    “An-rây nói vậy càng khiến tôi lo sợ... ngộ nhỡ... Cậu biết không, đa phần những bệnh nhân trong làng đến khi chẩn được bệnh thì đã quá trễ. Thuốc thang cũng chỉ làm thuyên giảm các triệu chứng chứ không thể khiến bệnh tiêu trừ hoàn toàn...”


    “Này, này, cậu đừng gở mồm gở miệng như thế chứ!”

    Tính từ trước đến nay, Nick đã sống sót qua những trận bạo hành của cha dượng, những đêm lang thang đói rét ngoài đường, những lần nghĩ quẩn rồi tự sát. Con người lương thiện như cậu ta luôn có ơn trên phù hộ, không thể nào chết dễ dàng như vậy được.

    “Tôi...”

    “Thôi bỏ đi.” Tôi phẩy tay, tranh thủ xua mấy con gà. “Vấn đề quan trọng hiện giờ là tìm được thầy lang giỏi để chữa bệnh cho cậu ấy, và phải bồi bổ để cậu ta mau lấy lại sức.”

    Tạc Tổ gật gù. Cậu lại ngồi thừ ra như trước, hai tay chống cằm, tầm mắt hướng vào vô định. Tôi bắt chước cậu, mắt dõi ra đằng xa xa. Mặt trời đã lặn quá nửa trên đường chân trời, tô lên vạn vật cái sắc đỏ cam chói loà và ấm cúng. Ở hướng đối diện, bầu trời xuất hiện lốm đốm các chấm tinh vân, nhạt nhoà sau đám mây thưa thớt.

    Ngắm nhìn cảnh hoàng hôn dần buông lại khiến lòng tôi mang tâm sự. Hoàng hôn là sự kết thúc của ánh sáng ban ngày, cũng là sự khởi đầu của trăng, của sao, của cuộc sống về đêm. Mọi thứ trong thế giới này đều có sự luân chuyển không ngừng.

    Rồi tôi lại nghĩ về sự khả biến của cuộc đời con người, khi bệnh tật là một điều không ai có thể tránh khỏi. Vì thế, chuyện Nick bị bệnh là hoàn toàn bình thường. Tôi nên chấp nhận nó, bình thường hoá nó, trước khi nó ăn mòn đi tâm trí tôi.

    Nhưng nếu Nick không qua khỏi thì sao? Giọng nói ấy lại vang lên. Tất cả tội lỗi sẽ đổ lên đầu mày.

    Im đi! Nick sẽ vượt qua. Nick sẽ vượt qua được hết!

    Tôi bật dậy, định vớ lấy cây trường côn dựng ở góc tường thì bị Tạc Tổ níu lấy ống tay áo.

    “Bác Cả về rồi!”

    ----------​

    Bác Cả về nhà với giỏ thức ăn đầy ắp và khuôn mặt cáu kỉnh. Không có thầy lang theo cùng.

    “Tại sao lại như thế được hở bác?” Tôi xộc tay vô mái tóc, bất mãn hơn cả hai người kia. “Chẳng lẽ khắp ba thôn không một ai muốn chữa cho cậu ta?”

    “Bọn lăng băm kia đúng là một lũ vô tích sự, vừa nghe đến danh của cái cậu Lát kia đã co giò chạy biến. À, có một vị tu sĩ từ chùa Trấn Quốc, người duy nhất chịu chữa thì lại đang ở huyện Thuỵ Anh thuộc phủ Thái Bình, sớm ngày mốt mới về đến kinh thành.” Bác Cả bước tới giường, tay đặt lên trán Nick. “Thôi, bảo thằng nhỏ cố chịu đựng, ta sẽ nấu món gì cho nó ăn.”

    “Đúng rồi.” Tạc Tổ gật đầu lia lịa. “Phải bồi bổ cho thật tốt thì mới mau chóng khỏi bệnh. A! Bác Cả ơi, hay là cháu...”

    Khoé mắt Tạc Tổ giật hai cái. Cậu nhai môi dưới, hai tay giấu vào túi áo, mắt khẽ liếc ra ngoài sân. Bác Cả kiên nhẫn chờ đợi.

    “Hay là?” Tôi hỏi.

    “Cháu có thể... bắt một con gà để nấu cháo...”

    “Không!” Tôi la lên, thất kinh trước đề nghị kia. “Không! Không! Cậu... cậu không cần phải làm thế! Ối trời ơi, đừng có giết gà mà!”

    Hai người nhướn mày nhìn tôi lên cơn kích động.

    “Ờm... thì ăn cái khác cũng được mà. Hoặc là... hoặc mua gà chết rồi ở ngoài chợ ấy, chứ cậu đừng có giết tụi nó! Giết tụi nó... tội nghiệp lắm!”

    Ánh mắt của bác Cả thoáng lên thứ gì đó khó gọi tên, trong khi Tạc Tổ nhè nhẹ thở ra. Chắc cậu cũng chẳng ưa gì phương án tàn nhẫn này. Sống cùng mấy con gà một thời gian, dù không ưa gì tôi vẫn không nỡ lấy mạng bọn chúng. Nick nếu biết cũng sẽ chẳng muốn ăn đâu.

    “Được rồi. Vậy để ta nấu...”

    Cộc! Cộc! Cộc!

    Là ai thế nhỉ? Tôi vội chạy ra mở cửa thì bắt gặp một ông lão. Ông có khuôn mặt phúc hậu, vầng trán cao, chòm râu bạc rủ xuống từ hai bên khoé miệng. Tuy đã già nhưng dáng đứng thẳng tắp, vai đeo một cái hộp hình chữ nhật.

    Bộ dạng này, khí chất này...

    “Cháu chào ông ạ. Ông đến đây có việc gì thế?”

    “Cậu bé, cho Lưu mỗ hỏi, đây có phải là Phạm gia của làng Yên Thái?”

    “Đúng rồi ạ.”

    “Ta đích thân nhận được lời mời từ công tử Nhật Minh,” mắt ông tràn ngập ý cười, đầy sự cảm thông, “đến đây để chẩn bệnh cho vị bạn hữu ngoại quốc của cậu ấy.”

    Nghe xong câu nói ấy là tôi đã muốn sụm người xuống trước mặt cụ ông (không, là lương y), vái lạy ba cái. Ở ngoài mặt, tôi chỉ dám cúi gập đầu, xém chút nữa đã oà ra khóc.

    “Cháu xin ông.” Nắm lấy cổ tay ông lão, tôi nói mà giọng run run, “Xin ông hãy cứu lấy bạn của cháu. Làng này đang có ôn dịch, cháu chỉ sợ bạn cháu mắc phải thứ bệnh quái ác đấy thôi...”

    “Được rồi, cậu bé. Cứ để đấy cho ta.”

    Tôi như bừng tỉnh và vội chạy vào theo, thông báo tin mừng. Hệt như tôi, ông lão được mọi người trong nhà chào đón như một vị cứu tinh bất ngờ. Nick đang say ngủ, nên việc nên làm ngay lúc này là đánh thức... Andrey. Như một người lính, thằng bạn thân của tôi mở bừng mắt và phóng khỏi giường với tốc độ tên bắn. Không một chút dấu hiệu của sự buồn ngủ.

    Mặc cho ông ta bắt mạch, đâm, chọt, sờ, nắn và xoay người tới lui, Nick vẫn ngủ như chết. Đợi vị thầy thuốc khám xong cho Nick, Andrey liền báo cáo những gì cậu thu thập được ban nãy, kèm theo tình hình dịch bệnh ở làng Yên Thái. Tôi bồn chồn đứng bên cạnh, phụ giúp phiên dịch khi cần.

    “Dựa vào những gì ta quan sát, cậu bé này có thể chỉ là mắc vào chứng cảm mạo thông thường, là do trái gió giở giời mà sinh đau ốm. Nhật Minh đã nói với ta rằng, hai đứa nhỏ rất hay cưỡi ngựa ra ngoài vào lúc trời nắng nóng hoặc đổ mưa giông. Như thế là không nên.”

    “Ông nói đúng.” Andrey lẩm bẩm.

    “Tuy vậy, những dấu hiệu của căn bệnh kia vẫn không thể xem thường, nên tạm thời ta chỉ có thể kê đơn thuốc giúp suy giảm những triệu chứng của cảm phong hàn. Nếu có phát ra biểu hiện lạ, các cháu hãy lập tức viết thư cho cậu Nhật Minh. Hai ngày nữa ta sẽ quay lại đây.”

    “Ông nói vậy, bọn cháu cũng an tâm phần nào.”

    “Vậy,”
    Andrey nhìn ông ta không chớp mắt, “ông nghĩ thế nào... về dịch bệnh ở làng giấy?”

    “Hừm, một câu hỏi thú vị. Thứ bệnh mà cháu miêu tả, thú thật thì ta đã nghe qua, nhưng chưa khi nào nó biến thành ôn dịch cả. Ít nhất thì ta phải thông qua tứ chẩn, xét qua bát cương thì mới có khả năng xác minh bệnh danh. Ngày mai ta sẽ lại đến làng để chẩn bệnh.” Ông đứng dậy, ngước nhìn anh chàng ngoại quốc cao quá khổ. “Đoán chừng... ta nghĩ cháu đã biết câu trả lời từ đầu rồi. Có đúng thế không?”

    Như bị trúng tim đen, Andrey ngạc nhiên đến nỗi quẳng luôn hình tượng thường ngày vào sọt rác. Cậu trợn mắt và há hốc mồm, nói không nên lời. Chân bước lùi lại thì vấp vào cái chân ghế, nếu tôi không kịp kéo cậu ngồi xuống thì chắc Andrey đã té chỏng vó.

    “Cậu bé, cháu tên gì?”

    “Là... Andrey, không, là Anh Giản ạ.”

    “Anh Giản à. Quả là sáng dạ. Ta trộm nghĩ,” ông cúi đầu nói nhỏ, “người như cháu đây, nếu theo ngành y dược, chắc hẳn sẽ có ngày công thành danh toại.”

    Mặc dù không hiểu câu nói, Andrey vẫn đứng dậy và cúi đầu cảm tạ.

    “Còn ông?” Tôi vội hỏi. “Ông là ai ạ?”

    Hoá ra vị lương y này là Lưu Công Định. Ông từng là Nhập nội thái y viện đại sứ dưới triều của Lê Nhân Tông, trật hàm chánh ngũ phẩm. Khi về hưu rồi, ông vẫn tiếp tục đi khắp nơi chữa bệnh trong dân gian, nhưng vẫn là bạn bè thân thiết với gia đình của Hình bộ Tả thị lang Lê Cảnh Huy, cha của Lê Nhật Minh.

    Sau vụ này, tôi cần phải đích thân đến cảm ơn anh chàng Nhật Minh kia mới được.

    Trước khi ra cổng, ông còn chu đáo dặn lại.

    “Cứ làm theo lời dặn của ta, một ngày ba cữ thuốc. Ngoài ra, nhớ nấu cháo gà cho bệnh nhân, và nhắc cậu bé uống thật nhiều nước.”

    “Cháu đã nhớ rồi. Cháu cảm ơn ông rất nhiều ạ.”

    “Và Duy An này...”


    “Vâng ạ?”

    “Nếu mai mốt các ngự y có đến đây, cháu hãy nhắn với họ một điều: ‘Ôn dịch này, cốt nằm ở huyết.’”

    ----------​

    “Thân gửi Lê Phong ở cung Thừa Hoa,


    Thật là tốt quá! Chúng tôi luôn mong chờ sự giúp đỡ từ triều đình. Xin cho hỏi kết quả của buổi thượng triều như thế nào?
    Không may làm sao, hiện tại bạn hữu của tôi, vị ‘Hy Lạp Hoạ Gia’ kia đã đột nhiên phát bệnh, chưa rõ có phải là do thứ ôn dịch kia hay không. Để đảm bảo an toàn cho anh và mọi người, tạm thời tôi sẽ không vào cung cấm.
    Xin anh đừng lo lắng gì. Một vị lương y đã đến chẩn đoán và ghi đơn thuốc cho cậu ta, nói rằng đây có thể chỉ là chứng cảm phong hàn thôi.
    Tôi xin hứa với anh sẽ cập nhật thường xuyên tình hình ở làng giấy.


    Thân mến,
    Ký tên: Duy An.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/4/20
  4. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 52
    CANH BA


    Nick bị bệnh nặng làm không khí trong nhà trở nên ảm đạm. Ai nấy đều lo cho cậu, rồi lại mệt mỏi vì lo lắng quá độ. Sau khi nhận lấy đơn, bác Cả đã tức tốc chạy đến hiệu thuốc Đông y trước khi họ đóng cửa. Trong khi đó, Tạc Tổ dựa vào danh sách các món ăn phù hợp cho người bệnh mà chui vào bếp trổ tài (bị Andrey đuổi ra trước khi kịp làm gì). Tôi đây, một đứa vô tích sự, chỉ biết ngồi ì trên giường canh chừng thằng bạn.

    Mời đọc tiếp Chương 52
    “Nick, tại sao mày lại để đến nông nỗi này? Tại sao không nói cho bọn tao sớm hơn?” Tôi chỉnh lại cái khăn trên trán cậu, tự mình thì thầm, “Mày nghĩ mày khoẻ lắm sao? Mày nghĩ chỉ cần im lặng chịu đựng một thời gian thì căn bệnh sẽ tự động qua khỏi? Mày đã từng nói với tao, rằng trước hết phải yêu quý bản thân... Rồi mày lại đi và làm điều ngược lại. Liều cái mạng của mày để được gì? Để bọn tao khỏi phải lo lắng? Để thực hiện đúng hẹn giao tranh cho Nhật Minh? Tuyệt vời! Hết sẩy! Giờ thì mày vẫn làm mọi người lo đến quắn cả mông lên. Đúng là nồi chê niêu nhọ [1]. Hừ!”

    “Khụ!”

    “Mày tỉnh rồi à?”

    “Mày chửi xong chưa?”

    Nick mở mắt, vừa nói vừa cười cười. Giọng điệu cợt nhả cộp mác Kanelos này chứng tỏ thằng bạn tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Thật là đúng lúc, vì đã đến giờ ăn tối.

    “Tao đã ngủ bao lâu?”

    “Khoảng năm tiếng.”

    “Ủa?” Nick bỗng bật dậy, lấy tay gãi mái đầu xù. “Vậy... tao đã về đây bằng cách nào? Tao có ăn trưa không? Sao tao chẳng nhớ gì cả?”

    Tôi liếc cậu, khoé miệng vô thức nhếch lên. Nếu Nick biết được chuyện cậu biến thành con khỉ đu bám cái cây Andrey thì sẽ phản ứng thế nào nhỉ? Chưa kể cậu còn nhầm lẫn Andrey thành mấy người đẹp trong kỹ viện, vô ý sàm sỡ, hôn hít lung tung? Không biết lúc tôi bỏ đi rồi Nick còn giở trò gì nữa không?

    Thôi! Chắc là tôi sẽ giữ thể diện cho hai thằng bạn, coi như không có chuyện gì xảy ra.

    “A, nhớ rồi!” Nick reo lên, cười toe. Nếu không phải thân nhiệt hừng hực và khuôn mặt xanh lét, trông Nick cư xử hệt như lúc còn khoẻ mạnh. “Tao đã cưỡi ngựa và đi bộ về nhà. Sau đó bác Cả định đuổi đánh tao nát đít, nhưng rồi tao ngất xỉu lên người mày. Xin lỗi nha.”

    “Không sao. Buổi chiều Nhật Minh có mời một vị thầy thuốc đến khám cho mày, nên bây giờ bọn tao đang chuẩn bị đồ ăn và thuốc. Đến lượt mày trải nghiệm sự ‘thơm ngon’ của thuốc Nam thời đại này rồi. He he he...”

    Nick đảo mắt. Động tác đơn giản này lại khiến cậu chau mày, nhắm tịt mắt, hai tay day thái dương. Từ đằng xa, “bác sĩ” Andrey chứng kiến cảnh này thì nheo mắt, bặm môi, dường như đang suy tính chuyện gì đó. Tô cháo nóng hổi đặt nhanh xuống bàn, cậu bước tới và khoanh tay lại, thái độ lạnh lùng khác thường.

    “Ăn đi! Bác Cả đang sắc thuốc cho mày, nhớ uống cho bằng hết. Đừng có giở chứng như Pax.”

    “Này!” Tên Andrey quá đáng! Tôi còn ở đây mà?

    “Còn mày,” cậu quay qua tôi, hạ giọng, “đồ ăn có sẵn trong nhà bếp, muốn ăn bao nhiêu thì cứ lấy thoải mái. Ăn xong rồi thì đi nghỉ sớm đi! Hôm nay tao thấy mày vất vả nhiều rồi.”

    Như được thả tự do, tôi liền biến ra khỏi căn phòng ngột ngạt đó, chạy ù vào nơi cái bụng cồn cào sẽ được lấp đầy.

    ----------​

    Andrey nói đúng quá xá đúng. Tọng vào bốn chén cơm đã quật hết sức mạnh còn sót lại trong ngày, thế là tôi vác cái bụng bự chảng đi lên phòng khách, hỏi thăm Nick vài ba câu rồi kiếm cớ bò lên giường ngủ.

    Tôi mệt đến nỗi không thèm can ngăn hai thằng bạn thân đang có dấu hiệu muốn gây sự. Nick liên tục khiêu khích thằng nhóc người Nga, người không hề muốn khai ra sự việc đáng xấu hổ hồi trưa. Bị chọc riết rồi Andrey cũng đâm quạu, biến từ cục băng di động thành con sư tử rống. Tôi kéo màn che và đóng sầm cửa lại khi Andrey gào toáng lên, “Đủ rồi nghen, thằng mắc dịch!”

    Người ta hay nói, ăn được ngủ được là tiên. Tôi chưa thể thành tiên, nghĩa là tôi chỉ ăn được thôi chứ chưa ngủ được.

    Chưa ngủ được thì nên làm gì? Ngồi thiền chứ gì!

    ----------​

    “Pax? Pax! Cảm ơn mày nhiều lắm! Nhờ chuyến đi này mà tao biết được rất nhiều điều.”

    “Hửm?”

    Tôi đang ngồi thiền thì chậm rãi mở mắt. Một mái đầu vàng hoe lờ mờ hiện ra. Ngước nhìn lên thì tôi thấy một bóng người cao lớn đang lay vai mình, môi nở nụ cười tươi rói. Người đó ôm chầm lấy tôi.

    “Tao nghĩ tao biết được đây là bệnh gì rồi!”

    Sao khung cảnh này... quen quá nhỉ? Tôi đã trải qua nó ở đâu rồi? Khuôn mặt kia dần dần hiện rõ. Bộ áo trung đơn màu đen ướt nhẹp chưa buộc dây. Đôi mắt xanh lam lập loè, bộ râu quai nón lởm chởm, cái mũi hếch...

    À! Chính là buổi tối hai hôm trước. Andrey vừa lén lút đi dòm xác thằng em của Cao Hùng về!

    Tiềm thức tìm lại được kí ức quen thuộc, tôi nói mà không cần suy nghĩ, “Bệnh gì cơ?”

    Andrey không trả lời ngay. Cậu ngồi xuống giường và lôi cuốn sổ tay ra từ trong bọc vải, ghi chép lia lịa bằng cây bút bi duy nhất, như thể cậu sợ mình sẽ quên béng mất mọi thứ trong phút chốc. Biết tính cậu, tôi kiên nhẫn ngồi bệt xuống sàn, cạnh thằng Nick đang ngủ thẳng cẳng. Thấy thằng bạn rùng mình, tôi kéo tấm chăn trên giường xuống và phủ lên người cậu. Tấm chăn còn lại đã bị cậu biến thành gối ôm mất rồi.

    “Xin lỗi. Tao cần phải... những thứ này cần phải được đánh dấu lại để sau này tiện lưu vào hồ sơ, trước khi tao lỡ mất thứ gì... Xong rồi!”

    “Chuyến đi thế nào?”

    “Thú vị. Ít ra bây giờ tao đã tìm được loại bệnh khớp với hầu hết các triệu chứng và dấu hiệu. Xém chút nữa bị phát hiện, nhưng, tao cảm giác lần này là một vụ thắng lớn.”

    “Giải thích cái coi!”

    “Hồi trưa, trước khi về tao đã hỏi Cao Hùng về các bệnh nhân khác trong làng. Hơn phân nửa là trẻ em. Chủ yếu là con của những người thợ làm giấy. Phạm vi bệnh dịch là cả hai làng Yên Thái và Nghĩa Đô, không có một khu vực tập trung nhất định. Không rõ nguồn phát dịch. Thường thì chỉ có con cái của họ mắc vào căn bệnh này.”

    “Ừm. Rồi sao nữa?”

    “Lần này cũng vậy. Chỉ có thằng nhóc Kiến là bị bệnh. Cha, mẹ, ông bà đều khoẻ mạnh. Hỏi ra thì mới biết mọi người đều ăn chung, ngủ chung, đi vệ sinh chung. Nếu là do thức ăn và nguồn nước bị nhiễm khuẩn, chắc chắn mọi người đều phải bị bệnh. Nghĩa là tao có thể loại ra bệnh thương hàn.” Andrey nhìn lên trần nhà, vẻ mặt trầm ngâm. “Bệnh sốt phát ban kia cũng vậy. Sởi, Rubella, thuỷ đậu,... chúng đều lây qua đường tiếp xúc gần gũi. Cái này tao mới nhớ ra gần đây thôi.”

    “Nghĩa là chỉ còn hai bệnh: sốt rét và sốt xuất huyết.”

    “Ờm... nói chung là, tao có ngó qua xác thằng bé để xác nhận vài chuyện. Sốt rét và sốt xuất huyết đều có chung nhiều triệu chứng, như sốt cao và buồn nôn, nhưng chúng cũng có một vài điểm khác biệt. Sốt xuất huyết có xuất hiện những nốt ban đỏ trên người, hoặc là các vết bầm tím lớn nhỏ. Theo tao nhớ không lầm thì một số bị đau hốc mắt, chảy máu mũi, và trong trường hợp này thì bị chảy máu chân răng. Là do phần tuỷ của bệnh nhân bị phá huỷ, gây ra suy giảm bạch cầu và tiểu cầu.”

    “Vậy là... sốt xuất huyết ư?”

    Đó giờ tôi chỉ mới nghe loáng thoáng qua căn bệnh này. Tôi chỉ biết là nó cực kì nguy hiểm, nhưng không ngờ có ngày sẽ phải trực tiếp đối mặt với nó, lại trong điều kiện lạc hậu và thiếu thốn. Lời khẳng định của Andrey chẳng làm nỗi bất an của tôi giảm đi chút xíu nào.

    “Đúng vậy.” Andrey gật gù, “Mày nghĩ thử xem, xung quanh đây toàn là nước. Bể, giếng, ao, hồ, sông, ngòi, kênh, rạch... toàn là môi trường lý tưởng cho lũ muỗi sinh sôi nảy nở. Chỉ cần một vài con mang mầm mống là có thể truyền bệnh cho biết bao nhiêu người...”

    “Chết rồi!” Tôi ôm đầu, “Từ hồi ở làng đến giờ, tụi mình ngày nào cũng bị muỗi cắn.”

    “Ừ, đó là điều tao không muốn nghĩ đến đây.”

    “Làm sao bây giờ? Làm sao đây?” Đến lượt tôi lên cơn hoảng loạn. “Tao chưa bao giờ bị sốt xuất huyết, trong người không có chút kháng thể nào. Mày cũng vậy. Nick có kháng thể, nhưng lỡ nó là chủng vi rút khác thì sao? Đã lâu như vậy, liệu miễn dịch trong cơ thể có còn hiệu quả? Chết rồi! Chết rồi! Chết thiệt rồi...”

    “Pax! Bình tĩnh. Thật ra biện pháp cũng đơn giản thôi.” Andrey nở nụ cười gằn, nhe hàm răng và nướu đỏ lét do nhai quá nhiều trầu. Ánh mắt xanh trời của cậu bỗng lạnh như băng, mất đi thứ ánh sáng thường ngày.“Dù gì thì, đó cũng không phải là chuyện của tụi mình. Ba đứa mình nên biến khỏi đây, càng xa càng tốt.”

    “Cái gì?”


    Không! Không thể nào! Andrey trong trí nhớ của tôi sẽ không bao giờ bỏ chạy thế này. Biết bao tuần nay, cậu ta đã cực khổ dịch sách y học và điều tra về căn bệnh lạ. Cậu sẽ ở lại và tìm mọi cách để ngăn chặn dịch bệnh. Cậu sẽ chiến đấu như một bác sĩ thực thụ.

    Hơn nữa, tôi biết cậu sẽ không nỡ bỏ mặc bác Cả, Tạc Tổ và Cao Hùng ở đây.


    “Mày nghe rồi đó. Chúng ta sẽ cao chạy xa bay, tránh xa cái ổ dịch bẩn thỉu này...” Andrey lấy tay áo quẹt khoé miệng. Trên vải bông xuất hiện vài chấm đỏ li ti. “Ngày mai chúng ta sẽ rời khỏi đây!”

    Chuyện gì đang xảy ra vậy? Tôi bắt đầu hoang mang. Theo tôi nhớ không lầm thì tối hôm đó Andrey giải thích xong phát hiện của mình thì trải chiếu xuống đất và lăn ra ngủ khò, đâu còn hơi sức mà thu dọn đồ đạc.

    Chẳng lẽ... đầu óc tôi lại có vấn đề nữa rồi?

    “Không... Không! Mày làm sao vậy?” Tôi chụp lấy tay áo Andrey, tranh thủ nhìn kĩ vào cái vệt đỏ khả nghi kia. “Andrey, dừng lại ngay! Đây không phải là mày!”

    Khoan đã, nó chính là máu mà! Andrey lại lấy tay áo lau khoé mắt. Thêm vài vết chấm đỏ hiện ra. Tôi ngước lên thì thấy cậu đang khóc ra máu.

    “ANDREY!”

    Hai dòng huyết lệ lăn dài trên gò má, vậy mà Andrey coi như không có chuyện gì. Hoảng hốt, tôi định với tay chạm vào khuôn mặt cậu thì bị đẩy ra.

    “Anh ấy ổn mà. Anh chớ nên lo lắng.”

    Ngồi trên giường của tôi hiện giờ là một cậu bé chừng năm, sáu tuổi. Cậu đặt hai tay trên đùi và đong đưa cẳng chân. Khuôn mặt sáng bừng lên bằng một nụ cười ngây thơ. Dáng người gầy gò bơi trong bộ giao lĩnh màu trắng.

    Cậu bé này...

    “Thằng cu Kiến?”

    “Em chào các anh ạ.” Thằng bé lễ phép khoanh tay, cúi đầu chào. Đôi mắt long lanh nhìn tôi đầy mong đợi.

    “Chào em, Kiến.” Tôi gật đầu. “Em đang làm gì ở đây?”

    “Nãy giờ em đi theo anh Anh Giản này đấy. Anh ấy đã hứa rồi mà.”

    “Hứa gì?”

    “Anh ấy nói sẽ... sẽ cùng em giúp đỡ mọi người trong làng mau mau khỏi bệnh ạ.”

    Tôi quay sang Andrey thì thấy đôi mắt đã ngừng chảy máu. Thái độ thằng bạn lúng túng như gà mắc tóc. Nhận được cái nhướn mày của tôi, Andrey hừ mũi rồi bước vội ra ngoài.

    Giờ chỉ còn tôi và thằng bé, tôi dè dặt ngồi xổm xuống để đặt ngang tầm mắt, hắng giọng, “Nếu Anh Giản đã nói vậy, cũng là đúng với tính cách của cậu ấy. Nhưng em đi theo bọn anh như thế, không sợ cha mẹ của em lo lắng sao?”

    “Vậy thì anh nên đi theo em về xin phép thầy mợ. Đi đi anh!”

    Nhưng em ấy đã chết rồi mà? Làm sao tôi giải thích được với phụ huynh thằng bé đây?

    “Ngoài kia đã là canh ba. Em không thể đi về đêm khuya một mình. Anh đi cùng em với!”

    “Nhưng...”

    “Đi mà, anh Duy An. Em van anh mà! Không có anh là em không thể ra khỏi đây. Em nhớ thầy mợ của em. Em muốn về nhà.”

    “Được rồi.” Tôi thở hắt ra. Đúng là không thể từ chối một đứa con nít. “Anh sẽ theo em về.”

    “Hay quá! Vậy em sẽ chờ anh ngoài cửa.” Nói rồi thằng bé biến mất.

    Tiếng cười giòn tan của thằng nhóc làm tim tôi tan chảy. Thật là đáng tiếc. Một đứa trẻ vô tội như em ấy không đáng bị yểu mệnh.

    Tôi bước ra ngoài gian phòng khách, thông báo với Andrey mình sẽ ra ngoài.

    “Khoan đã, Pax! Mày định đi đâu?”

    Hai bàn tay bấu chặt lấy vai tôi, lay thật mạnh. Tiếng nói to như sấm rền.

    “PAX! TỈNH LẠI MAU! PAX!”

    ----------​

    “Pax! Dậy! Dậy mau lên!”

    “Buông tao ra!”

    Khi mở bừng mắt, đập thẳng vào mặt tôi là khuôn mặt lo lắng của Andrey. Một tay cậu vẫn giữ lấy vai tôi, tay kia giơ lên ngang mặt, giống như cậu chuẩn bị nhéo, tát hoặc đỡ đòn tấn công từ tôi. Chớp mắt hai cái nữa, tôi chưa kịp định thần thì lập tức bị tra hỏi.

    “Mày đi đâu vậy?”

    “Đi ra ngoài.”

    “Tao biết. Nhưng giờ này ra ngoài làm cái quái gì?”

    “Thì thằng bé...”

    Tôi dáo dác nhìn quanh. Không một bóng người. Không một tiếng động. Da gà da vịt nổi lên từng mảng. Dường như tôi có linh cảm ai đó đang theo dõi mình.

    Andrey ngớ ra, “Thằng bé nào?”

    Ấy chết! Đến đây thì tôi mới té ngửa. Thì ra là mình nằm mơ! Định ngồi thiền nhưng ai ngờ ngủ luôn. Thiệt là trớt quớt mà!

    “Pax,” Andrey vuốt mặt, “mày vừa mới mộng du. Doạ tao một trận hết cả hồn.”

    “Xin lỗi.” Tôi gãi đầu, nhăn răng ra cười trừ. Tất nhiên là tôi đâu dám nói Andrey trong giấc mơ hù doạ tôi lên cơn đau tim cỡ nào.

    “Dạo này tao thấy mày mệt mỏi hơn bình thường, hay căng thẳng và lo âu quá mức. Trong làng đang có dịch bệnh, mày cũng nên chú ý đến sức khoẻ bản thân mình đi...”

    Cảm giác một bài thuyết giảng sắp nhắm về phía mình, tôi chĩa mũi dùi về phía Andrey trước, “Còn mày thì sao? Định ngồi đó đến sáng luôn hả? Nick đã ngủ từ đời nào rồi, mày ngồi canh chừng thì được cái tích sự gì? Vào phòng ngủ đi!”

    Nhiều khi tôi nể thằng bạn của mình thật. Andrey có thói quen thức thâu đêm suốt sáng như một con cú vọ. Thân là dân y, là bác sĩ tương lai, thế mà không bao giờ làm tấm gương tốt cho bạn bè. Cậu ta biết rõ tầm quan trọng của giấc ngủ nhưng lại luôn trong tình trạng thiếu ngủ trầm trọng. Đúng là bó tay mà!

    Nằm co ro trên chiếc phản gỗ, Nick cựa quậy, nói mớ vài câu. Tay cậu quờ quạng tìm kiếm gối ôm.

    “Tao không ngủ được,” Andrey nhỏ giọng thú nhận. Cậu ném cho thân ảnh bên cạnh một cái nhìn vừa thương hại vừa trách móc. “Nick vẫn còn sốt cao. Tao chỉ sợ, rằng nếu có chuyện gì xảy ra trong lúc tụi mình đang ngủ... Lỡ cậu ta lên cơn co giật, mê sảng, hay mộng du giống mày...”

    Andrey đã nói vậy là tôi hết đường khuyên can. Biết tính cậu, nếu bây giờ tôi có dùng hết sức ép cậu đi chợp mắt vài phút cũng không có tác dụng. Andrey hay chê tôi đầu đá, đầu gạch các kiểu, nhưng tôi thấy cái đầu của cậu mới thuộc vào hàng kim loại chém đá.

    Nghĩ cũng buồn cười thật. Ngày thường hai đứa bạn tôi kị nhau như nước với lửa, hễ thấy cái bản mặt của nhau là chí choé không ngớt. Thế mà gặp hoạn nạn thì lại hết mực quan tâm tới nhau. Ha, tôi luôn biết Andrey trong bụng là một tên dịu dàng và uỷ mị mà!

    “Được rồi. Tuỳ mày. Tao vào ngủ.”

    ----------​

    “Thân gửi Đức Bình,

    Sáng nay, hoàng đệ ta đã truyền lệnh cho hai người từ thái y viện đến làng giấy rồi. Ngươi hãy tìm cách liên lạc với họ ở tế sinh đường của huyện Quảng Đức. Nơi ấy có các lớp phổ cập cách phòng chống dịch bệnh và phát thuốc miễn phí cho dân làng.
    Ngày mai ta sẽ đi theo hai vị thái y kia nhằm thị sát tình hình dịch bệnh ở phía Tây kinh thành. Nếu có thể, ta muốn nói chuyện với ngươi và vị bằng hữu Anh Giản kia. Đến gặp ta ở tế sinh đường. Đây là mệnh lệnh.
    Ta hy vọng các ngươi sẽ mau chóng vượt qua hoạn nạn này.


    Hãy bảo trọng.
    Ký tên: Lê Phong.”




    Chú thích:
    [1]: Thành ngữ bên tiếng Anh, dịch từ câu "The pot calling the kettle black". Tương tự như câu "Chó chê mèo lắm lông" bên tiếng Việt.
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/4/20
  5. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 53
    NHẮN GỬI


    “Đi mua thuốc với tao!”

    “Hả?”

    Mời đọc tiếp Chương 53
    “Ờ thì... tao nghe nói ở trạm xá lớn nhất ở trung tâm huyện Quảng Đức có phát thuốc miễn phí cho bệnh nhân ở vùng có dịch. Tụi mình cần mua thêm hạt tía tô và củ riềng cho Nick. Và mớ lá thuốc khác nữa. Hôm qua bác Cả chỉ mua thuốc sắc được cho năm cữ thôi.”

    Andrey đang loay hoay nhóm bếp thì quay phắt qua, nheo mắt đánh giá nụ cười thành thật hết chỗ nói của tôi.

    “Năm cữ còn dư chán.”

    “Thế mày nhớ lời của Nick tối qua không?”

    “Tất nhiên.” Andrey khẽ cau mày, lấy tay dụi mắt. Không biết là do mệt mỏi hay tro bếp bay tứ tung. “Ai ngờ cậu ta bệnh mà hung dữ quá!”

    Một đêm thức canh chừng cho thằng bạn đã khiến thần sắc cậu xuống cấp hẳn. Khoảng hai, ba giờ sáng Nick có tỉnh dậy, suýt gục đầu ngủ trong nhà vệ sinh và té bổ nhào trước bậc tam cấp. Sau khi phát hiện Andrey đã sử dụng hết một viên Tylenol cho mình, Nick đã lập tức tỉnh ngủ. Cậu gắt ầm lên và bắt Andrey hứa chỉ dùng nó trong trường hợp khẩn cấp nhất. Mặc Andrey phân bua, Nick đã nhấn mạnh, vừa nhấn vừa chỉ tay vô mặt thằng bạn, rằng căn bệnh này không quan trọng bằng việc để dành mớ thuốc kháng sinh và kháng viêm ít ỏi để cứu mạng cả bọn trong tương lai. Đứng từ xa, tôi há hốc mồm nhìn Andrey bị Nick chửi cho tắt bếp. Hiếm khi nào Nick cử xử như thể Andrey vừa mới phá tan tành bộ dụng cụ mỹ thuật mới nhất của cậu.

    “Với... với lại,” tôi vô thức vò vạt áo, “tao cũng cần thêm thuốc bổ cho mình.”

    “Mày,” Andrey trợn mắt, “cần uống thêm thuốc?”

    Thu lại nụ cười, tôi dáo dác ngó quanh. Phản ứng của Andrey làm tôi biết lý lẽ của mình xàm xí đến cỡ nào. Mỗi lần uống thuốc là tôi giãy đành đạch đòi chết lên chết xuống, vậy mà giờ tự nhiên lại đòi uống thêm? Có lộn không vậy?

    Tôi rủa bản thân rồi cố lấp liếm, “Thì chỉ để, ờm, phòng ngừa thôi mà. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Sống giữa ổ dịch thì phải chuẩn bị công tác phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể...”

    Andrey lại nhướn mày, nhưng cậu không nói gì thêm. Chắc cậu đã bó tay trước mớ lý lẽ cùi của thằng bạn mình.

    “Vậy mày đi một mình đi! Tao ở nhà.”

    Đậu phộng rang muối!

    “Nhưng...”

    Trời ơi, làm sao tôi thuyết phục Andrey đến gặp Cung vương đây? Andrey vẫn chưa biết chuyện tôi và vương gia quen biết nhau. Tôi chẳng muốn kể cuộc gặp gỡ định mệnh kia chút nào!

    “Tao bận rồi. Nicholas có thể cần tao,” Andrey hất cằm. “Mày nên đi!”

    “Thôi mà, bạn hiền. Đi với tao nha!” Tôi khoác vai cậu. “Đi đi mà! Để tao giới thiệu mày với một người.”

    “Ai?”

    Pax ơi! Động não, động não, động não...

    “Là... bạn mới của tao. Tụi tao hay trao đổi thư từ với nhau. Người này... anh ta có thể giúp đỡ bọn mình trong việc ngăn ngừa và chữa trị căn bệnh sốt xuất huyết cho dân làng Yên Thái.”

    “Anh ta là ai?” Tới đây Andrey liền chú ý. “Bác sĩ à?”

    “Thì đi với tao! Tới nơi mày sẽ biết.”

    ----------​

    Tưởng “tế sinh đường” là cái trạm y tế, ai ngờ nó giống một bệnh viện tư nhân hoặc phòng khám đa khoa hơn. Cũng phải thôi. Căn nhà lớn nằm ngay trên trục đường chính, hướng đi vào trung tâm huyện Quảng Đức. Từ đằng xa, khung cảnh nhốn nháo làm bọn tôi có hơi cảnh giác. Mới sáng sớm mà nơi đó đã đông nghẹt. Hỏi dân chúng trong huyện thì họ nói hôm nay có hai vị thái y xuống kiểm tra và phổ cập kiến thức phòng chống dịch bệnh cho mọi người.

    Andrey không có vẻ gì ngạc nhiên trước tin này, nói rằng đó là trách nhiệm của các cấp chính quyền. Dù là thời đại nào thì ngành y dược nên được chú trọng, để dịch vụ y tế đến được với mọi tầng lớp, đặc biệt là người nghèo. Cậu còn nói, quyền được khám và chữa bệnh là quyền cơ bản của công dân.

    Nghĩ cũng thất vọng. Andrey không biết chuyện tôi phải viết thư cầu cứu Cung vương thì triều đình mới ngó ngàng tới thứ dịch bệnh nguy hiểm này.

    Mà cái anh chàng Cung vương kia cũng liều thật! Liều mạng và ngốc nghếch! Rõ ràng tôi đã thông báo chuyện Nick bị bệnh, hiện trạng chưa rõ thực hư thế nào mà anh ta lại dám đòi gặp bọn tôi. Anh ta còn không biết căn bệnh này lây lan qua đường nào nữa. Lỡ như Andrey suy đoán sai về sốt xuất huyết, hoặc lỡ một trong hai đứa đang mang mầm mống bệnh, rồi tình cờ lây qua cho anh. Thân thể của vương gia như cành vàng lá ngọc. Lúc đó chẳng phải cả cái làng Yên Thái đi đời luôn sao?

    Một ý nghĩ vụt qua. Một ý nghĩ quen thuộc. Thân ảnh của Lê Khắc Xương hiện lên trong đầu, kèm theo tiếng đàn bầu cung trầm cung bổng và một nụ cười thê lương.

    Chẳng lẽ nào...

    Thật là, nếu anh không quan tâm đến bản thân mình, tôi cay cú nghĩ, thì chí ít hãy quan tâm đến tính mạng của bọn tôi. Đừng để bọn tôi vì anh mà bị liên luỵ.

    Tôi mải mê chửi mắng và lo lắng cho vương gia thì bị chút nữa đi lố qua điểm dừng. Đứng trước cái bảng hiệu to tướng (đọc được chữ “đường”: ), tôi nhăn mũi và nhón chân lên, ngó nghiêng vào bên trong. Mùi lá thuốc phơi khô bốc lên nồng nặc, lẩn quẩn trong cái không khí trong lành của chợ sớm.

    “Vậy là mày biết một trong hai người họ?”

    “Không. Là người khác.” Tôi nhíu mày, cẩn trọng đánh giá tình hình trước mắt. “Ở bên trong đông quá! Ừm... thôi, mày cứ chờ ở ngoài đây, để tao đi vào xếp hàng lấy thuốc.”

    “Tụi mình có nhiều tiền mà... Có nhất thiết phải như thế không?” Tôi nghe tiếng Andrey làu bàu, trước khi lẩn vào bên trong đám người đông như kiến cỏ.

    ----------​

    Nhiệm vụ cấp bách hiện tại là phải tìm ra Lê Phong. So với dân chúng Đại Việt, Cung vương có chiều cao khá vượt trội (chỉ thấp hơn tôi một vài phân), đã vậy mái tóc dài quá vai và khuôn mặt thư sinh trắng trẻo làm anh ta rất dễ bị nhận dạng. Những người trong hoàng tộc nhà Lê dù có cải trang vi hành vẫn mang theo khí chất vương giả, rất khó để rũ bỏ. Đặc biệt là Lê Hạo. Dù anh chàng có bịt kín mít như ninja thì tôi vẫn không bao giờ quên được cặp mắt dài sắc lạnh kia.

    “Lê Phong, anh ở đâu?” Tôi nhún gót chân, ngóc đầu quét một vòng căn phòng chờ. “Triệu hồi Lê Phong. Làm ơi hiện hình lên giúp tôi...”

    Lạ nhỉ? Rõ ràng anh ta nói sẽ đi theo hai vị thái y mà?

    Ngóng mỏi cổ mà tôi vẫn không thấy ai có dáng dấp giống anh. Có lẽ Lê Phong đang ở bên căn phòng khám bệnh bên trong? Hay là quầy thuốc? Hay là...

    Một bàn tay đặt lên vai tôi, kéo khỏi hàng và đẩy tôi lên phía trước, trước tiếng kinh ngạc của bà con làng xóm.

    “Xin cho hỏi...”

    “Lê Phong?”

    Tôi quay ngoắt ra sau. Không phải Lê Phong, mà là một cậu thanh niên. Người này chắc trạc tuổi vương gia, hoặc lớn hơn chút xíu. Anh ta đội cái mũ vải đen hình vuông, áo đoàn lĩnh màu xanh lơ đậm có viền cổ trắng và quấn trước ngực miếng vải giống như tạp dề. Hai ống tay áo được xắn lên tới khuỷu tay.

    “Cậu nhầm rồi.” Nét cười hiện rõ trên khoé mắt đang cong lên. “Cho hỏi, có phải quý danh của cậu là Đức Bình?”

    “Đúng vậy.”

    “Sư phụ và ta được lệnh phải chờ gặp cậu ở đây. Ta là Duy Nghiêm, người của Thái y viện.”

    Nghe tới đó, tôi liền thô lố mắt nhìn anh ta. Nếu không phải chút ria mép và ánh mắt già dặn thì tôi còn tưởng anh là một thằng nhóc con, hoặc là một cô gái nào đó. Duy Nghiêm thấp hơn tôi cả cái đầu, da trắng búng ra sữa, đôi mắt long lanh và hàng lông mi cong vút. Giọng nói cũng nhỏ nhẹ và rất êm tai.

    Nhận ra mình hơi thất lễ, tôi đan các ngón tay và cúi người, “Lạy quý ngự y. Thật là vinh hạnh cho Duy... cho Đức Bình này.”

    “Xin đừng quá khách sáo.” Anh ta phẩy tay, chỉ vào bên trong phòng. “Cậu đã đến đây, hẳn đã biết lý do vì sao bọn ta cần sự hỗ trợ từ cậu.”

    “Hỗ trợ ư?” Vừa hỏi, tôi vừa bị kéo đến một cái bàn, trong khi anh ta sải bước đến cái tủ gần đó. Nhìn qua thì giống tủ thuốc với rất nhiều ngăn và hộc, nhưng mở ra mới thấy một mớ tài liệu y thuật và hồ sơ khám bệnh. “Chẳng phải chính tôi mới là người cần đến sự giúp đỡ của quý ngự y?”

    “Bọn ta đã biết về tình hình ở Kẻ Bưởi. A, đây rồi! Cậu xem này, đây là ghi chép của vị cố lương y Đoàn Thành. Mười năm trước, ông ấy đã cùng các ngự y chữa trị một loại dịch bệnh đã phát tán ở các làng ven hồ Dâm Đàm, hệt theo những gì cậu đã miêu tả...”

    “Nhưng mà... khoan đã!”


    Duy Nghiêm hơi ngẩn ra, nghiêng đầu qua một bên.

    “Ý của tôi là,” tôi hít một hơi, “nếu muốn biết chính xác tình hình dịch bệnh hiện tại thì các vị nên tới hẳn làng Yên Thái với bọn tôi. Nếu đã có tài liệu chữa trị từ trước thì càng tốt, nhưng theo tôi, lần này chuyện phòng ngừa là trọng yếu hơn cả.”

    Đương nhiên sốt xuất huyết thì làm gì có thuốc đặc trị, tôi nghĩ. Quan trọng vẫn là diệt trừ muỗi vằn và lăng quăng thôi.

    Duy Nghiêm lật đến trang cuối và đọc lướt qua kết luận của bản báo cáo. Càng đọc, mắt cậu càng trợn to.

    “Cậu nói thế quả không sai. Thế này thì nguy cấp thật. Trước đó, sư phụ ta đã nhắc về khả năng này, chỉ là không ngờ rằng...” Cậu ngước lên nhìn tôi, đôi mắt lần nữa long lanh. “Đa tạ cậu đã nhắc nhở. Ta phải báo cho sư phụ và Thái y viện mới được!”

    Hai người lại bước ra ngoài. Nhìn anh chàng ngự y loay hoay nãy giờ làm tôi chóng hết cả mặt.

    “Duy Nghiêm à, thật ra tôi đến đây là để nhận thuốc thôi. Bạn của tôi đang bị ốm...”

    Anh chàng Nghiêm coi như không nghe thấy tôi (cũng phải thôi, trong tế sinh đường còn ồn hơn cái chợ). Anh ta dẫn tôi đến trước một ông bác, người đang gói thuốc và dặn dò một bà cụ về cách dùng. Quầy thuốc đông nghẹt người. Bên trong quầy, ba, bốn vị y dược sĩ đang tất bật sắc thuốc và phân loại. Có người thì liên tục chạy ra vào giữa phòng bệnh và quầy thuốc, không kịp dừng lại lấy hơi.

    Nói tóm lại thì khi dịch bệnh xảy đến với người dân huyện Quảng Đức, tế sinh đường bị thiếu nhân lực trầm trọng.

    “Nghiêm à? Nãy giờ con đi đâu thế?”

    “Thưa sư phụ, con đã tìm được cậu Đức Bình rồi ạ.”

    “Kính lạy quý ngự y.”

    “Ừm.”

    Sư phụ của Duy Nghiêm hướng ánh mắt qua tôi. Trang phục của Thái y viện của ông đã cũ sờn, thậm chí rách lỗ chỗ. Chòm râu dài đã lấm tấm điểm bạc.

    “Ta đã nghe qua danh của con, Đức Bình.”

    “Đây là đơn thuốc cho bạn của con. Cậu ấy đang bị ốm ạ.”

    Trong khi đợi người khác lấy thuốc, Duy Nghiêm chìa ra mớ giấy tờ và nói nhỏ điều gì đó vào tai sư phụ mình. Ông gật đầu, mắt lại lướt qua tôi, người đang đứng ngớ ra giữa phòng. Phong thái của ông rất giống với vị lương y Lưu Công Định, có điều tôi thấy ông có vẻ nghiêm khắc hơn. Tôi có thể tưởng tượng ra ông là phiên bản của bác sĩ Andrey lúc về già.

    Nhận lại tờ giấy và bọc thuốc từ chính tay ông, vị ngự y mỉm cười. “Đơn thuốc này, nét chữ trông rất quen mắt.”

    “Vâng ạ. Đơn thuốc là do chính vị lương y họ Lưu, tên Công Định đã viết...”

    “Ngài Thái y viện đại sứ ư?” Duy Nghiêm thốt lên.

    Vị sư phụ kia không nói gì mà ra hiệu cho tôi tiếp tục.

    “Ngài ấy có nhắn với hai người, rằng ôn dịch này, cốt nằm ở huyết.”

    Nghe tôi nói xong, ông ta liền bật cười khẽ, lắc lắc đầu. “Không hổ danh là Lưu Công Định, luôn đi trước một bước. Minh Đán ta ngàn vạn lần bội phục ngài ấy.” Ông hướng về phía tôi, khẽ cúi đầu. “Đức Bình, lần này bọn ta phiền con và bạn hữu ngoài kia rồi.”

    Nhắc đến Andrey làm tôi giật thót mình. Nãy giờ bỏ quên thằng bạn đang sốt ruột đứng chờ bên ngoài. Tôi vội vã cáo biệt hai người rồi ôm bọc thuốc chạy vù ra cửa.

    “Andrey, tao...”

    Andrey đã biến đâu mất tăm.

    “Andrey?”

    Andrey đâu rồi? Mới chừng mười lăm phút mà thằng nhỏ chạy loạn đi đâu?

    Nhón chân, mắt tôi quét ba trăm sáu mươi độ, dò tìm cái đầu vàng hoe. Rồi sụm người khi nhớ thằng này đội nón.

    “Andrey!?”

    “Pax,” tiếng Andrey vang lên sau lưng. Cậu đang cầm chén chè, miệng nhai chóp chép. “Xong rồi hả? Ăn chè trôi nước không? Gần đây có gánh chè ngon lắm.”

    “Tất nhiên.” Thở phào, tôi nhét gói thuốc vô túi rồi đi theo Andrey. Gì chứ đồ ăn ngon là tôi không thể bỏ lỡ.

    Gánh chè bấy giờ đã khá đông khách, nhưng may sao Andrey đã giữ một chỗ trống cho bọn tôi. Ai nấy đều im phăng phắc, như đang chờ đợi thứ gì đó.

    “Ờm, anh gì ơi, bán cho em một bát với.”

    Ngồi chồm hổm giữa đôi gióng, anh chàng vẫn lặng lẽ múc từng viên chè ra chén, có vẻ không quan tâm đến không khí kì dị xung quanh mình. Cho đến khi một giọng hát cất lên.

    “Ơi, người ơi, ấy a, có ai nào thấu chăng
    Oan trái này, i í a, đến bao giờ mới tỏ?
    Ở nơi xa, í a, xa tít nghìn trùng, mà i ì i
    Điệp trùng dặm khổ, í i a, anh hùng trung kiên, i i i i í i
    Thương, mà thương i tấm thân tàn, í i i, mang theo hương sắc
    Huyết lệ đắm, i í i, trong tấm lòng, i ì, sắt i son...”

    Giọng hát trong vắt, ngọt hơn cả mía lùi, và rõ ràng là giọng của anh bán chè. Đưa cho tôi chén chè, anh chàng ung dung cởi nón ra quạt mát. Khuôn mặt đen sạm lấm lem bụi đất. Mái tóc dài được búi củ hành. Anh ngước nhìn lên và mỉm cười với tôi. Còn tôi thì cười không nổi.

    Vì anh chàng chính là Lê Phong!

    “Pax!” Andrey chụp lấy vai để tôi khỏi ngã nhào ra sau.

    “Ai ơi, í a, bầu rượu này, kính dâng người đã khuất, i i i i í ì i
    Chuyện cũ tình thâm, i í i, thôi ta đoạn từ đây
    Men say giấc nồng, í i ì i, đêm nay ta mộng gác
    Cho người, i ì i, hỡi, í a, hỡi người ở phía xa kia?”

    “Anh...” tôi lắp bắp, “anh...”

    “Cậu còn đứng đấy làm gì?” Anh ta nhướn chiếc lông mày, trong giọng nói bình thản có chút giễu cợt. “Mau ngồi xuống đi!”

    “Vâng ạ.”

    Đúng là đời không ai biết được chữ ngờ. Ai lại dám ngờ một vương gia cao quý như anh lại có sở thích đi bán gánh chè hát rong?

    “Phong! Tại sao anh lại...”

    “Bánh trôi nước có ngon không?”

    Tôi cắn một miếng, gật đầu. “Dạ, ngon ạ.”

    “Là ta tự làm chúng đấy.”

    Lê Phong ngâm nga thêm một lát. Một đoạn tấu bằng nhạc cụ nào chăng? Anh lại liếc nhìn tôi, cười đầy ẩn ý. Trong giây lát, phong thái đĩnh đạc của một vị vương gia đã trở lại. Anh giơ một ngón tay lên.

    “Ta bảo, vị thiếu niên đây,
    Chớ quên nhiệm vụ, chuyến này gian nan.”

    Tôi hơi ngớ người ra, tự hỏi hai câu đó có phải cho mình.

    “Lời của anh, Duy...” tôi khựng lại, chợt nhớ đây là chốn đông người, “em nhớ chứ ạ.”

    “Pax, mày biết anh ta à?”

    “Ừ.” Tôi cúi gằm đầu, chăm chăm vào viên chè trôi nước lềnh bềnh. “Anh ấy là bạn trao đổi thư từ với tao.”

    “Vậy thì tốt quá!” Andrey cười toe. “Anh ta là thầy thuốc luôn à? Bọn tao vừa có một cuộc thảo luận thú vị về dịch bệnh ở làng Yên Thái, và anh ta đãi tao ăn hai chén chè.”

    Đúng là tên Andrey ki bo, hễ thấy đồ miễn phí là hai mắt sáng rỡ, rồi bất chấp khai tuốt tuồn tuột cho người ngoài.

    Andrey híp mắt, “Rất hân hạnh được gặp anh, Lê Phong. Tôi tên là Andrey, họ là Zakharov, nhưng xin hãy gọi tôi là Anh Giản.”

    Lê Phong giữ nguyên nụ cười đáp lễ. Hy vọng anh đoán ra được Andrey không hề biết thân phận của mình. Andrey chưa bao giờ tiếp xúc với người trong hoàng thất, nên tôi không dám chắc chuyện cậu sẽ vô tình khi quân phạm thượng.

    “Anh Giản,” Lê Phong chắp tay, “lần này xin được đa tạ cậu. Những thông tin này thật là hữu ích.”

    “Không có gì đâu. Cứu người... là trên cả chữ nhất. Lương y, phải như từ mẫu.”

    Chà, tiếng Việt của Andrey ngày càng tiến bộ rõ rệt.

    Dường như đã hài lòng với kết quả cuộc trò chuyện, Lê Phong chờ mọi người ăn xong thì thu dọn hàng, gánh đòn lên vai.

    “Tiếp theo anh sẽ làm gì?”

    “Ta đã lệnh cho y phó Lê Minh Đán và biện nghiệm Vũ Duy Nghiêm đến theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh.” Lê Phong nói nhỏ vào tai tôi. “Công việc của các ngươi là hỗ trợ họ nếu cần thiết. Ta sẽ đi khám xét thêm khu vực ngoại đô phía Tây và yêu cầu phái thêm người từ Thái y viện đến chữa trị cho dân làng.”

    “Anh Giản vẫn chưa...”

    “Ta biết. Không sao cả.” Anh bỗng nghiêm giọng, “Các ngươi hãy nhớ giữ gìn thân thể thật tốt. Chớ có chủ quan.”

    “Xin cảm tạ.” Tôi siết vai anh, “Anh cũng vậy.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/4/20
  6. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 54
    THẾ LỰC


    Theo lệnh của vương gia, bọn tôi sẽ phải đi theo hai vị ngự y và giúp đỡ họ khi cần (chỉ là không biết giúp kiểu gì). Tôi đã hỏi ý của ngự y Lê Minh Đán thì biết họ sẽ đến làng vào buổi chiều hôm nay.

    Andrey sau buổi nói chuyện ngắn ngủi với Lê Phong thì cứ như người mất hồn. Cậu lầm lũi bước đi, hai tay bỏ vào túi quần, mặc kệ cho tôi kể về cuộc gặp gỡ với hai ngự y trong tế sinh đường. Mãi khi gần về tới làng, Andrey mới chịu lên tiếng.


    Mời đọc tiếp Chương 54
    “Ê, Pax. Tao đã nghĩ kĩ rồi. Anh chàng Lê Phong kia có điểm khả nghi.”

    Tôi giật thót, “Khả nghi?”

    “Khi tao nói chuyện với anh ta, có một thứ cảm giác... Tao... tao không biết phải giải thích thế nào!” Andrey xộc tay vào mái tóc, kêu lên một tiếng bất mãn. “Khả nghi theo kiểu, ờm... ta-đã-biết-quá-nhiều, ta-đã-lường-trước-điều này, và kiểu, ta-nên-bắt-đầu-từ-các-ngươi.”

    Andrey vừa tổng kết ba đặc điểm nổi bật nhất của Cung vương. Cũng may cậu chưa nhắc gì đến hai từ “hoàng tộc” và “quý tộc”.

    “Mày...” tôi khịt mũi, “suy nghĩ nhiều rồi.”

    “Có lẽ thế. Nhưng anh ta bán chè mà trông oách xà lách. Biết võ, biết hát, nhà cũng khá giả. Chắc là bán chè vì đam mê thôi.”

    “Sao mày lại nói thế?”

    “Cách anh ta gánh hàng. Tướng đi, tướng đứng đó là của một người có võ. Anh ta giấu con dao nạm ngọc trong thắt lưng.”

    Tôi lại đổ mồ hôi lạnh. Vậy là anh chàng Cung vương cải trang chưa được chuyên nghiệp lắm. Tôi có thể nhận mặt anh, và Andrey có thể dễ dàng đoán ra phần nào thân thế của anh. Một ngày nào đó anh nên học một lớp hoá trang từ Nick.

    “Tao không biết.” Bên trong mắng anh chàng Lê Phong hớ hênh thì bên ngoài tôi phải giả ngu, “Với lại, từ mấy chi tiết đó thì mày chưa thể kết luận được gì đâu.”

    “Nói chung là anh ta rất thú vị. Nhưng mày phải thật cẩn thận. Người thân thế bí ẩn như Lê Phong, nếu chúng ta... nếu mày biết dùng mối quan hệ này trong tương lai... tao chỉ mong...” Tới đây Andrey khẽ lắc đầu, “Tao chỉ mong là anh ta có thể giúp đỡ tụi mình trong việc phá vụ án Lệ Chi Viên.”

    Tôi nhún vai, không muốn trả lời. Đó chính là lý do tôi muốn giấu tiệt thân phận vương gia của Lê Phong với Andrey. Nếu Andrey biết Lê Phong là anh trai vua, tôi sợ cậu ta sẽ tìm mọi cách lợi dụng anh để đạt mục đích riêng.

    Với tư cách là bạn của Lê Phong, tôi tuyệt đối không cho phép điều đó xảy ra.

    Mới gặp nhau có ba lần, trao đổi vài bức thư, thế mà tôi có cảm giác gần gũi với vị vương gia này. Tôi cảm nhận được sự chân thành của anh, thái độ khiêm nhường, sự tinh tế và có chút gì đó nổi loạn. Anh biết nhận sai lầm và sẵn sàng tạ lỗi trước dân chúng. Anh không ngại khổ mà vi hành vào vùng có dịch. Anh dành thời gian lo lắng cho những kẻ có lai lịch bất minh như bọn tôi.

    Nhiêu đó đã đủ làm tôi cảm kích lắm rồi!

    “Ủa, mà mày và anh Phong đã nói những gì?”

    “Thì anh ta muốn biết thêm thông tin về dịch bệnh. Khi biết tụi mình ở làng giấy, anh ta liền hỏi tao về tình hình, triệu chứng và cách mọi người phòng chống bệnh. Tao chỉ trả lời được hai cái đầu tiên. Anh ta nói chính mình cũng nghe qua chuyện này, và rất mong được biết rõ thêm sự việc. Tao cũng hỏi ngược lại, rằng tại sao muốn biết thì anh ta nói muốn giúp đỡ dân làng. Trông anh ta có nét thành thật, lại có ý tốt nên tao xì ra luôn.”

    “Mày đã nói gì?”

    “Thì các giả thuyết của tao, và phát hiện ba hôm trước.” Tôi chưa kịp lên tiếng về mấy điều lệ vượt thời gian thì Andrey nói luôn. “Yên tâm đi! Tao nghĩ kỹ rồi. Đối với người xưa thì căn bệnh sốt xuất huyết còn hoang đường hơn truyền thuyết nữa. Làm gì có một loại sinh vật nhỏ như vi rút lây truyền qua đường máu từ những con muỗi vằn Aedes aegypti? Rồi ai lại đi tin lời nói vô căn cứ của một thương nhân nước ngoài có thân thế đáng ngờ như tao?”

    “Nhưng mà...”

    Andrey cười hăng hắc. “Tao ba hoa nói nhảm cả buổi mà anh ta lại nghiêm túc lắng nghe, như thể tin tao sái cổ luôn mới ghê! Chắc là đầu óc anh ta cũng...” Andrey xoay ngón tay bên thái dương.

    Giả khùng giả điên không có tác dụng gì đâu, bởi khả năng là anh ta biết mày hoàn toàn tỉnh táo. Tôi nghĩ, cảm thấy chuyện này bi hài hết sức. Giống như anh ta đã biết chuyện Nick sử dụng “ma thuật”, hay chuyện tao là “con trai” của Nguyễn Trãi. Xin lỗi nha, nhưng mày không qua mặt được vương gia đâu.

    Tôi nhún vai, tỏ vẻ thờ ơ. Andrey muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi sẽ không khẳng định hay phủ nhận lời của cậu. Thằng bạn thông minh và nhạy bén thế, sớm muộn gì cũng sẽ nhận ra ý đồ của buổi gặp mặt “tình cờ” kia. Chuyện của Cung vương, sau này tôi sẽ phải cẩn thận hơn nữa. Còn bây giờ, tốt nhất là không nên nói gì thêm.

    Đến khi Andrey rẽ vào lối đi ngược với hướng về nhà, tôi lập tức nhận ra điểm khác thường. Đó là lối đến bờ sông Tô, nơi mọi người tập trung ngâm mình đãi dó.

    “Mày đi đâu vậy?”

    “Kiểm tra.” Andrey đi một mạch đến chỗ có các lò đun bằng gạch. Bước chân dài, lưng thẳng tắp, khuôn mặt dần đanh lại. Cậu tiến tới thân hình gầy nhom đang loay hoay bỏ củi vào ngọn lửa nóng hừng hực. Mùi nước vôi bốc lên sặc sụa, làm tôi phải lấy tay áo bịt mũi và miệng.

    “Cao... khụ! Cao Hùng!”

    “A! Anh Giản! Duy An! Các anh đến đây làm gì thế?”

    “Còn cậu làm cái quái gì ở đây thế?” Andrey gắt ầm lên, không quan tâm bọn tôi đang có khán giả.

    “Ơ?”

    Andrey lướt qua các khuôn mặt đang tò mò ngước nhìn ba đứa tôi, khoác vai kéo Cao Hùng ra khỏi căn chòi. Đến một khoảng cách vừa đủ, cậu liền đặt tay lên trán thằng bé.

    “Hai ngày trước cậu đã không được khoẻ, vậy mà còn cố làm việc?” Andrey tuy nhỏ giọng vẫn rất nghiêm khắc. Cậu hết sờ trán rồi qua hai má, vành tai, cổ, và bàn tay, mặc cho Cao Hùng cựa quậy né tránh.

    “Cao Hùng.” Đến lượt tôi nói. “Andrey nói đúng đấy. Anh thấy dạo này cậu có vẻ uể oải hơn bình thường. Cậu... có thật là không sao chứ?”

    “Tôi không sao cả. Không có việc gì đâu. Các anh lo hão rồi.” Andrey vẫn tiếp tục im lặng gây sức ép, chắc để làm Cao Hùng chột dạ.

    Tôi nhướn mày, “Hửm?”

    “Thật ra, tôi có mệt đôi chút, là do thức thâu đêm hai ngày nay thôi.”

    “Không tin.” Andrey khoanh tay. “Trán của cậu đang rất nóng...”

    “Là do tôi làm gần lo đun thôi!”

    Không cần Andrey, tôi nói luôn, “Tay chân cậu run như đang phát lạnh...”

    “Là... là do tôi vác bó củi đằng kia, rất nặng đấy!”

    “Mồ hôi vã ra như tắm...”

    “Tôi nói rồi, ở đây rất nóng...”

    “A, mắt đỏ nữa nè...”

    “Chuyện này...”

    Càng giải thích, giọng Cao Hùng càng xìu xuống, cả thân hình như co rúm lại. Tấm lưng vốn đã khòm nay cong vòng như con tôm luộc. Trông thằng bé tội nghiệp quá, đã vậy Andrey bên cạnh ngày càng quạu quọ chẳng giúp ích được gì. Cậu ta đang bật chế độ “bác sĩ” nên khó ở hẳn ra. Mặc kệ cho bệnh nhân phân bua, Andrey nhất định không chịu khoan nhượng.

    Ba đứa tôi đang nghỉ ngơi trên cái ghế gỗ dài. Tôi đưa chai nước và khăn lau mồ hôi cho Cao Hùng. Dưới bóng râm, tôi có dịp nhìn rõ cậu chàng, người đang thuỗn ra như mất hồn. Thần sắc Cao Hùng nhợt nhạt, làn da khi rời xa làn nhiệt thì có dấu hiệu tím tái. Ngay cả hành động lau mặt cũng chậm chạp, máy móc, thiếu đi sự tươi tỉnh và năng nổ mọi ngày.

    Tôi biết một hình ảnh Cao Hùng khoẻ mạnh. Đây chắc chắn không phải là Cao Hùng khoẻ mạnh.

    “Thôi nào. Nếu có chuyện gì thì phải nói cho cha mẹ em biết chứ? Sao cứ phải tự hành hạ bản thân như thế, hử?”

    Cao Hùng lí nhí, “Em... không dám...”

    “Được rồi. Không sao cả.” Từ đằng sau, Andrey nháy mắt với tôi tiếp tục. “Nói cho tụi anh nghe! Từ khi nào em cảm thấy cơ thể không được bình thường?”

    “Là vào sáng hôm qua ạ.”

    “Thế không ai biết chuyện này ư?”

    “Vâng ạ.”

    “Thế tại sao em vẫn đến đây làm việc?”

    Cao Hùng im lặng, đầu cúi thật thấp. Tôi kiên nhẫn chờ.

    Và đợi.

    Và vẫn đang chờ đợi.

    Một bàn tay dè dặt vươn tới, nhẹ đặt lên bả vai cậu bé. Cao Hùng run lên bần bật.

    “Này, sao thế...”

    Tiếng hỏi han bị mắc kẹt trong cổ họng khi chứng kiến khuôn mặt giàn giụa nước mắt của Cao Hùng. Theo bản năng, tôi liền kéo thằng nhóc vào lòng.

    “Các anh biết không, chứ mấy hôm nay em mệt lắm... hức... nhưng không dám ở nhà, vì ở nhà... là thầy mợ sẽ biết, sẽ lo lắng. Mợ mà biết, thì sẽ... sẽ, hức, không cho em đến đám của thằng cu Kiến. Mợ sẽ cấm em ra khỏi nhà...”

    Andrey chen vào, “Nhưng mà em cũng biết rồi, anh đã bảo bệnh này...”

    Từ đằng sau, tôi trừng mắt nhìn Andrey, cái tên có chỉ số trí tuệ xúc cảm thấp lè tè, và nhép miệng: Im đi!

    Andrey liền ngậm miệng, đầu quay đi chỗ khác.

    “Em... em biết chứ. Anh đã nói, bệnh truyền nhiễm này có đường lây không qua tiếp xúc gần gũi. Em cũng biết rằng thế này thì nên ở nhà,” Cao Hùng vẫn bấu chặt lấy gấu áo tôi, lẩm bẩm thú nhận, “nhưng ở đấy chẳng có gì để làm.”

    “À!”

    Hiểu rồi! Tôi đã hiểu ra vấn đề!

    “Cao Hùng à, em và cậu bé Kiến chắc thân nhau lắm nhỉ?”

    Cao Hùng gật đầu. Trước khi cậu chàng dùng vai áo tôi lau nước mắt và nước mũi, Andrey đã lặng lẽ đưa cái khăn sạch cho cậu.

    “Vậy thì nghĩ xem, nếu thằng bé thấy em mang tấm thân tàn tạ như thế này, chắc hẳn là sẽ rất lo lắng và đau buồn. Bọn anh hiểu rõ, cảm giác mất đi người thân yêu là thứ cảm giác tồi tệ nhất trên đời. Nhưng nếu để bản thân sa vào vũng bùn lầy của sự đau khổ, hay cứ chấp niệm sẽ dẫn đến sự thiếu tỉnh táo trong hành động, làm ảnh hưởng đến mọi người xung quanh.” Đến đây, tôi chấp hai tay và đặt lên ngực. “Em nghĩ xem, thà đối diện với sự tổn thương, thì chúng ta mới có thể gượng dậy và bước tiếp. Hiện tại, việc quan trọng nhất là lấy lại sức khoẻ cho bản thân và giúp đỡ dân làng chiến đấu với dịch bệnh này. Nghĩ đến mọi người ở đây, về cha mẹ em, về thằng cu Kiến. Bởi thế nên, hãy nghe anh, về nhà nghỉ ngơi đi!”

    Không khí tĩnh lặng bao trùm căn chòi. Tôi rùng mình, phát hiện da gà da vịt đang nổi lên từng mảng, tóc gáy như muốn dựng đứng. Tim đập liên hồi, tôi có dự cảm về nỗi sợ vô cớ đang lớn dần lên. Tuy nhiên, trước Cao Hùng đang tâm thần bấn loạn, tôi đành kìm nén và đẩy nó xuống đáy vực sâu.

    Sâu thăm thẳm.

    “Anh nói đúng lắm!” Cao Hùng nhoẻn miệng cười méo xẹo. “Thầy em luôn nhắc nhở, đạo quân tử phải ‘Tu kỷ dĩ an bách tính’[1].”

    A, tôi nhận ra câu này nè!

    “Ha ha, an bách tính gì chứ? To lớn quá! Ở đây, ‘Tu kỷ dĩ an thôn làng’ là đủ.”

    “Mau về đi!” Andrey sốt ruột đứng dậy, nhét gói đồ ăn bằng lá chuối vào tay thằng nhóc. “Ngày mai anh sẽ đến thăm.”

    “Có chuyện gì thì cứ nói với anh nè.” Ý tôi là, đừng có nói với Andrey, nó không biết an ủi em đâu. “Đừng giữ trong lòng, lâu ngày sẽ sinh tâm bệnh đó. À, và chiều nay có người từ thái y viện đến làng. Nếu có triệu chứng gì khác thường thì phải cấp báo cho họ đến khám, được chứ? Em tuyệt không được chủ quan đâu.”

    “Vâng ạ.”

    Nhìn bóng hình gầy gò đang lủi thủi trong cái nắng ban trưa, tấm lưng còng gánh nước, nón lá rách đội lệch, tôi thở hắt ra, và cuối cùng cũng để cơn kinh hãi lúc nãy trồi lên từ dưới sườn vực và đẩy mình xuống theo.

    ----------​

    Nick đang khoanh chân ngồi trên phản, mắt nhắm tịt, lưng tựa vào tường. Cái đầu cậu nghẹo qua bên phải. Áo trung đơn không cài nút bị lệch xuống vai. Lúc đầu tôi tưởng cậu đang ngủ gật, thế mà lại gần thì nghe cậu lẩm bẩm gì đó. Lạ lùng thật!

    “Nick, tụi tao về rồi!”

    Nick mấp máy môi thêm vài giây, sau đó chậm rãi mở mắt. Cùng lúc khoé môi nhếch lên.

    “Mày ổn chứ?”

    Tôi gật đầu, nở nụ cười yếu ớt. Không hiểu sao dạo này những cơn hoảng loạn cứ như những người bạn thân luôn vô cớ gõ cửa ghé thăm tiềm thức của tôi, làm tôi không thể nào tập trung hoàn toàn vào công việc. Nick đương nhiên nhận ra điều bất thường này.

    “Đi vui không? Nghe nói mày và Andrey tới gặp anh ấy.”

    “Ừ,” tôi tay đặt lên trán cậu, “mày cảm thấy thế nào rồi?”

    Trán cậu vẫn nóng. Nhưng so với hôm qua thì có hạ nhiệt chút xíu. Người cậu có đổ mồ hôi. Đó là dấu hiệu tốt.

    “Tao ổn rồi. Không sao cả. Chắc mai mốt sẽ hết bệnh thôi. Chỉ là cảm cúm thông thường thôi mà tụi mày cứ làm quá.”

    Andrey lững thững bước vào phòng, vừa nghe câu nói đó thì nhíu mày, môi trề ra cả thước. Cậu đẩy chén thuốc vào tay Nick như muốn dằn mặt.

    “Làm sao tụi tao biết được điều đó? Thà chẩn đoán thừa còn hơn là bỏ sót các loại bệnh lý nguy hiểm. Mà dù là cảm cúm thì vẫn có nguy cơ tử vong, đừng có coi thường. Ông thầy thuốc nói mày bị cảm mạo, mà theo tao nghĩ thì là cúm, nhưng triệu chứng phát ra có nhiều điểm chung với sốt xuất huyết. Đã vậy mày còn cố tình ra ngoài, làm tình hình trở nặng, sốt cao đến mê sảng. Làm tụi tao lo lắng như thế mà còn dám ý kiến ý cò?”

    Chắc là Andrey vẫn còn cay vụ bị Nick chửi tối hôm qua. Tên thù dai đó không bỏ lỡ bao giờ cơ hội lên mặt dạy đời anh bạn thân.

    “Mày coi lại mày đi,” Nick bĩu môi, “có hơn gì tao chứ?”

    “Hử? Tao có hơn mày thật mà?”

    Trời ơi, tôi ôm mặt, sao lại có người mặt dày đến như thế?

    “Mày không biết lượng sức mình. Nhờ vụ nửa đêm đi coi xác bệnh nhân mà mày đến giờ vẫn bị dính líu đến ‘thế lực’ kia.”

    Andrey không trả lời mà chỉ hướng mắt về phía tôi, lông mày nhấp nhô, rồi hất cằm về phía Nick. Như thể muốn ám chỉ, Mày thấy chưa, Nick mất trí rồi kìa.

    “Thế lực gì thế?” tôi hỏi, ngó nghiêng xung quanh.

    “Tao nghĩ là mày biết rồi chứ?” Trước sự kinh ngạc của tôi, Nick dốc sạch chén thuốc và đứng bật dậy, tay kéo lại vạt áo cho chỉnh tề. Cậu thong thả bước qua hai đứa tôi, đi ra ngoài phòng khách và rót đầy chén nước trà, vừa thổi vừa nheo mắt ra sân trước đầy nắng. Nick gườm gườm chậu mai trắng, rồi gốc cây mận già trước cổng, rồi hồ sen. Gườm đã đời, cậu lại quay về phía bàn thờ Phật trong nhà, hơi nghiêng đầu, mắt mở to. Tôi có cảm giác như cậu muốn đặt nhiều câu hỏi mà không ai có thể trả lời.

    Andrey nói đúng. Đối với Nick Kanelos, ranh giới giữa tỉnh táo và mất trí mong manh hơn tôi tưởng.

    “Ý mày ‘thế lực’ ở đây là, Andrey sẽ bị dính líu tới mấy vị ngự y trong triều?”

    “Không.”

    “Chứ là cái gì?”

    Tên Nick cứ úp úp mở mở, thấy phát mệt! Bọn tôi không có thời gian chơi đoán mò với cậu ta đâu!

    “Chẳng phải...” Cậu bước gần đến tôi. Từng bước. Từng bước một. Cánh tay bất ngờ phóng ra, chụp lấy vai tôi. Màu mắt xanh lục của Nick đôi lúc cũng thật ám ảnh. Thảo nào nó đã làm bọn người đánh bạc kia e sợ, quy cho cậu là pháp sư, phù thuỷ. Ánh nhìn mãnh liệt pha lẫn chút điên dại, “Tối hôm qua...”

    “A! Tao biết rồi!” Andrey reo lên, tháo kiếm ra từ đai da. Thân kiếm còn nằm trong vỏ. Cậu quẳng cho Nick cây gậy tre. “Thế lực này là một nguồn năng lượng tạo ra từ mọi vật thể sống.”[2]

    “Hả?”

    “Mày phải cảm nhận ‘thế lực’ này xung quanh mày; ở đây, giữa tao, mày, cái cây, hòn đá, mọi nơi, đúng thế.”[3]

    Tới lượt Nick ngẩn ra, cúi xuống nhìn cây gậy tre trong tay. Andrey loan kiếm trong tay rồi vung lên, hướng về Nick mà chém. Tá hoả, tôi chưa kịp xông ra đỡ thì Nick đã giơ gậy lên.

    Cạch!

    “Hãy nhớ, thần lực sẽ theo mày, luôn luôn.”[4] Andrey cười tinh quái, vừa giao đấu với Nick vừa ngâm bản nhạc “Hành quân của Đế Quốc”. Từ đằng sau, tôi đỡ trán, không biết là nên khóc hay nên cười.

    “Ôi thần linh ơi!”

    “Andrey! Dừng! Dừng lại mau!” Nick hét trong vô vọng. “Tao đang,” hụp, “nghiêm túc đó,” né, “thằng cà chớn,” lách người và bỏ chạy ra sân. Andrey lại tiếp tục vung kiếm lên.

    Chà, trong thời gian ngắn mà võ thuật của Nick cũng tiến bộ quá! Andrey ra đòn rất nhanh, rất hiểm hóc, thế mà cậu cũng tránh được hết. Nhưng Nick vẫn chưa thể phản công.

    “Nick, thôi nào! Thần lực sẽ luôn dõi theo mày!”[5]

    “Theo mày thì có, thằng khỉ gió!”

    Cạch! Bụp!

    “Hai đứa chúng bây là cái gì thế?”

    Lạch cạch!

    Andrey vừa nghe tiếng bác Cả thì lập tức thả rơi thanh bảo kiếm, làm tôi hốt hoảng nhào ra và lụm nó lên, xuýt xoa không ngớt. Đúng là của người khác ta không thèm tiếc. Quá đáng thật!

    Thừa dịp thằng bạn đang lúng túng, Nick đã áp dụng một chiêu thức đơn giản, lắc cổ tay và đẩy lưỡi “kiếm” vào yết hầu đối phương. Andrey giơ hai tay đầu hàng.

    “Tao thắng.”

    “Mày bị bệnh nên tao nhường thôi.”

    Nghe tiếng chân bác Cả ngay sát đằng sau, kèm theo tiếng cười hích hích của Tạc Tổ, tôi liền oang oang, “Bác Cả ơi, Rây dám thách đấu với Lát mà không cho bạn ấy nghỉ ngơi.” Tay ôm khư khư thanh kiếm như ôm em bé, tôi giơ ngón giữa với Andrey và xoay gót vào nhà.

    “Ối giời ơi, cái thằng nhóc này!”

    Đúng như dự đoán, Andrey bị bác véo muốn sứt tai. Cho đáng đời, cái tội ghẹo nhây!

    ----------​

    Cộc! Cộc! Cộc!

    Bác Cả nhanh chân đi ra mở cửa.

    “Duy An, Rây. Mau mau ra ngoài! Có người đến tìm các cháu đây này.”

    Ngồi trên ghế dài, Andrey đang cùng Tạc Tổ bận bịu dịch và nghiên cứu tài liệu y học thì ngẩng đầu lên. Ngồi một bên, tôi đang cố gắng giải mã lối viết chữ Nôm uốn éo như một lũ giun bò, cái mà Tạc Tổ gọi là ghi chép của người chủ cũ. Theo cậu thì người này cũng có hiểu biết về y thuật, và những lời giải thích của họ rất hữu ích cho phương thuốc nào không rõ ràng, bị bỏ trống hay gây tranh cãi. Xem ra Andrey mua sách cũ thế mà lại hay.

    Chưa kịp làm gì thì hai vị khách đã bước vào gian chính. Cả ba đứa tôi liền đứng dậy hành lễ.

    “Kính lạy quý ngự y,” tôi và Tạc Tổ đan tay chào. Cậu bạn đã được tôi thông báo cặn kẽ về chuyến đi hồi sáng và kế hoạch của Cung vương.

    “Thật hân hạnh cho chúng tôi,” Andrey hơi ngớ ra, rồi nhanh nhảu nhảy khỏi ghế và làm y chang bọn tôi.

    “Lễ này của các con, Minh Đán ta xin nhận.” Y phó Lê Minh Đán mỉm cười đáp lễ. “Hôm nay, ta được lệnh của điện hạ, nên sẽ cần đến sự hỗ trợ của các con. Duy Nghiêm đây sẽ cùng ta thị sát tình hình dịch bệnh của làng này và làng bên.”

    Biện nghiệm Duy Nghiêm ở bên cạnh gật gù phụ hoạ. Vị ngự y có thân hình như thiếu niên mười ba, mười bốn tuổi còn chưa kịp định thần trước chiều cao khủng của Andrey. Thằng bạn Nga vốn đã cao nhòng, nay về thời xưa biến thành người khổng lồ bất đắc dĩ.

    “Ờm, cho tôi xin hỏi. Ở đây ai là Anh Giản ạ?”

    Ánh mắt đậu trên dáng người đang ngủ ngon lành trên phản. Nick than phiền với tôi rằng thuốc của lương y Công Định làm cậu buồn ngủ.

    Andrey giơ tay, “Tôi là Andrey, họ Zakharov, tự là Anh Giản.”

    “Điện hạ đã đích thân ra lệnh cho cậu, phải thông báo tình hình dịch bệnh hiện tại và chia sẻ những gì cậu biết được về nó. Cảm phiền cậu đi theo chúng tôi.”

    “Được.”

    Cứ thế Andrey lặng lẽ vào phòng sửa soạn, lấy túi, nón và áo khoác và giày. Tôi tranh thủ hỏi chuyện anh chàng biện nghiệm, biết được Cung vương đã tự xin phép em trai Tư Thành được cùng thái y viện phụ trách công việc kiểm soát dịch bệnh. Anh ta đã đích thân triệu tập cuộc họp với các ngự y giỏi nhất, và trình ra bức thư của tôi. Chính anh cũng ra lệnh hai người họ đi tìm và tham khảo Andrey, vì dù gì người trong cuộc luôn nắm rõ tin tức nhất.

    Nhưng còn tôi thì sao? Tôi cũng muốn giúp mà! Cung vương ra lệnh cho “bọn tôi” chứ có phải một mình Andrey đâu?

    “Khoan đã, Andrey,” tôi chụp vai cậu, “để tao đi với mày.”

    “Không.”

    “Nếu mày cần phiên dịch...”

    “Không cần. Mày ở nhà nghỉ đi!”

    “Nhưng...”

    “Tao nghiêm túc đó!” Thấy tôi có vẻ bồn chồn và sốt sắng, Andrey bá vai tôi và nói nhỏ vào tai, “Đừng lo. Một mình tao có thể đối phó với bọn họ. Chỉ là một chuyến đi thôi mà!”

    “Ờ, nếu mày đã nói vậy. Có chuyện gì phải lập tức nói với tao, nghe chưa?”

    Thế là, một lần nữa, tôi lại bị người anh em thân thiết cho ra rìa. Dạo này tôi cảm thấy mình vô dụng quá, đi đâu cũng thành kẻ thừa thãi! Bực mình hết sức! Không hiểu sao tôi có linh cảm không lành với Andrey, bởi lời cảnh báo của Nick vẫn còn văng vẳng bên tai. Nick thường hay đùa cợt và giở trò bốc phét, nhưng một khi cậu đã nghiêm túc thì tên cứng đầu cứng cổ như Andrey cũng ít nhất nên lắng nghe.

    ----------​

    Trời đã về chiều. Buổi chiều oi ả và vắng vẻ.

    Quạu quọ mãi cũng chán. Bị chết dí ở nhà cũng chán. Không có Andrey, Tạc Tổ và tôi không hề có động lực dịch sách nữa, càng không muốn học chữ Hán hay học võ. Sự chán nản phủ lên đầu hai thằng nhóc, mà nếu ở hiện đại tôi đã móc điện thoại ra chơi game từ đời nào rồi.

    Ngáp ngắn ngáp dài, tôi định bụng đi vào bếp kiếm đồ ăn thì nghe Nick tỉnh dậy.

    “Ê! Ê! Pax! Tao đói.”

    Nick nói đúng tiếng lòng của tôi ghê.

    “Đói hả? Vừa lúc tao định vào bếp. Vậy mày muốn ăn gì?”

    “Bánh mì kẹp thịt. Có patê thì càng tốt.”

    Tôi thở phì ra, lắc đầu. Cậu ta lại quên mình ở thời đại nào rồi. Mà nhắc làm chi, khiến giờ tôi lại bắt đầu thèm. Nhớ hồi ở trung tâm Sài Gòn, Nick và tôi ngày nào cũng đòi ăn một là bánh mì, hai là bánh cuốn, ba là cơm tấm. Đặc biệt bánh mì ngoài khu Bến Thành, quận nhất là ngon hết sẩy. Mới nhớ đến ổ bánh đầy ắp nhân là nước miếng trong miệng tôi ứa ra liên tục.

    Thằng Nick ác ôn. Sao cứ khoái hành hạ bạn bè kiểu này thế?

    Thấy cú lườm toé lửa của tôi, Nick giơ hai tay lên. “Được rồi. Không có bánh mì thì ăn khoai lang luộc cũng được. Tao thèm khoai lang hôm bữa quá. Mày mua chỗ nào ngon vậy?”

    Tôi tưởng mình nghe lầm. “Mày, muốn ăn khoai?”

    “Ừ.”

    “Được. Vậy để tao đi mua nó cho mày.”

    “Túi tiền của tao ở trong ba lô. Nhớ là cái túi lớn, màu đen.”

    Người bệnh cảm cúm mà ăn khoai lang có sao không ta? Theo lời bác Cả và Tạc Tổ thì khoai lang rất bổ dưỡng, theo lời mẹ tôi thì khoai lang có nhiều vitamin A và B6, thích hợp để bồi bổ sức khoẻ và tăng sức đề kháng. Còn theo lời Andrey thì... thôi kệ, bỏ qua đi. Nhiêu đó bằng chứng là đủ.

    “Tao đi nha!”

    Cộc! Cộc! Cộc!

    Gì nữa đây? Thằng Andrey xong việc sớm thế? Hay là bác Cả đi về từ xưởng giấy? Hay là…

    “Có lẽ là Nhật Minh. Hai hôm trước cậu ta có hứa sẽ chạy đến đây thăm tao.” Nick làu bàu, lấy ống tay áo quẹt mồ hôi. “Nếu là Nhật Minh thì mày đuổi về đi. Không chịu về thì mày cấm cửa, nhất quyết đừng có cho cậu ta vào nhà, lây bệnh thì khổ lắm!”

    “OK,” tôi đội nón, vác túi vải ra ngoài.

    Nick gọi ra, “Nhưng nếu có đồ ăn thì lấy hết vào đây!”

    Hay quá! Vừa đúng lúc tôi muốn diện kiến vị công tử này. Nhật Minh là bạn tốt của Nick, đã vậy còn là con ông lớn. Nhà mặt phố, bố làm to, Nick vớ được người bạn vừa có điều kiện, vừa nhiệt tình thế này thì tốt quá.

    Vừa kéo cánh cửa gỗ, đập vào mặt tôi là...

    “Ủa? Chị Bảo Hà? Em Thy?”


    Chú thích:
    [1] Tử Lộ hỏi Quân tử phải làm gì, Khổng Tử đáp: “Sửa mình để nên người kính cẩn”. Lại hỏi: Có vậy thôi ư? Đáp: “Sửa mình kính cẩn để yên mọi người”. Lại hỏi: “Có vậy thôi ư? Đáp: Sửa mình kính cẩn để yên trăm họ. Sửa mình để yên trăm họ, việc đó dẫu vua Nghiêu, vua Thuấn cũng chưa làm cho trọn” (Tử Lộ vấn quân tử, Tử viết: “Tu kỷ dĩ kính”. Vấn: “Như tư nhi dĩ hồ?” Viết: “Tu kỷ dĩ an bách tính.Tu kỷ an bách tính, Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chu”) – Trích Luận ngữ, XIV, 45.
    [2] Câu nói trích từ phim Star Wars, tập IV, do sư phụ Obi-Wan Kenobi nói với Luke Skywalker. Nguyên bản tiếng Anh là: “It’s an energy field created by all living things.”
    [3] Câu nói trích từ phim Star Wars, tập V, do sư phụ Yoda nói với Luke Skywalker. Nguyên bản tiếng Anh là: “You must feel the Force around you; here, between you, me, the tree, the rock, everywhere, yes.”
    [4] Câu nói trích từ phim Star Wars, tập IV, do sư phụ Obi-Wan Kenobi nói với Luke Skywalker. Nguyên bản tiếng Anh là: “The Force will be with you, always.”
    [5] Câu nói nổi tiếng trích từ phim Star Wars, nói bởi Han Solo với Luke Skywalker như một lời chúc may mắn. Nguyên văn là: “May the Force be with you.” Lời tác giả: Ba thằng nhóc là fan ruột của bộ phim Star Wars, nên Andrey hay nhớ những câu nói kinh điển trong phim.
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/4/20
  7. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 55
    VÕ GIAI


    Sau khi thảo luận với hai thằng bạn, bọn tôi đã quyết định để bác Cả và Tạc Tổ cập nhật tình hình nguy cấp ở làng Yên Thái cho hai vị khách và thu xếp cho hai người họ trở về huyện Gia Định vào sáng hôm sau. Ở lại làng trong thời gian này là quá nguy hiểm. Giao lại nhiệm vụ cao cả này cho Tạc Tổ, tôi mới dám yên tâm đi chợ mua khoai lang cho Nick.

    Mời đọc tiếp Chương 55
    Đã mấy ngày chưa gặp, không biết mẹ con Hồ thị thế nào rồi? Sau sự việc hôm nọ, chắc là chị ấy không còn bán khoai ở chợ Hồng Tân nữa. Đáng tiếc thật! Nếu khoai lần này mua ở chỗ khác, không biết có ngon bằng khoai lần trước không? Rồi Nick có nhận ra sự khác biệt không?

    Thằng bé con chị đã hai lần muốn bái tôi làm sư phụ của nó, làm tôi ngại muốn chết. Mặc cho tôi từng có kinh nghiệm làm trợ giảng trong hai năm, trực tiếp truyền đạt võ thuật trên cương vị là “sư phụ” là chuyện hoàn toàn mới. Nó mang kèm trọng trách của một vị võ sư thực thụ, chức vụ mà tôi chưa dám nhận. Đúng hơn là tôi chưa đủ trình độ để đảm nhận. Ngay cả khi dạy võ cho Andrey, Nick và Tạc Tổ, tôi cũng chỉ dám xưng là “sư huynh” thôi.

    Lâu ngày không tập ở võ đường làm tôi nhớ sư phụ kinh khủng. Sư phụ Jefferson, người mà tôi xem là người cha thứ hai, cũng đối xử với tôi như con trai mình. Thật ra sư phụ đã lớn tuổi rồi, nên luôn luôn dặn dò thế hệ trẻ bọn tôi, những người tiếp nối truyền thống võ học Việt Nam. Sư phụ dạy tôi, học võ phải đặt hai chữ “nhân-nghĩa” lên đầu. Rồi phải lễ phép, khiêm nhường, dũng cảm, nhẫn nại, thật thà và sáng suốt. Chắc chắn sư phụ sẽ biết cách giải quyết ổn thoả những tình huống liên quan đến võ thuật.

    Giờ đây, nhiều lúc cái đầu mít đặc này của tôi không thể nghĩ ra phương án nào khả thi, nhất là với những chuyện phải động tay động chân. Động cái nào nát cái đó! Theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đã vậy tôi còn sợ làm phật lòng người khác, nhất là con nít. Nếu cậu bé Thiều Huy mà hỏi tôi thêm lần nữa, dám chắc là tôi gật đầu cái rụp, ngó lơ hết mấy điều lệ vượt thời gian kia.

    Chết tiệt, Pax à! Tôi tự vả bôm bốp. Tỉnh táo lên!

    Mải mê suy nghĩ, tôi phát hiện bản thân đã đến chợ chiều Hồng Tân. Dịch bệnh ở làng giấy xem ra vẫn chưa ảnh hưởng đến tình hình buôn bán ở đây. Khung cảnh tấp nập của các tiểu thương làm tâm trạng bồn chồn của tôi như vơi đi phần nào. Hít đầy vào bụng thứ mùi hương đặc trưng của chợ dân sinh, tôi dạo bước qua các mặt hàng thực phẩm tươi sống. Cá tôm vừa mới bắt còn nhảy tung toé nước, đến sạp hàng thịt treo lên từng tảng, phía trước đặt nguyên cái đầu heo làm tôi hoảng vía, đến quầy hàng gia cầm còn sống nhăn, nơi tôi cật lực né tránh.

    Bước đến hàng trầu, tôi cắn răng mua một sấp lá cho Andrey. Đến giờ tôi vẫn không hiểu nổi tại sao thằng bạn thích nhai trầu cau đến thế. Không, phải gọi là nghiện tới nơi rồi. Một ngày cậu ta nhai ít nhất hai lần. Răng bọn tôi không nhuộm đen, nên mỗi lần nhai trầu đều thấy rõ mồn một loại nước đỏ ứa ra, chảy khắp khoang miệng. Trông ghê chết đi được! Đã vậy mùi vị nó cũng chẳng thơm ngon gì. Nick và tôi nhất trí thói nhai trầu của Andrey là tật xấu khó bỏ, giống như uống rượu và hút thuốc. Có điều bọn tôi không biết nhai trầu có tác dụng hay tác hại gì với răng miệng.

    Tới gian hàng rượu, tôi bất đắc dĩ mua một bình nhỏ cho mình và đồng bọn, phòng trường hợp phải sát trùng vết thương khẩn cấp. Lần trước kiểm tra hộp cứu thương thì thấy chai oxy già đã sạch trơn. Chắc là hai thằng bạn trong cuộc truy bắt đã sử dụng hết. Thôi, thà lo xa thì đỡ buồn gần.

    “Hàng bán khoai… hàng bán khoai…”

    Lần trước chị Gia Hân nói hàng nào bán khoai giá sỉ thế nhỉ?

    Đang lẩn thẩn nhớ lại cuộc trò chuyện hôm nọ, tôi giật mình lách người tránh lũ trẻ con đang chạy giỡn. Hai tay kịp thời nâng túi đồ qua vai để một cậu nhóc chạy vù qua.

    “Ấy, cẩn thận chứ em!”

    “Mau tránh đường,” cậu bé cười hăng hắc, tay giơ cao cọng cỏ lau, “mọi người mau tránh đường cho Hoàng nguyên soái.”

    Hoàng nguyên soái!?

    Cậu bé chạy về phía bãi đất trống, nơi lũ trẻ đang tụ tập. Tôi đếm khoảng chừng hai mươi cu cậu, tầm năm đến mười tuổi. Ai nấy đều mang theo vũ khí: nào “gậy” gỗ, nào “giáo” trúc, nào “cờ lệnh” cỏ lau. Đi vào chính giữa vòng tròn, một cậu bé choàng tấm vải đỏ sau lưng, một tay cầm thứ vũ khí như kiếm, tay kia đang làm một điệu bộ như ra lệnh cho thuộc hạ. Sau một động tác chào hỏi nghiêm trang, cả đám nhóc như đồng thanh ồ lên, tiếng reo hò làm náo động cả một góc cuối chợ. Từ đằng xa, tôi vô thức toét miệng cười. Tụi nhỏ chơi đánh trận giả làm tôi nhớ tới những buổi LARP[1] thành nhân vật của tôi và Nick.

    Trí tò mò bị kích thích, tôi đội sụp nón, ngó nghiêng xung quanh, và khi không ai phát hiện thì giả vờ lại gần. Nếu tụi nhóc đã thành lập một đội quân hùng hậu thì cần có kẻ thù chứ, đúng không?

    Chưa kịp làm gì nhiều, tôi vừa “vô tình” đi ngang qua, cười một tràng dài thật nham hiểm thì đã bị một tên nhóc con chặn đường hỏi thăm.

    “Ngươi là ai? Dám xâm phạm địa bàn của bọn ta?”

    “Ta là ai à?” Tôi cố tình hạ thấp giọng xuống. “Ha ha ha… Ta là tướng cướp của khu vực này, là kẻ thù truyền kiếp với Hoàng nguyên soái của các ngươi. Hôm nay ta đến đây, là để tính sổ với hắn. Nợ máu phải trả bằng máu.”

    Ngay lập tức, tôi bị cả chục cây gậy chĩa vào người.

    “Người đâu, mau bảo vệ nguyên soái!” Một tên nhóc khác hét lên. “Tên tặc kia! Khá khen cho ngươi đơn thân độc mã đến đây, nhưng nếu muốn động đến nguyên soái, ngươi phải bước qua xác bọn ta trước.”

    Ây chà! Diễn đạt phết! Rất có triển vọng.

    “Mua ha ha ha ha ha…” Giở giọng cười phản diện kinh điển, tôi vờ rút vũ khí ra từ thắt lưng và xuống tấn. Bọn nhóc con thấy tôi giương oai diễu võ, làm ra chiêu trò thì hơi chùn bước.

    Trước khi đánh trận, quan trọng nhất là không được khinh địch. Thế là tôi thốt lên, “Thật là nghĩa khí! Đúng là tuổi trẻ tài cao.”

    “Đừng nói nhiều.” Vị Hoàng nguyên soái kia lên tiếng. “Nếu ngươi và ta có ân oán, thì chỉ cần ta và ngươi giải quyết với nhau là đủ. Không cần mọi người phải nhọc công!”

    “Nguyên soái!”

    “Đủ rồi! Tên tặc kia, ta và ngươi sẽ quyết sống chết đến cùng!”

    Một cậu bé thú vị! Vì đội sụp nón quá nửa đầu, tôi chỉ thấy được phần vai trở xuống của đối thủ. Cậu bé bị tật ở chân mà di chuyển rất nhanh, “thanh kiếm” phóng tới vào bụng tôi. Giả vờ bị thương, tôi ôm bụng rồi lăn đi, tranh thủ nhặt lấy cành cây dưới đất. Tôi đỡ một đòn, hai đòn, ba đòn, liên tục thử tài đối thủ. Những chiêu thức của cậu “nguyên soái” này tuy còn lỗi nhưng rất có bài bản, giống như đã học lóm của người khác rồi tập lại rất nhiều lần, càng tập càng thuần thục. Thảo nào bọn nhóc tôn thằng bé là thủ lĩnh.

    “Hây!” Tôi thử một đòn móc xoáy từ dưới lên, ai ngờ “nguyên soái” đã đỡ được, hất mạnh cành cây ra khỏi tay tôi. Thừa thắng xông lên, cậu bé đâm một nhát vào ngực tôi.

    “Tên xấu xa, ta đã đánh bại ngươi!”

    “Hự! Chết ta rồi!”

    Giữa tiếng hoan hô của lũ trẻ, tôi ôm ngực và ngã khuỵu xuống, nằm lăn ra đất.

    “Để xem tên tặc nhà ngươi là ai!” Một đứa cởi nón tôi ra. Mấy chục cặp mắt thô lố nhìn tôi.

    Bịch!

    Vị Hoàng nguyên soái, không, phải là cậu bé Hoàng Thiều Huy lập tức quỳ rạp xuống, cúi đầu lạy thật sát.

    “Sư phụ!”

    ----------​

    Tôi vừa lồm cồm ngồi dậy vừa tránh đi ánh mắt chòng chọc của đám nhóc.

    “Anh đã nói anh không nhận đệ tử mà!”

    “Sư phụ!” Thiều Huy vẫn một mực cúi đầu. “Xin sư phụ thứ lỗi cho Thiều Huy.”

    Éc! Không ổn rồi! Tình hình là tôi đã bị bao vây bốn phương tám hướng bởi đám quân nhí này, nên co giò bỏ chạy lúc này là một nước đi kém sang. Đã vậy thủ lĩnh của bọn nhóc còn đang quỳ lạy như thể tôi chết thật rồi. Thiệt là khó xử quá!

    Ai đó cứu tôi với!?

    “Ờm… Anh là Đức Bình. Nguyên soái của tụi em thật đáng khen. Tụi em cũng vậy. Tất cả đều rất giỏi. Ha ha ha… Chỉ là trò chơi thôi, anh thấy có gì đâu mà phải xin lỗi. Thôi, anh có việc phải đi trước. Ở lại chơi vui nha!”

    “Anh ơi…”

    “Mau đứng dậy đi!” Rồi tôi liền nghiêm giọng, “Thiều Huy à, từ nay về sau, em không được quỳ lạy anh như thế này nữa, có nghe không? Anh không phải sư phụ của ai cả. Anh chỉ là một thằng ất ơ ngoài đầu đường xó chợ, không tiền, không quyền, không tài cán và danh phận. Nếu muốn học võ, anh khuyên em đi bái một vị sư phụ có danh tiếng trong vùng, hoặc một vị võ quan nào đó. Tuyệt đối không được nhận vơ người lạ, rõ chưa?”

    Cậu bé Thiều Huy đã chịu đứng dậy, dù đầu vẫn cúi thật thấp. Tôi xoa mái đầu xù của thằng bé, dịu giọng, “Anh thấy em rất có tiềm năng, nếu chăm chỉ luyện tập sẽ có tương lai làm võ uý. Các em nếu có niềm đam mê với võ thuật thì nên bắt đầu từ đây là vừa. Hồi còn nhỏ, cỡ tuổi này là anh đã bắt đầu tập võ rồi. Cố lên!”

    Cả đám trẻ con cúi gập người, đáp lễ hệt như Thiều Huy. Tôi mỉm cười và vác túi lên vai. Vừa đi được vài bước, tôi phát hiện ra ngay mình có cái đuôi dài.

    “Mấy đứa đi theo anh làm gì?”

    “Mợ em nói,” Thiều Huy rụt rè lên tiếng, “kẻ quân tử sẽ không nhận mình là quân tử, bậc trượng phu sẽ không nói mình là trượng phu…”

    “Hửm?”

    Một thằng nhóc lớn hơn khoác vai Thiều Huy, hắng giọng và lớn tiếng “Bây giờ anh đi đâu ấy ạ?”

    “Anh đi chợ thôi. À, mà mấy đứa có biết hàng nào bán khoai lang giá sỉ không?”

    “Có gian của bác Phương ạ.”

    “Được rồi. Cảm ơn em. Anh đi đây. Và không được đi theo đó!”

    “Mợ em hôm nay bán chè khoai rất ngon,” Thiều Huy nói tiếp, “nếu anh đói bụng em có thể…”

    “Được! Ờm… Tuyệt vời! Ha ha… Thật là đúng lúc, anh đang đói meo cả mép đây. Không cần dẫn đường đâu, em cứ ở lại chơi đi!”

    Nói xong tôi bước đi thật nhanh, gần như là cắm đầu bỏ chạy.

    Chậc, mới tự nhủ bản thân không được kém sang mà!

    ----------​

    Bác Phương là một phụ nữ trung niên xuề xoà và hào phóng, bởi thế nên gian hàng lớn của bác luôn đông khách. Tôi chỉ trả tiền cho hai cân khoai lang mà cảm giác như vác về được hai tạ vậy. Hỏi tại sao thì bác chỉ phẩy tay và nhắc chuyện hôm nọ, làm tôi ngượng chín mặt. Danh tiếng (hay tai tiếng) của Đinh Thái Văn thì ai ai cũng biết, kể cả việc hắn mặt dày tán tỉnh chị Gia Hân, nhưng khuyên nhủ được hắn thì có tôi là người đầu tiên. Nghe đến đây tôi không khỏi ngờ vực, đoán rằng mấy câu chuyện ở chợ trời thường hay bị phóng đại. Gì chứ mấy ông bà tám hay có thói quen “nghe được phân nửa, hiểu một phần tư, kể lại gấp đôi”. Không thể nào tin được!

    “Vậy là ở chợ Hồng Tân này người ta biết cháu ạ?”

    “Chứ còn ngô khoai gì nữa!”

    Thôi tèo rồi! Tôi nhắm tịt mắt. Sao số mình đen quá vậy trời?

    “Này nhá, Duy An, ta khuyên cháu hãy đến gặp Gia Hân đi. Thị rất biết ơn của cháu đấy!”

    “Dạ vâng ạ. Thật ra cháu cũng đang đói bụng.” Tôi xách hai cái túi nặng trịch lên, “Cháu nên đi hướng nào ạ?”

    “Đi thẳng hết quầy rau rồi rẽ trái.”

    “Cháu cảm ơn bác ạ.”

    Trước khi đi, bác Phương còn tặng tôi một nụ cười đen bóng, đôi mắt hấp háy. Tôi đang đói nên không để ý lắm. Viễn cảnh chén chè khoai ngon ngọt khiến tôi rảo bước thật nhanh.

    “A! Chị Gia Hân.”

    Giống như lần trước, chị đang cắm đầu vào cuốn sách trước mặt thì ngước lên. Vừa thấy tôi, chị liền mỉm cười thật tươi. Tôi vẫy tay chào chị.

    “Em chào chị ạ!”

    “Duy An đấy à?”

    May sao gánh chè đang vắng khách, thế là tôi thoải mái ngồm xổm xuống cái ghế tre và tha hồ ngắm nghía các loại chè. Có loại màu trắng đục, màu xanh lá, màu vàng nhạt và màu tím lịm.

    Nhiều loại quá, mà tôi chỉ có một cái bụng. Có nên mua về cho mọi người không ta?

    Thấy tôi chần chừ, chị chỉ vào từng loại và giới thiệu, nào là chè khoai môn, khoai lang, khoai sắn, chè khoai với nấu với nếp cái, nếp cẩm, nếp non, đổ thêm nước đường, mật, hoặc nước cốt dừa.

    Hic, mình muốn ăn hết. Tôi nuốt nước miếng cái ực. Pax, bình tĩnh! Không được vì miếng ăn mà đánh rớt hình tượng.

    “Chị ơi, thật ra em muốn ăn hết những loại này, nhưng chắc là nên mua về cho mọi người ăn cùng. Thôi thì, ở đây em sẽ ăn chè… khoai tím vậy.”

    Trong lúc đợi chị múc chè ra, tôi tìm cách bắt chuyện.

    “Lúc nãy em có gặp cậu bé Huy đang tập đánh trận giả với lũ trẻ trong làng. Xem ra em ấy rất có năng khiếu. Tuổi nhỏ mà có đam mê với võ thuật thế kia, nếu được tầm sư học đạo thì sẽ có ngày thành danh đấy.”

    Chị Gia Hân không nói gì, nhưng ánh mắt phảng phất sự ưu tư. Nó xảy ra trong thoáng chốc, nhanh đến nỗi tôi tưởng mình đang hoa mắt. Rồi chị lại cười và đưa chén chè cho tôi.

    “Trẻ con mau quên, chóng đổi. Xin cậu đừng quá bận tâm.”

    “Nhưng…” tôi thở ra, “thế dạo này tên Thái Văn còn làm phiền chị không?”

    “Nhờ ơn của cậu, hắn đã không quấy rầy tôi nữa. Hai hôm trước hắn có đến chợ, nhưng cư xử rất đúng mực, kính trên nhường dưới, như một người hoàn toàn khác. À, có hôm hắn còn đến tận nhà và tặng cây gậy chống cho mợ tôi nữa.”

    Đúng là yêu làm con người sẵn sàng thay đổi. Hy vọng tên đó sẽ trở thành một người tốt hơn. Nếu hai người tìm được hạnh phúc thì tôi cũng mừng cho họ.

    “Thật ra… thật ra Đinh Thái Văn không xấu xa lắm đâu. Hắn bộc trực và nóng tính, đúng thì nói đúng, sai thì nói sai. Hắn cũng hào sảng, nếu là bạn bè thì sẽ không bao giờ tính toán so đo. Chỉ là, hắn là con út, nhà lại giàu, được nuông chiều từ nhỏ nên không biết cách cư xử với phụ nữ. Nếu hắn vì chị mà chấp nhận thay đổi, há chẳng phải là điều tốt sao?”

    “Duy An à,” chị dịu dàng cắt ngang, ý cười hiện rõ trong đôi mắt, “tôi biết cậu và hắn là bằng hữu, nhưng cậu không cần phải nói tốt cho hắn đâu.”

    “Ấy, em nào phải bạn hắn?” Tôi lắc mạnh đầu. “Bọn em là, e hèm, nước sông không phạm nước giếng.”

    “Chứ không phải cậu cũng là con của vị quan nào đấy ư?”

    “Em á?”

    Ủa? Bộ dạng này biến thành công tử từ hồi nào vậy?

    “Cậu đừng đùa nữa. Ngay từ đầu, dù ăn vận giản dị, thậm chí rách rưới, cậu vẫn toát nên khí chất của một trâm anh thế phiệt. Cậu từng nói với tôi rằng, đã lâu rồi không được ăn khoai lang nướng. Món ăn dân dã này nhà nhà đều có, lẽ nào cậu lại không thể ăn? Cậu đi chợ mà không mang chân trần, chứng tỏ không thường xuyên đến những nơi này.” Tới đây tôi nhìn trân trân xuống đôi dép xỏ ngón của mình. “Dù bị Thái Văn xô ngã, toàn thân lấm lem, cậu vẫn bình tĩnh đứng lên và đáp trả hắn. Cậu cố tình dùng nón và tên giả để tránh mặt hắn, nhưng cả Thái Văn lẫn Trí Luân đều nhận ra cậu. Cậu nói chuyện có lễ giáo, khiêm nhường, xuất khẩu thành thơ, võ thuật xuất chúng. Đó chẳng phải là đặc điểm của một vị công tử xuất thân danh giá?”

    Chị ta khen mà tôi cảm nhận hai má mình nóng lên. Dù rất ngưỡng mộ cảm nhận và giác quan tinh tế của chị, suy đoán kia vẫn khiến tôi giật thon thót. Chị làm tôi nhớ đến huyện thừa Trịnh Viêm, người đã vì một hiểu lầm nho nhỏ mà biến nó thành một của nợ to bự rồi bắt tôi cong lưng vác đến giờ. Riêng cái thân phận con trai ngài cố Nhập nội đại hành khiển đã khiến tôi có đủ điều kiện lên đoạn đầu đài rồi.

    Nhưng nếu nhìn nhận bằng sự thật, phán đoán của chị có một vài phần đúng. Gia đình tôi bên Mỹ đúng là khá giả thật. Tôi biết gia sản nội ngoại đều dư dả, mặc dù ba mẹ chưa bao giờ nhắc đến nó trước mặt bọn tôi. Vốn sống trong nhung lụa từ nhỏ, có lẽ tôi đã hình thành một vài thói quen của tầng lớp thượng lưu, giống với các vị công tử ở đây.

    Nếu Nguyễn Trãi còn sống, tôi hẳn sẽ là một công tử chính hiệu. Nhưng nếu ông ấy còn sống thì tôi đâu có mặt ở đây?

    Ây dà, suy nghĩ nhiều thiệt là nhức cái đầu! Nói chung là thời đại này phân chia giai cấp rõ rệt. Người thuộc tầng lớp nông dân như chị Gia Hân đương nhiên phải dè chừng những người như tôi và Thái Văn. Lần trước, tình huống nguy cấp quá nên tôi mới bị Trịnh Viêm ép nhận thân phận. Lần này tôi quyết phải nói thẳng, nói thật. Đều là con người với nhau, tôi ghét khi phải đối xử phân biệt chỉ vì cái danh phận trong xã hội hay độ nặng của túi tiền. Lần sau, để tránh bị người khác hiểu lầm, tôi phải cư xử cẩn thận hơn nữa.

    Tôi húp một muỗng chè thật to cho hạ nhiệt, để vị ngọt thanh tràn vào khoang miệng. Lượng đường xộc lên não làm tôi tỉnh táo hẳn ra. Chè khoai mà tác dụng như nước tăng lực.

    “Em là ai hả? Thật ra thì, chuyện này… phức tạp lắm! Em chưa thể nói được gì đâu ạ. Em cũng không biết phải giải thích thế nào. Hiện tại, em mang họ Đặng, huý là Duy An. Năm nay được mười tám tuổi. Chị chỉ cần biết thế thôi ạ.”

    Chị Gia Hân nhìn tôi thật chăm chú. Đôi mắt biết nói như đang dò tìm sự dối trá trên mặt tôi. Sau vài giây soi xét, cuối cùng thì chị cúi đầu, khoé miệng khẽ nhếch lên.

    “Cậu nói thế, thì tôi sẽ tin cậu.”

    Phù! Cuối cùng cũng có người tin.

    “Cảm ơn chị nhiều nhiều nha. Đó giờ em có nói gì thì không ai thèm tin cả.” Ngay cả Tạc Tổ, Cung vương và bác Cả. Không ai tin tôi không phải là Nguyễn Duy An, con trai út của Nguyễn Trãi. “Những gì em nói đều là sự thật. Thề luôn! Em mà nói dối sẽ bị… xe ngựa cán chết! Không, không, phải nói là bị sét đánh chết tại chỗ! Chị thấy không, trời vẫn còn sáng trưng, nghĩa là em đang nói thật…”

    “An,” chị Gia Hân nhẹ giọng cắt ngang, “chị tin em mà.”

    Nghe chị đổi xưng hô làm tôi cười toe toét.

    Hai người bọn tôi vui vẻ nói chuyện phiếm cho đến khi tôi ăn hết chén chè thứ hai. Tôi kể thêm về tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết ở làng Yên Thái, dặn dò hai mẹ con phải tuyệt đối cẩn thận. Một là phải tránh xa khu vực làng giấy, nơi có nhiều nguồn nước, hai là tránh bị muỗi vằn đốt. Tôi còn nhấn mạnh rằng bệnh này cực kì nguy hiểm với mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ em. Để trấn an chị, tôi có giới thiệu hai vị ngự y đang làm việc ở tế sinh đường lớn nhất huyện Quảng Đức. Nếu có chuyện bất trắc thì cứ tới đó hỏi xin sự giúp đỡ.

    “Em quen biết người của Thái y viện ư?”

    “Em đã, ờm, sáng nay em có gặp bọn họ ở tế sinh đường.”

    Tôi không dám nói chuyện Cung vương ra lệnh cho Andrey và tôi đi theo làm trợ lý cho họ. Tôi cũng không dám nói chuyện ngài Nhập nội thái y đại sứ Lương Công Định đã đến tận nhà xem bệnh cho Nick. Chị Gia Hân dường như cảm nhận được sự ngần ngại của tôi nên đã hắng giọng và đổi chủ đề.

    “Chị đã nghe Thiều Huy kể về em. Thằng bé nói em vì bảo vệ một cô bé mà lộ mặt, sau đó dù bị thương vẫn xung phong biểu diễn võ thuật, tránh cho gánh hát bị thua lỗ. Tối ấy, thằng bé khăng khăng muốn tìm được em, muốn bái em làm sư phụ, vì các chiêu thức của em có bảy phần giống với môn phái Bình Định. Chỉ tiếc rằng…”

    Vẫn là võ Bình Định! Võ của tôi là võ cổ truyền theo tiêu chuẩn của liên đoàn võ thuật Việt Nam, là sự kết hợp của nhiều môn phái, hệ phái khác nhau. Trong số đó có võ của quân đội Tây Sơn, mà các thủ lĩnh thì xuất thân từ tỉnh Bình Định. Theo tôi nhớ không lầm thì thời này lãnh thổ vẫn chưa mở rộng tới đó.

    Vậy môn phái Bình Định này là gì nhỉ?

    “…võ kinh,” chị Gia Hân nói đều đều như ru ngủ, không chút cảm xúc, làm tôi phải chớp mắt vài lần cho tập trung, “được truyền dạy trong binh lính từ thời Thái Tổ khởi nghĩa, nay loại võ này chỉ dành cho hoàng tộc và con của các bậc công, hầu, tước, bá.”

    Húp thêm ngụm chè nữa, tôi thầm so sánh võ của mình và võ thuật của Trịnh Viêm. Ông ta nói từng là lính quèn ở Đông Kinh, thế mà võ thuật rất khá (nếu tôi không chơi bẩn thì chắc là thua rồi). Bộ thủ và cước pháp của ông làm tôi nhớ tới môn phái Thiếu Lâm. Không lẽ họ dạy võ từ chùa cho các binh lính triều đình? Ngoài ra, tên lính Trung Nghĩa từng nhắc đến tên nhà sư Sa Viên, người mà theo tôi là có liên quan mật thiết tới môn phái Bình Định kia.

    “Thế… còn đội vệ binh trong cung cấm thì sao ạ?”

    Chị Gia Hân lắc đầu. Ánh mắt loé lên thứ cảm xúc gì đó giống như là chua xót. Hai tay chị nắm chặt lấy vạt váy đến trắng bệch. Thấy người đối diện bỗng không được thoải mái, tôi lái qua chuyện khác.

    “Lần đầu gặp em, Thiều Huy có nhắc đến ngài Điện tiền chỉ huy sứ. Chị có biết ông ấy không ạ?”

    Vừa nghe cái chức danh kia, chị Gia Hân thở hắt ra. Tuy vậy, trong đôi mắt kia vẫn như đang chứa đầy uẩn ức khó tả.

    “Em hỏi về ngài ấy… là muốn thi vào võ giai ư?”

    Võ giai? Ý chị là tôi muốn thi làm quan võ á?

    “Không! Không, chị hiểu lầm rồi. Em chỉ tò mò thôi, không có ý gì cả.”

    Lần này thì chị không tin tôi chút xíu xiu nào.

    “Nếu thông thạo võ thuật và binh pháp, em có thể đi theo nghiệp này.” Chị hạ giọng khuyên nhủ, “Nhưng mà, An à, em phải cân nhắc cho thật kĩ đấy. Dù có quyền cao chức trọng, nhà cao cửa rộng đến đâu thì cũng sẽ gặp lắm chuyện chông gai. Mạng người chỉ có một, đều đáng quý như nhau, thế mà em vào đó, là bán cái mạng mình cho những kẻ chỉ thích đấu đá lẫn nhau, thích đem cái chết của thuộc hạ ra làm trò tiêu khiển. Em dành cả đời bảo vệ họ, rồi lại hy sinh vì họ, nhưng chao ôi, họ chỉ xem em như một con tốt nhỏ nhoi trong ván cờ thế lực mà thôi!”

    Thi vào võ giai cũng giống như theo nghiệp binh, đi làm lính (cấp cao) cho triều đình Đại Việt. Tôi học võ thế thôi, chứ kêu cầm súng (thời này là gươm giáo) đi giết người là kiên quyết từ chối ngay, cho dù đó là đi bảo vệ đất nước. Gọi tôi là thằng hèn thì tôi chịu, chứ ba cái vụ giết chóc thì tôi luôn tìm mọi cách tránh xa. Càng xa càng tốt.

    Mấy chức võ quan này thì hay ho gì chứ? Có kề dao vô cổ tôi cũng không làm.

    Đã vậy nghe nói mấy năm trước triều đình có biến lớn. Lê Nghi Dân giết em trai mình và cướp ngôi vua, sau đó lại bị các đại thần đảo chính và bức tử. Rất nhiều quan lại đã bị giết, số còn lại bị bắt giam hoặc cách chức. Nhiêu đó cũng thừa sức khiến kẻ theo chủ nghĩa hoà bình như tôi cao chạy xa bay.

    Thà làm một nhân viên công vụ nhỏ bé, ngày đi làm, tối về nhà, tránh thị phi, thì đồng lương ít ỏi tôi cũng nhận. Hoặc làm dân thường thôi. Miễn cuộc sống nhàn hạ và an ổn là được.

    “Bấy nhiêu việc đó, em đảm đương không nổi. Em thà sống cả đời là một kẻ vô danh tiểu tốt còn hơn.”

    “Em cẩn thận đấy, nói trước kẻo lại bước không qua.”

    Ủa? Mà sao nãy giờ chị Gia Hân luôn tỏ thái độ không ưa người của triều đình? Tôi thấy vài người bọn họ cũng tốt bụng và lo lắng cho dân mà?

    Và chị vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi.

    “Vậy ngài Điện tiền chỉ huy sứ thì sao ạ?”

    “Ngài ấy là… cấp trên, chỉ huy trực tiếp của chồng chị, đội trưởng đội cận vệ phía Nam của Cấm Cung. Ngài ấy… dù rất bận rộn vẫn dành chút thời gian đến thăm gia quyến của cấp dưới,” đến đây chị khẽ mỉm cười, “ngài ấy là người vừa anh dũng vừa đức độ, nên em hãy yên tâm.”

    Dù không biết nên yên tâm chỗ nào, tôi cũng gật đầu cho có. Hy vọng một ngày đẹp trời tôi sẽ gặp được ngài.

    Chén chè trên tay đã hết, tôi móc ra túi tiền thì bị chị ngăn lại.

    “Lần trước em đã giúp chị, thì hãy để chị mời em lần này.”

    Phù! Đỡ quá! Khỏi phải chi tiền của Nick (mặc dù biết thằng bạn không tính toán gì với tôi).

    “Vậy… khi nào hết dịch bệnh thì chị và Thiều Huy có thể tới Phạm gia ở làng Yên Thái gặp tụi em. Em muốn giới thiệu bạn của em với hai người.”

    Chị dúi vào tay tôi mấy cái bánh gói lá chuối. Tôi cúi đầu chào chị và ra về, vừa đúng lúc có khách đến ăn chè. Người khách mới dòm tôi lom lom. Đó là một thằng nhóc trạc tuổi tôi, trông tướng tá cục mịch như đất.

    “Cậu là Duy An à?”

    Giờ đây cái tên Duy An chắc khét tiếng khắp cái kinh thành Thăng Long này rồi, nên tôi chẳng thèm phản ứng gì nữa.

    “Ờ, tôi là Duy An đây.”

    “Hôm nọ vị Hy Lạp Hoạ Gia nhờ tôi đóng một cái giá có khung bằng gỗ để hoạ tranh. Nay tôi đã làm xong, cậu có thể nhắn anh ấy đến lấy.”

    “Nicholas bị ốm rồi,” tôi phẩy tay, “để tôi đến lấy và trả tiền cho cậu luôn.”

    Hèn gì thằng bạn nói tôi lấy túi tiền lớn. Cái tên này thật là tranh thủ. Ỷ mình kiếm được tiền là bắt đầu mua sắm đủ thứ. Rồi thừa dịp mình bị bệnh liền biến tôi thành shipper riêng.

    “Ờm, và còn…”

    “Cậu ta còn mua gì nữa không?”

    “Anh ấy đặt mua màu bột, bột vôi, lá đinh hương khô, da thuộc hai tấm, hồ dán,…”

    Ughhh! Biết ngay mà!


    Chú thích:
    [1] LARP (Live-action role playing) là hình thức chơi nhập vai ngoài đời. Người chơi tự chọn nhân vật, hoá trang cho giống và chơi theo cốt truyện định sẵn. Một trong số đó có trò chơi nổi tiếng Dungeons & Dragons.
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/4/20
  8. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 56
    ĐÊM THÂU


    Lạch cạch! Lạch cạch! Cộc, cộc! Kéttttt…

    RẦM!

    “A! Anh An-rây! Anh An-rây về rồi!”

    “Thy?” Andrey quay phắt ra sau, trợn mắt. Khuôn mặt đỏ bừng bừng của cậu đẫm mồ hôi. “Pax? Con bé đang làm gì ở đây?”

    Mời đọc tiếp Chương 56
    Cô bé Thy nhác thấy bộ mặt hầm hầm của thằng bạn thì rụt cổ, chỉ dám đứng lấp ló sau lưng tôi.

    Bình thường Andrey thích chơi với con nít lắm mà, sau hôm nay khó tính thế? Chuyện gì đã xảy ra?

    “Chị Bảo Hà và em ấy tới thăm tụi mình thôi mà. Sáng mai là về rồi.”

    “Ờ, thế thì tốt. Ở đây nguy hiểm lắm!” Cậu dùng tay áo lau mồ hôi và gật đầu chào hai người khách ở gian chính. “Em chào chị ạ. Anh chào em, Thy.”

    Chị Bảo Hà đang ngồi tán gẫu với Tạc Tổ mà ngó Andrey trân trân. Chắc là lần đầu chị thấy một người cháy nắng mà bị đỏ như con tôm luộc. Tạc Tổ vừa thấy bộ dạng của Andrey cũng trố mắt.

    Vẫn cái bản mặt bí xị đó, Andrey đi thẳng xuống gian bếp lục lọi đồ ăn, không quan tâm mình đang cư xử cực kì thô lỗ. Cậu cầm lên củ khoai lang luộc mà như vớ được thỏi vàng, thổi phù phù và gặm nó như chết đói. Cậu thậm chí không buồn lột vỏ.

    “Mày có sao không? Mặt như bị táo bón thế kia?”

    Andrey gật gật đầu, tiếp tục ngấu nghiến củ khoai nóng. Nghe nói khoai lang là thực phẩm rất tốt cho nhuận tràng.

    “Vậy có chuyện gì không? Làm việc với hai người kia có ổn không?”

    Cậu vừa ăn vừa trả lời, chẳng màng hình tượng phàm ăn tục uống.

    “Ừ. Họ rất lịch sự và tử tế.” Nhồm nhoàm. “Tao cùng họ thảo luận một vài đặc điểm để chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác hơn.” Nhồm nhoàm, nhồm nhoàm. “Tao đóng góp được kha khá. Và họ chịu khó lắng nghe ý kiến của tao và tham khảo mớ tài liệu khác, rồi mới thống nhất phương pháp chữa trị.” Nhoàm nhoàm. “Nói chung là, hai người họ có thể tự lo liệu từ đây. Ngự y Minh Đán nói ngày mai tao có thể đến phụ bọn họ, mà không đến cũng không sao. Vương gia sẽ không trách phạt đâu.”

    Andrey ngốn vào họng nửa củ và bốc thêm củ khác.

    “Vậy sao mặt mày khó coi thế?”

    Cậu ta hơi khựng lại, cơ mặt giãn ra. Mắt cậu chớp chớp, chắc đang suy tính câu trả lời. Tôi biết thằng bạn không muốn tôi lo lắng. Quá trễ rồi! Chuyện gì liên quan đến Andrey là tôi đều lo tuốt.

    “Trong lúc, ừm… Nó là một bất tiện nho nhỏ, không đáng nói. Hắn… nó, nó còn làm tao bực tới giờ vì đụng chạm vào tự ái của tao. Và công sức của tao, của tụi mình.”

    “Nhưng nếu…”

    “Pax! Tao biết dạo này bản thân không được vui vẻ và vô tư như trước, nhưng không có nghĩa là tao luôn gặp rắc rối,” cậu vỗ vai tôi, “Mày đừng nên nghĩ ngợi nhiều. Cũng đừng nên lo lắng gì. Tao đã xử lý xong xuôi rồi.”

    “Ừm. Sao cũng được.”

    “Đi lên nhà trên thôi!”

    Cái thái độ phủi chuyện như phủi bụi này của Andrey, đáng lẽ tôi phải biết quá rõ rồi chứ. Đúng là khiến con người ta ức chế!

    ----------​

    Vào buổi tối, Nick vì còn mệt đừ nên đã xách chăn gối đi ngủ sớm. Andrey cũng vậy, dù cậu vẫn cố dành vài phút ngắn ngủi hỏi thăm cô bé Huỳnh Thy. Hai người vừa xì xầm trò chuyện, vừa tỉ mỉ têm trầu hình cánh phượng. Tôi biết mấy ngày nay Andrey bị đời dập cho tơi tả, đã thật sự đuối lắm rồi. Một mình thằng bạn cáng đáng biết bao nhiêu việc, là người gồng gánh cho cả nhóm, trong khi Nick và tôi như hai cái gióng nghìn cân.

    Đứng từ trong gian ngó ra hai thân ảnh kia, trong lòng tôi như được lan toả sự ấm áp của tình thân. Tôi thương cậu, thương cả hai người họ không biết đâu cho hết.

    Têm đến hai lá cuối cùng, tôi thong thả bước ra và ngồi bệt xuống sàn. Tôi nhẹ xoa đầu Thy và đặt tay lên vai Andrey.

    “Mày nên ngủ sớm đi.”

    “Tao biết,” cậu ngáp, “Anh đi ngủ đây. Sáng gặp lại em nha.”

    “Anh ngủ ngon ạ.”

    Đã gần ba tuần không gặp, Thy đã không còn là một cô bé gầy gò và sợ sệt nữa, mà rất tươi tắn và lanh lợi. Tóc tai gọn gàng, quần áo chỉnh tề, cặp má đã có chút phúng phính. Em ấy hiện đang sống cùng bác Vân chủ nhà khách, sau này được bác nhận làm con nuôi. Nghe vậy làm tôi mừng lắm.

    “Vậy là em không phải gặp nguy hiểm khi đi cùng bọn anh rồi!”

    “Anh nói thế là sai rồi. Em đã khiến các anh mang hoạ.”

    “Với em là hoạ một lần, còn với bọn anh là hoạ dài lâu.” Tôi phì cười, nói giỡn như không, “Và hoạ này vô đơn chí. Tin anh đi!”

    Được dịp gặp gỡ hiếm hoi, Thy và tôi bắt đầu hàn huyên tâm sự. Bọn tôi nói đến gần khuya. Tầm canh hai. Hai đứa nhỏ tha hồ trao đổi đủ thứ chuyện trên trần đời, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, từ trong nhà ra ngoài ngõ.

    Quan trọng nhất vẫn là kết quả phiên xử tên Lê Ngỗi và Phạm Tất. Theo lời kể của người bị hại, quan Hành khiển đã xử lý vụ án hết sức hợp tình hợp lý. Bà con trong huyện thi nhau tố cáo hai kẻ gian ác. Tên Lê Ngỗi đã bị tịch thu toàn bộ tài sản và đánh roi cho thừa sống thiếu chết. Còn tên Phạm Tất cũng chịu chung số phận, chỉ khác là hắn bị đi đày thêm hai năm. Xem ra luật pháp thời này khá nghiêm khắc với tội tham nhũng, lạm dụng quyền hạn và buôn bán trẻ em.

    Mà khoan… Nếu Phạm Tất bị lưu đày, Trịnh Viêm bị hạ độc, vậy thì ai sẽ tiếp quản huyện Gia Định?

    Cuối cùng, nghĩ ngợi sao mà tôi gạt nó qua một bên. Không liên quan đến mình!

    “Em có nghe bác Vân và chị Hà nói, nếu các anh có mặt ở đấy thì không chừng hai người họ đã phải lên trảm đao rồi. Nhất là chuyện Lê Ngỗi mưu sát các anh ấy, và Phạm Tất bức cung anh đến chết.”

    Tôi tái mặt, len lén ngó xung quanh, cùng lúc kéo Thy hụp người xuống.

    “Suỵt! Có bao nhiêu người biết về vụ này?”

    “Vụ nào ấy ạ?”

    “Vụ Lê Ngỗi phái sát thủ đi giết hai người họ.”

    “Có ngài Huyện thừa, Bác Vân, chị Hà, cô Ngọc và chú Nghĩa ạ.”

    “Trung Nghĩa ư?”

    “Vâng ạ.”

    Được lắm! Ít người biết thì tốt, bởi đây là thù riêng. Tôi vẫn còn hận tên Lê Ngỗi đến tận xương tuỷ vì vụ này. Nhờ “ơn” hắn mà ba người tôi yêu quý phải cận kề cái chết. Andrey bị lãnh một con dao vào bả vai (hên là nó không có độc), trong khi Nick và Thy phải chạy bán sống bán chết, khiến vết thương trên đùi Nick bị rách toạc. Với tội ác tày trời đó, tịch thu tài sản và đánh roi vẫn còn nhẹ chán!

    Không hiểu sao mỗi lần nghĩ đến Lê Ngỗi, trong đầu tôi lại có nhiều ác ý đến vậy. Nhiều hơn khi nghĩ đến Phạm Tất, người đã trực tiếp hại chết mình. Tôi nghĩ đến việc trừng phạt hắn, tra tấn hắn thật dã man trước khi đoạt mạng hắn…

    “Anh Duy An!”

    “A! Xin lỗi. Em nói gì thế?”

    “Còn vụ anh bị tra tấn trong ngục, gần như ai ai cũng biết. Tuy vậy, ngài Hành khiển ra lệnh, bắt buộc phải có sự hiện diện của người bị hại mới được lập hồ sơ cáo trạng.”

    “Ồ! Thì ra là thế!”

    Tôi chống tay lên bàn và xoa cằm, cảm thấy nhồn nhột từ mấy sợi râu lún phún. Chuyện này thật đáng suy ngẫm. Bản thân tôi nửa muốn tên đó trả giá, nửa muốn tha chết cho hắn. Phạm Tất là quan tham, nhưng ít ra hắn còn có chút lương tâm. Tên Lê Ngỗi mới là cái bản tính xấu xa từ trong trứng, cư xử cạn tàu rào máng với thế nhân. Không tài nào cứu vãn được.

    Thy còn kể thêm rằng tang vật con dao cầu vồng của Nick đã bị Hành khiển thu giữ, nghe đồn là theo mệnh lệnh trực tiếp từ cấp trên, và chỉ khi nào gặp lại chủ nhân mới được trao trả tận tay. Có tin đồn khác thì lại nói, vì cán dao khắc hình rồng, là khi quân phạm thượng nên chính nhà vua mới là người tịch thu nó, khổ chủ đừng mong tìm lại.

    Nghe xong, tôi không biết nên khóc hay nên cười. Tội anh bạn Nick, bị chính hoàng thượng trấn lột…

    Thế là tôi bỏ nó vào danh sách những việc cần hỏi khi gặp Lê Tư Thành.

    Đúng rồi! Còn ông chú Trịnh Viêm thì sao? Tôi vẫn muốn gặp lại ông ta để cảm ơn về thanh bảo kiếm này. Huyện thừa đã vì tôi mà đối đầu Lê Ngỗi, rồi uống chén thuốc độc đến thập tử nhất sinh. Chí ít điều kẻ như tôi cần làm là nhớ về người đã giúp đỡ mình.

    “Ngài ấy sức khoẻ tốt rồi anh ạ.”

    “Vậy thì nhờ hai người gửi lời hỏi thăm của anh tới ông ấy.”

    Huỳnh Thy ngước đôi mắt to lên nhìn tôi.

    “Vậy là… anh hết giận ngài ấy rồi ạ?”

    Tôi bật cười, “Anh có giận gì đâu. Anh cảm ơn người ta còn không hết đây nè.”

    “Ngài ấy sợ anh còn giận chuyện danh tính bị lộ ra ngoài nên cứ áy náy mãi,” Thy nghiêm trang nói.

    “À, chuyện đó hả?” Chuyện đó thì tôi có cay cú thiệt.

    “Vâng ạ.”

    “Nó là ngoài ý muốn thôi. Em nói với Trịnh Viêm, Đặng Duy An sẽ mãi là Đặng Duy An.”

    Tôi vừa nói xong là Thy mở miệng ngáp một cú thật dài. Đã khuya lơ khuya lắc, chắc là con bé cũng mệt rồi.

    “Thôi, em đi ngủ đi! Anh làm vài chuyện chút rồi sẽ ngủ.”

    “Vâng ạ.”

    “Chúc em ngủ ngon.”

    ----------​

    Đợi Thy đã đi vào buồng trong, tôi ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài nhà tắm lộ thiên. Trời khuya tối đến nỗi mắt tôi quáng chẳng khác gì mấy con gà, chỉ biết sờ soạng lần mò theo cảm tính. Sống ở đây một thời gian, đáng lẽ ra tôi phải quen với vụ công cán giữa trời tối mù mù. Nhưng không! Tôi vẫn cứ thấy sờ sợ thế nào. Sợ cái gì, tôi cũng không rõ. Bóng đêm? Côn trùng? Ma quỷ?

    Túm cái quần lại là tôi ghét đi tiểu đêm.

    Loạt xoạt!

    Tim nhảy tót lên cuống họng, tôi mấp máy, “Ai… ai đó?”

    Loạt xoạt! Vù!

    Một cơn gió thoảng qua, làm da gà da vịt tôi nổi lên từng mảng khắp người. Không ai trả lời, nghĩa là chẳng có ai cả (ít ra là người sống)! Nếu cứ như vầy hoài thì chắc tôi sẽ chết vì đau tim trước khi làm được trò trống gì ở đây mất!

    Sau vụ mộng du hôm qua, cái mà Tạc Tổ gọi là bị “ma dắt”, tôi càng sợ quéo cả người. Andrey thì nói tôi bị ám ảnh đến hoang tưởng, là do ban ngày suy nghĩ quá nhiều nên ban đêm mới mơ về nó.

    Bác Cả và Nick vẫn chưa biết chuyện này. Có lẽ tôi nên tham vấn hai người họ. Bác Cả lớn tuổi nên am hiểu về tâm linh, còn Nick có khả năng ngoại cảm. Chẳng phải thằng bạn tôi đã liên tục cảnh báo Andrey về thế lực siêu nhiên quanh đây?

    Tự nhiên nhớ đến nó làm tôi mém trượt chân và vồ ếch trên bậc thềm. Ngón chân va vào cạnh cửa.

    “Oái! Ui da!”

    Hic! Tính tôi vốn nhát mà toàn gặp mấy chuyện không dành cho người yếu bóng vía. Trí tưởng tượng phong phú càng không giúp được gì. Tôi ghen tị với hai thằng bạn quá, nhất là Nick. Cậu ta hẳn là có thần kinh thép, thường xuyên đối diện người âm mà không thèm chớp mắt lấy một cái.

    Không được! Rùng mình, tôi kéo lại lưng quần và nhắm chặt mắt. Không được nghĩ nữa! Đã vào nhà rồi mà! Trong nhà có thờ Phật, sẽ không ai dám đi theo mình đâu!

    Cạch!

    “An!”

    “Áaaa! Maaaaaaa…”

    ----------​

    Cốp!

    “Ui da!”

    “Cái thằng nhóc này, khe khẽ cái mồm thôi! Là ta đây! Ma cỏ nào ở đấy hử?”

    “Cháu xin lỗi bác,” tôi ôm đầu, cười gượng gạo, “chỉ là dạo này cháu thường mơ đến người đã khuất nên tâm thần không được vững cho lắm. Mà bác có sao không ạ?”

    Dạo này bác Cả bị mất ngủ hay sao mà hay thức dậy vào nửa đêm, khiến quần thâm mắt ngày càng đậm. Da dẻ bác cũng không còn hồng hào như trước. Những sợi tóc bạc dài xoã ra rối tung.

    “Cháu lo cho bản thân trước đi. Sao còn chưa ngủ?”

    “Dạ vâng, cháu sẽ đi ngủ ngay. Cơ mà, bác ơi…”

    Có nên hỏi bây giờ không ta?

    “Có chuyện gì thế?”

    Tôi tóm tắt lại giấc mơ hôm qua (đương nhiên là giấu nhẹm vụ Andrey trốn ra ngoài), cẩn thận quan sát nét mặt của bác Cả. Nghe xong, bác thở phì ra và lắc đầu. Tôi không thể nào đoán được bác đang nghĩ gì.

    “Được rồi. Ta biết mình phải làm gì.”

    “Cháu cảm ơn bác ạ.” Tôi xém chút đã ôm chầm lấy bác, nhưng kiềm lại kịp. Đơn giản thế! Đúng là mấy chuyện này cần người lớn giải quyết là xong ngay. “À, còn một chuyện nữa! Ngày mai, thằng Rây nó ra ngoài phụ việc cho các ngự y. Dạo này Rây tâm tính thất thường, cháu sợ thằng nhỏ không biết tiết chế, cư xử thiếu chuẩn mực trước các vị ấy. Hôm nay cháu muốn đi theo giám sát mà nó nhất quyết không cho. Bác nói một tiếng với nó được không ạ?”

    Bác Cả lập tức đồng ý trước đề nghị của tôi, thậm chí còn nói một câu mà tôi khoái tỉ.

    “Được rồi. Cháu phải trông chừng Rây cho bác. Ta không biết các cháu trước đây thế nào, nhưng thân là em thì Rây kính cháu mới phải đạo.”

    Đúng! Quá đúng! Trước mặt bác Cả, thằng hậu bối Andrey tốt nhất nên kính trọng tôi đi!

    “Thôi, cháu mau ngủ đi!”

    “Dạ vâng!”

    ----------​

    Đợi bác Cả đã đi khỏi, tôi lại nhớn nha nhớn nhác bỏ ra gian chính, định lấy nhang thắp cho bàn thờ trước khi đi ngủ. Đứng trước chư vị, tôi như được trút bầu tâm sự. Những nỗi niềm mà tôi không dám thổ lộ với bất cứ ai. Thổ lộ nghĩa là yếu đuối, là gánh nặng, mà trong tình hình này, không ai muốn thấy tôi như vậy cả.

    Dạo gần đây, nhiều sự kiện nối tiếp nhau làm tôi cảm thấy vô cùng mệt mỏi, cả về thể chất lẫn tinh thần. Không như Andrey và Nick (và cả Tạc Tổ nữa), tôi gần như bị mất phương hướng. Như cái phao đang trôi lềnh bềnh giữa biển lớn, lạc lõng và vô định.

    Thà quay về khoản thời gian đơn giản của học sinh, đối phó với mấy thầy cô khó tính, với lũ đầu gấu, với mớ bài tập về nhà chất đống còn sung sướng hơn rất nhiều.

    Tôi thở hắt ra.

    Thôi, hoài niệm mãi chỉ gây ra đau khổ và nuối tiếc, để rồi tôi càng căm ghét thực tại phũ phàng. Tôi phải tập chấp nhận nó mà không nên phán xét gì. Cứ xem như dịch bệnh là một điều hiển nhiên thôi. Một cái ổ gà trên con đường đời. Ta thấy, ta vấp, ta đứng dậy và đi tiếp.

    Tay chắp trước ngực, tôi lẩm bẩm.

    Con cần một thân thể khoẻ mạnh, khói nhang bay lên chầm chậm.

    Con cần một trí tuệ sáng suốt, khói mang theo hương trầm và thảo mộc.

    Con cần một ý chí kiên định, khói uốn lượn thành hình như cành mai trước nhà.

    Và con cũng cần…

    “An!” Tạc Tổ từ đâu ra khẽ kêu lên, làm tôi xém chút nhảy dựng. “Bọn tôi có chuyện muốn nói với cậu.”

    ----------​

    “Bọn tôi” ở đây là cậu và chị Phạm Bảo Hà, người mà tôi chưa có dịp nói chuyện trực tiếp. Theo tôi biết thì chị là họ hàng bên ngoại của Tạc Tổ. Ấn tượng duy nhất về chị là món cháo gà ngon gấp chục lần món cháo cá của Andrey. Trong ánh đèn dầu leo lét, chị đang ngồi trên cái ghế gỗ đặt cạnh cái bàn con sát giường, tay phe phẩy một tờ giấy. Mái tóc dài được búi vội lên và ghim bằng cái lược gỗ. Nhác thấy hai đứa nhóc, chị liền thẳng người và làm động tác như hối thúc. Cũng phải thôi, đã gần quá canh ba rồi mà.

    Gian phòng ngủ của Tạc Tổ nhỏ xíu nên tôi không có chỗ ngồi, loay hoay một lúc đành phải đặt mông xuống giường.

    “Hai người vẫn chưa ngủ à?”

    Tạc Tổ lắc đầu, khoé miệng khẽ nhếch, “Bọn tôi đang đợi cậu.”

    “Đợi tôi á?”

    “Duy An!” Chị Bảo Hà cắt ngang, cặp mắt sáng quắc không hề có dấu hiệu mệt mỏi. “Em có biết vì sao chị đến đây không?”

    “Thì… hai người đến thăm tụi em, không phải sao?”

    “Em chỉ nói đúng một phần thôi,” chị cẩn thận đưa tờ giấy trên tay cho tôi, “Chị đến đây để trao cho em bức thư này.”

    Trên lá thư, tôi đọc được chữ…

    “Trịnh? Trịnh Viêm?”

    Chị ta nghiêm nghị gật đầu.

    Trịnh Viêm sao lại viết thư cho tôi? Có chuyện gì quan trọng ư? Ông ta có sao không?

    Tâm trạng nhộn nhạo, tôi nhanh nhẹn mở thư, xong lại chưng hửng. Bên trong tờ giấy gập đôi là nét chữ Nôm gà bới của ông quan huyện thừa. Dạo gần đây vì tiếp xúc nhiều kiểu chữ, nét bút của Trịnh Viêm bị tôi liệt vào hàng xấu tệ hại. Hết nét bị thiếu, nét bị thừa, đến nét nối chữ ngoằn ngoèo, như thể ông lười nhấc bút lên.

    “Tạc Tổ à,” tôi bày ra bộ mặt đáng thương, “cậu giúp tôi với!”

    Hiển nhiên kẻ hay chữ là người thực hiện trọng trách cao cả. Tạc Tổ híp mắt thành hai đường chỉ, khuôn mặt dúm dó dí sát rạt vào mảnh giấy. Tội nghiệp cậu bạn. Bữa nào tôi phải hỏi nhờ Andrey làm ra cặp kính cận cho cậu mới được.

    “Trịnh huyện thừa nói, ông ta khoẻ lắm, đã trở lại công việc. Chức quan tri huyện đã có người khác được bổ nhiệm. Ông hỏi thăm sức khoẻ của mọi người…”

    Hừm… Vậy là phải hồi đáp ngay.

    “Hì hì,” lại mặt dày quay qua Tạc Tổ, “vậy là tôi phải nhờ vả cậu nữa rồi.”

    Người thư ký riêng của tôi chỉ biết thở dài ngao ngán. Đọc tới đoạn sau, cậu bạn bỗng run lên. Bàn tay run lẩy bẩy nắm chặt lấy lá thư. Cặp mắt mở to di chuyển lia lịa, mũi như ngừng thở, quai hàm đay nghiến như thể cậu muốn in hằn từng con chữ vào trong đầu.

    “Không! Không thể nào…”

    “Có chuyện gì sao?”

    “Ông ta viết,” Tạc Tổ không đọc nữa mà quay hẳn qua tôi, “đã tìm được một manh mối về vụ án ở Lệ Chi Viên. Cậu phải tìm một người tên Phùng Thán, người mà ông đã quen biết thời còn là binh lính ở Đông Kinh. Phùng Thán là người nằm trong đội truy bắt thân nhân của ngài Đại hành khiển. Ông ta kể rằng, vào bốn ngày trước khi thi hành án…”

    “Tạc Tổ,” chị Bảo Hà thốt lên, “em không sao chứ?”

    Ngồi bên cạnh, tôi đỡ và khoác lấy vai cậu. Cậu bạn tôi có biểu hiện của người vừa nghe tin dữ.

    “Ông ta thề đã tìm thấy người vợ lẽ, và đã giúp bà ấy chạy khỏi kinh thành... Ông ta tin, rằng đây là một vụ án oan sai!”

    “Đúng vậy!” Tôi nói luôn, cái miệng nhanh hơn cái đầu. “Đây là một vụ án oan!”

    May là Tạc Tổ không để ý tôi bị hố. Không may là chị Bảo Hà đã nhìn thấu lời nói kia.

    “Phùng Thán hiện là đội trưởng đội cấm vệ binh ở cửa Nam hoàng thành. Muốn gặp quả là không dễ dàng.” Không hiểu sao tôi lại nhớ đến lời của chị Gia Hân. “Tuy nhiên, Trịnh huyện thừa đã viết một bức thư thông báo cho ông ấy. Chỉ là, nếu muốn chứng minh thân phận, cậu cần mang theo một vật…”

    “Vật gì?”

    Một vật hình trụ, dài tầm hai gang tay, được gói trong miếng vải màu đen. Chị Bảo Hà trân trọng trao nó cho tôi.

    “Đây là con dao của ngài ấy, là món quà từ chính ngài Thượng thư Lễ bộ. An à, Huyện thừa đã phó thác con dao này cho em. Mong em hãy luôn giữ nó bên mình. Ngài ấy dặn, nếu cần thì cứ lấy ra dùng.”

    Trời ơi, quý hoá quá! Vầy sao tôi dám xài? Ông ta hết tặng kiếm tốt tới tặng dao quý. Tặng cho tôi xong Trịnh Viêm lấy gì để hành nghề?

    Con dao có thiết kế đơn giản và nhỏ gọn, thích hợp để giấu trong quần áo. Ở đầu chui có gắn một viên ngọc nhỏ, được mạ vàng một phần và khắc hình hoa mai. Phần cuối cán gỗ có khắc thêm hình ngọn lửa và một chữ Trịnh [鄭]. Về độ sắc bén thì khỏi bàn cãi. Hai mặt lưỡi dao được mài giũa kĩ càng, sáng choé dưới ngọn đèn mờ. Cầm nó trên tay, tôi có thể cảm nhận cái “thần khí” của binh khí này, dù nó không chính thức thuộc về mình. Khác với thanh kiếm kia, con dao này mang theo quyền lực và một phần tình cảm của người tặng đối với người nhận. Ông Thượng thư kia chắc quý Trịnh Viêm lắm.

    Giờ Trịnh Viêm giao nó cho tôi, chắc là ông cũng quý tôi lắm! Cảm tưởng nó giống như… quà cưới của bố vợ cho con rể (Mà khoan, Trịnh Viêm bao nhiêu tuổi nhỉ? Ba mươi? Bốn mươi? Thời xưa cỡ đó có được gọi bằng cụ chưa?)

    Bên trong sướng rơn nhưng bên ngoài tôi phải làm giá.

    “Cái này… quý như vậy, chắc em không dám dùng bừa bãi đâu.”

    “Nếu gặp Phùng Thán,” Tạc Tổ lúc này đã bình tĩnh hơn, nhưng giọng nói có chút khàn, “chúng ta có thể tìm ra những người có liên quan đến vụ án?”

    “Có lẽ thế.” Chắc chắn thế!

    Manh mối của Trịnh Viêm đúng là vô giá. Đây chính là một bước tiến quan trọng trọng việc giải mã vụ án Lệ Chi Viên!

    Trong thâm tâm tôi mừng như mở hội, ruột gan nở ra từng khúc. Có người ngoài ở đây, tôi cố lắm mới không đứng dậy hú hét và nhảy tưng tưng như thằng dở hơi.

    “Vậy… khi nào chúng ta nên đi?”

    “Tôi không biết.”

    Chuyện này tôi cần thời gian để bàn bạc với hai thằng bạn, tuyệt đối không được hành động sơ suất. Ông ta nằm trong đội truy bắt, nghĩa là có thể dính líu tới các thành phần muốn tận diệt gia tộc họ Nguyễn, hoặc ít nhất là làm theo lệnh của họ. Bọn tôi còn chưa biết Đội trưởng Phùng Thán là người thế nào, đã và đang theo phe ai, có quan hệ gì với những thế lực trong triều. Rồi khi gặp tôi có nên tiết lộ thân phận, hay là tuỳ cơ ứng biến?

    Ông ta giúp vợ của Nguyễn Trãi rời khỏi kinh thành, nghĩa là có khả năng đã biết bà ấy đi đâu. Từ đó, tôi sẽ truy ra tung tích của bà và con trai Anh Vũ.

    A! Vậy là tôi có cơ hội tìm người rồi!

    Ngẩng đầu lên, tim tôi muốn ngừng đập trước ánh mắt hiểu chuyện của chị Bảo Hà. Điều cuối cùng tôi cần là một người nữa tin cái lời đồn nhảm nhí kia.

    “Ủa, ngộ ha!” Tôi kêu lên, “Tự dưng Trịnh Viêm nhắc đến Nguyễn Trãi làm gì? Có liên quan gì đến tôi đâu? Trong án lần trước, chẳng phải vương gia Lê Hạo đã khẳng định tôi không phải con trai của ông ấy?”

    Tạc Tổ tằng hắng. Chị Bảo Hà nhìn đi chỗ khác.

    “À! Mà cái cậu này nữa. Sao lại quan tâm đến thế?” Tôi nhìn người bên cạnh, cười cười. “Bộ… cậu là con trai Nguyễn Trãi à?”

    Tạc Tổ há hốc, mặt mày xanh lét. Cả người cậu cứng đờ như pho tượng.

    Ha ha ha… Trêu cậu chàng tí xíu thôi mà Tạc Tổ nghĩ tôi nói thật kìa. Người hiền lành và tốt bụng như Tạc Tổ quan tâm tới công lý, muốn giải oan cho Nguyễn Trãi là điều hiển nhiên.

    “Tôi… Thật ra, tôi…”

    “Hửm?”

    “Duy An, thật ra, cậu và tôi…”

    Thấy cậu bạn lựa lời khổ sở quá nên tôi nói nhanh luôn.

    “À! Tôi hiểu rồi! Cậu và tôi đều là những người hiệp nghĩa, luôn đấu tranh cho sự công bằng. Vì thế Trịnh Viêm mới nhờ đến sự giúp đỡ của chúng ta.”

    Tạc Tổ thở hắt ra, khuôn mặt vấn vương chút gì đó mâu thuẫn. Cậu lại nhìn tôi bằng ánh mắt đó, hệt như hồi ở huyện Gia Định. Ánh mắt buồn rười rượi, thấm đẫm nỗi niềm tâm sự. Đêm khuya thanh vắng, dưới ngọn đèn vàng, bóng hình gầy gò của chàng thư sinh đang khom lưng cúi đầu hiện lên mờ mờ trên vách tường. Trông cậu tủi thân đến tội, làm tôi thấy không nỡ. Dù không hiểu vì sao cậu thay đổi tâm trạng xoành xoạch, tôi vẫn không muốn thấy cậu buồn.

    “Thôi mà! Đùa tí thôi mà! Xin lỗi nha!”

    Đáp trả tôi là sự im lặng.

    “Đừng có để bụng. Là tôi lo cho cậu thôi. Người như cậu, tốt nhất đừng nên vướng vào mấy vụ này… Biết nhiều quá chỉ rước thêm đau khổ vào thôi.”

    Tạc Tổ nghe xong càng sụm người, lún sâu vào bóng tối. Lần này cậu tránh mặt tôi hoàn toàn.

    “Tôi mệt rồi. Mọi người cũng mau nghỉ ngơi đi.”

    Nhận ra lời đuổi khéo, tôi thì thầm xin lỗi thêm lần nữa, siết nhẹ vai cậu rồi, gật đầu chào chị Bảo Hà rồi bước vội ra khỏi phòng.

    Đi được vài bước, tôi bỗng dừng lại và lắng tai nghe tiếng động lạ. Đứng giữa gian thờ, bóng tôi che phủ ánh trăng vàng đang hắt vào từ ngoài cửa sổ. Tôi nhắm mắt, tay phải nắm cán dao, đặt viên ngọc lên ngực.

    Hức!

    Ồ! Thì ra là tiếng ai đó.

    Ai đó… đang nức nở trong đêm?
     
  9. 109
    2,704
    148
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng
    Cây bút triển vọng

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 57
    LỰA CHỌN


    Suốt đêm tôi không ngủ được. Tiếng nấc nghẹn kia thật là ám ảnh! Tôi là một thằng hèn, đã lặng lẽ quay đầu và bỏ đi một mạch. Một lần nữa, tôi đã không đủ can đảm đối diện với sự thật. Sự thật rằng có ai đó trong nhà đang phải chịu nhiều uất ức. Họ phải mượn bóng đêm để che giấu sự đau khổ. Họ trút bầu tâm sự vào hư vô bằng những tiếng nức nở buồn đến não ruột.

    Nó làm tôi nhớ đến cái đêm Andrey đã khóc cạn nước mắt trong đơn độc. Đến giờ tôi vẫn chưa dám hỏi cậu vì sao.

    Mời đọc tiếp Chương 57
    Chẳng lẽ lần này cũng… Người tôi lạnh đi. Không!

    Gió thổi rào rạt qua tán cây, làm tôi bất giác rùng mình, đưa bình rượu lên môi. Ngồi vắt vẻo trên cành cổ thụ ngoài đầu ngõ, bàn tay tôi bao lấy vầng trăng sáng, lấp đầy mảnh còn khuyết. Giá như tôi có thể lấp đầy khoảng trống trong lòng họ dễ dàng thế này.

    Vừa nằm dài ra đó, tâm trí tôi vừa nghĩ vẩn nghĩ vơ. Bao nhiêu ý nghĩ trộn lẫn vào nhau, chồng chất lên nhau, rối tung rối mù. Tà áo giao lĩnh xám nhấp nhô theo từng nhịp chân rung. Tiếng ve sầu râm ran sát bên tai, như một bản nhạc buồn đêm hè nhẹ dìu tôi vào cơn mê say đắm.

    Trăng hôm nay đẹp quá! Trăng không to, không tròn, cũng không sáng rực như rằm tháng tám. Trăng sáng một màu vàng nhàn nhạt, pha với chút sắc nâu…

    “Vàng, nâu, đỏ,
    Tô thêm màu đen,
    Chấm thêm màu trắng.
    Đen hay trắng, sao tôi không thể chọn cả hai?
    Họ hỏi tôi đang làm gì?
    Trong ngày nắng
    Hay ngày mưa
    Nhưng họ không hỏi tôi như thế nào?
    Đằng sau khoảng cách giữa họ và tôi,
    Phía trên là khoảng cách giữa trăng và tôi;
    Và phía dưới là khoảng cách giữa tôi và trăng.
    Đều là sự phản chiếu.
    Ừ thì, đều là một sự phản chiếu
    Là quyền lựa chọn của chúng tôi thôi!”[1]

    Đã bao lần tôi tự hỏi, liệu bản thân có ích kỉ quá không? Có quá phụ thuộc vào người khác không? Tôi yêu cầu sự thấu hiểu và tình cảm từ những người mình yêu thương, nhưng lại quên đáp trả lại chúng một cách xứng đáng. Thứ tình cảm một chiều này thật là sai trái và tội lỗi. Tôi không thể an ủi khi họ buồn, chia sẻ khi họ cô đơn, cảm thông khi họ gặp khó khăn. Thậm chí, tôi còn đố kỵ với họ, lừa dối họ, nghĩ xấu về họ.

    Andrey là một ví dụ điển hình.

    Một thời gian dài, trong cái tình anh em thân ái thì tôi còn âm thầm mang theo lòng ganh ghét với cậu. Chuyện là từ hồi ba mẹ nhận nuôi thằng Andrey, họ mới bắt đầu chú ý tới thằng con thừa thãi này (người mà mẹ hay nói đùa là nhặt từ bãi rác về). Tuy không nói ra, nhưng tôi biết mình bị hai người liên tục so sánh với Andrey. Đứa thì giỏi giang, đứa thì vô tích sự. Trước đó, ba tôi đã khoái cái sự thông minh nhạy bén kia, còn mẹ tôi thì thương cái tính chịu thương chịu khó của thằng nhỏ. Từ lúc Andrey về nhà, ba chuyển luôn vị trí công tác trong Cục, chỉ làm ở các bang lân cận, còn mẹ ngừng đi dự các buổi hội thảo và giảng dạy ở trường đại học ngoài nước.

    Ở trường, Andrey có tất cả. Đẹp trai, thông minh, quyền lực, hoà đồng. Bọn tôi chơi riêng hai nhóm, chỉ đi chung khi có Nick. Ngay cả sau chia tay, Nick mới chỉ ra, rằng bạn gái tôi một thời gian dài hẹn hò cũng chỉ để tiếp cận Andrey (may là thằng mọt hoàn toàn không có hứng thú).

    Điều tồi tệ nhất là Andrey không làm gì sai cả. Andrey ngây thơ không hề biết những điều này. Nếu biết, chắc chắn cậu sẽ cười vô mặt tôi, nói tôi làm quá lên. Cậu vẫn vô tư giúp đỡ tôi, lo lắng cho tôi từng li từng tí, như một người bạn thân, một người anh em thực thụ. Trước mặt bọn tôi, cậu sẽ trưng ra vẻ trưởng thành và mạnh mẽ, bao nhiêu muộn phiền khổ đau chôn kín trong tâm tư. Nếu Andrey chưa thể trải lòng với tôi về bất cứ điều gì, thì tôi vẫn sẽ là một người bạn, người anh trai tồi tệ.

    Rồi tôi nghĩ về Tạc Tổ và vẻ mặt thất thần của cậu khi nãy. Tôi nghĩ về Nick và cuộc trò chuyện ở phường Tả Nhất. Tôi nghĩ về bác Cả và thái độ lo lắng của bác khi cả bọn lang thang bên ngoài vào thời dịch bệnh…

    Chết thật! Tôi ngả đầu vào ra sau, thở hắt ra. Đáng lẽ mình không nên uống rượu.

    “Andrey, xin lỗi mày. Nick, tao xin lỗi mày. Tạc Tổ, tôi xin lỗi cậu. Bác Cả ơi, cháu xin lỗi bác…”

    ----------​

    Thời gian thấm thoát trôi. Đã là bao lâu rồi nhỉ? Trời đã sáng rồi ư?

    “Chết tiệt! Tao biết ngay mà!”

    “Ừm hửm?” Tôi ngóc cổ ngó xuống. “Mày đấy à?”

    Ngạc nhiên thay, Nick đã tìm ra tôi trước mọi người trong nhà, đồng thời cứu cái mông tôi khỏi một trận đòn mà chắc là thê thảm. Cái giá khác phải trả là trận mắng nhiếc từ một thằng Nick quạu quọ, vì tôi đã uống sạch bình rượu hoa của cậu.

    “Pax? Hay Perry?”

    “Perry.” Perry là nhân cách say xỉn mà tụi bạn đặt cho tôi.

    Nick buông thêm một tràng chửi rủa, dang tay đỡ lấy cái thân xác nặng trịch đang rụng xuống từ cành cổ thụ. Cậu liếc bình hồ lô rỗng tuếch và bắt đầu tràng giáo huấn. Nào là không nên lén lút ra ngoài vào nửa đêm, không được vừa trèo cây cao vừa uống rượu.

    “Đồ ngốc! Tại sao lại ra nông nỗi này?”

    “Ngủ không được,” tôi lè nhè, “tao đói bụng.”

    “Có chuyện gì à?”

    “Thì tao ngủ không… à, tại đêm qua thức quá giờ nên định thức tới sáng luôn.”

    “Ờ,” Nick nheo mắt, nhìn xuống con dao treo lủng lẳng trên thắt lưng tôi.

    “Mày có biết, đêm qua trong nhà có người khóc? Mày có khóc không? Andrey thì sao? Tạc Tổ nữa?”

    Nick không nói gì. Thế là tôi nói như xả van.

    “Tao biết đó là giọng nam. Nó nhỏ xíu à, nhưng rõ ràng là tiếng khóc. Tao chỉ không biết là người nào. Tao sợ. Tao đã quá hèn nhát nên không muốn tìm ra nguyên do. Nó làm tao nhớ tới đêm hôm đó. Đêm đầu tiên ở Đông Kinh. Mày có biết, đêm hôm đó Andrey khóc nhiều lắm. Cậu ta cầm kiếm, tựa đầu vào tường, hét lên và đấm vào nó. Rồi cậu ta xoay người lại, ngồi sụm xuống và khóc nấc. Cậu ta khóc lâu lắm, nhưng tao không dám lộ mặt. Tao không muốn thấy cậu ấy buồn. Tao không muốn nghe cậu ấy khóc. Tao hối hận lắm, Nick à. Tao hối lắm!”

    Perry là một chàng trai đa sầu đa cảm. Tôi lấy tay vuốt mặt, chặn giọt nước mắt đang chực trào.

    “Tao không xứng làm bạn với cậu ấy. Tao không xứng đáng với tụi mày. Tao xin lỗi…”

    Nick đột ngột dừng lại. Tôi quay phắt ra sau thì bắt gặp khuôn mặt trầm tư của cậu. Bàn tay đang vò vạt áo nay bấu chặt lấy miếng vải ố.

    “Tao đã nói gì về việc vô duyên vô cớ xin lỗi người khác, hử? Khụ! Khụ!” Nick che miệng ho. Cậu tằng hắng vài lần. Tiếng nói trầm đục phát ra từ cổ họng khô khốc. “Nếu mày nói vậy, thì tao cũng là một thằng bạn khốn nạn, và Andrey cũng vậy. Chúng ta đều mắc sai lầm, và cái quan trọng là chúng ta vẫn chấp nhận nó và gắn bó cùng nhau. Có thời điểm mày sẽ tự đánh dấu hỏi về giá trị bản thân bằng những lỗi lầm kia, thì hãy nhớ lấy lý do tại sao chúng ta là bạn ngay từ đầu.”

    Tên Perry ngớ ra. Cái đầu lười suy nghĩ nên chỉ gật gù lấy lệ.

    “Tao ít khi chọn bạn mà chơi, nhưng tao luôn tin vào lựa chọn của mình. Perry, không, Pax, mày là hơn tất cả những gì tao mong đợi. Đừng có bán rẻ bản thân như vậy. Andrey có uẩn khuất gì thì mày hãy kiên nhẫn chờ đợi. Nếu mày thương cậu ta thì cứ cho cậu ta thời gian. Tao hy vọng một ngày nào đó cậu ta sẽ sống thật hơn với chính mình. Tạc Tổ cũng vậy.”

    Cái gì cơ? Tạc Tổ cũng có chuyện giấu tôi ư?

    Sao không ai nói gì với tôi cả? Sao họ không chịu tin tôi?

    “Nhưng nó đau lắm…” Tên Perry lại mếu máo. “Nó đau lắm!”

    “Tao biết chứ!” Nick vươn tay tới, nhưng chợt nhớ bản thân đang mang bệnh nên rụt về. “Đã là tình thương thì phải có niềm đau. Nhưng tao hứa với mày, rằng yêu thương này là xứng đáng.”

    Đã về tới nhà, Nick loay hoay nhét vào tay tôi chén nước đậu đen và lần nữa bỏ xuống bếp. Trước khi đi, cậu có cười với tôi, nụ cười cảm thông của một người đã trải qua quá nhiều chông gai trong cuộc đời. Cậu cười thế thôi, ấy mà sao trông cậu buồn quá!

    Đợi bóng dáng gầy nhom kia lảo đảo biến mất, tôi chỉ biết sụm người xuống ghế, lẩm bẩm như người mất trí:

    Yêu thương này là xứng đáng!
    Yêu thương này là xứng đáng!
    Yêu thương này là xứng đáng…


    ----------​

    Tiễn chị Bảo Hà và em Thy ra về, nói thật là ai nấy trong nhà cũng có chút bịn rịn. Riêng tôi chỉ nghĩ đến viễn cảnh sau này được ghé thăm mọi người nên có tươi vui hơn chút đỉnh. Bọn tôi hứa hẹn nhiều lắm, rằng khi mọi thứ yên ắng hơn sẽ về huyện Gia Định chơi. Về quà đáp lễ, bức thư gửi cho Trịnh Viêm có kèm theo mẩu giấy phát hoạ bằng chì của Nick – hình ảnh ông mặc quan bào và đang trong tư thế giao đấu. Nick sau khi biết tường tận về nguồn gốc con dao dát vàng kia mới chịu lòi bức tranh ra, làu bàu than phiền suốt buổi.

    “Xin hai người hãy giữ sức khoẻ thật tốt!” tôi nói, “Em cảm ơn chị rất nhiều ạ. Còn Thy, nhớ học hành cho thật tốt, sau này anh về sẽ kiểm tra đấy!”

    Chị Bảo Hà ngập ngừng, “An à…”

    “Vâng?”

    “Nhờ em quan tâm đến em ấy thật nhiều. Tạc Tổ là một thằng bé đáng thương. Chị đi xem tướng, thầy nói số của nó là bĩ cực thái lai, cơ duyên với quý nhân lại không nhiều. Nó hiền quá, chịu khổ cũng chẳng thể nói ra. Cho nên em hãy chịu khó lắng nghe em nó giúp chị, được không An?”

    Lắng nghe ư? Lắng nghe thì tôi đây luôn sẵn lòng.

    “Chị hãy yên tâm. Tạc Tổ đối với em rất tốt, em không bao giờ muốn phụ lòng cậu ấy.”

    Nói xong tôi liền ngoái đầu ngó quanh. Tạc Tổ đang ngồi chồm hỗm, cặm cụi lấy thức ăn cho mấy con gà. Bắt gặp ánh mắt tôi, cậu vội vã đứng dậy và quay lưng bỏ đi.

    Hửm? Thái độ ấy là sao?

    Cũng buổi sáng ấy, nhờ bác Cả nói giúp, tôi đã chính thức được đi theo “giám sát” Andrey. Trước mặt bác thì cậu vâng vâng dạ dạ như hay lắm, chứ sau lưng bác thì Andrey tặng ngay cho tôi ngón giữa và một cú lườm sắc lẹm, sắc hơn cả con dao quý của Trịnh Viêm. Tôi đáp trả bằng nụ cười tự mãn đểu trá.

    “Khai mau!” Vừa ra khỏi nhà, Andrey đã khoá cổ tôi, gầm gừ. “Mày đi theo tao để làm gì?”

    “Thì mày biết rồi đó,” tôi cười hì hì, “tao đi theo để giám sát mày, không cho mày làm bậy.”

    “Ai làm bậy thì chưa biết chắc nha! Tao biết đêm qua mày không ngủ, trốn ra khỏi nhà đi uống rượu.”

    Ớ, sao thằng này biết được… Chắc là Nick lại mách lẻo nữa rồi.

    “Ờ, thì tao không ngủ được. Nhưng ít ra tao ngủ nhiều hơn mày. Để tao đoán nha, đêm qua mày chợp mắt không quá ba tiếng, đúng chứ?”

    Cái này Nick có nói với tôi thật. Mà không nói tôi cũng biết. Hai tròng mắt của cậu đỏ quạch thế kia. Bị bắt thóp nên Andrey buông tay và trưng ra bộ mặt vô tội. Cậu tằng hắng, điệu bộ không thừa nhận cũng không phủ nhận.

    “Hình như Tạc Tổ cũng không ngủ. Sáng nay tao thấy bộ dạng cậu ta như chết rồi. Mắt hơi đỏ, bọng mắt to như hai cái giỏ đi chợ. Chậc!”

    Bọn tôi tán dóc cho đến địa điểm gặp mặt hai ngự y ở đầu đình làng. Người giữ đình đang tiếp chuyện với bọn họ, và khi thấy hai đứa tôi lững thững đi tới thì ông cụ liền niềm nở hỏi han. Xung quanh có vài người đang phụ quét dọn sân đình và sửa soạn hoa quả. Làng sắp có lễ hội gì ư?

    “Lạy cậu, Anh Giản,” Duy Nghiêm vội vã vái chào, trong động tác có ba phần e sợ, bảy phần cung kính.

    Andrey nghiêng đầu đáp chào. Anh chàng ngự y trẻ hướng qua tôi, “Hôm nay cậu Đức Bình cũng đến à?”

    “Đúng thế. Tôi muốn giúp đỡ cậu ấy và các vị. Xin phép hai vị cho tôi theo cùng.”

    Y phó Minh Đán đánh giá tôi một lúc rồi mới gật đầu. Trong cái gật đầu có sự miễn cưỡng. Tôi biết ông không nghi ngờ gì ý tốt của tôi, càng không thể từ chối tôi (vì lệnh của vương gia). Có lẽ ông sợ tôi rước bệnh vào người.

    “Ê,” tôi ghé tai Andrey, “mày có nói gì cho họ về đường lây căn bệnh sốt xuất huyết không?”

    “Có nói cũng không ai tin,” Andrey trả lời.

    “Tại sao lại không ai tin? Lê Phong tin mày mà?”

    Andrey khịt mũi rõ to. “Anh chàng Phong có phải người bình thường đâu?”

    “Chứ…” tôi gãi đầu, “ba người chữa bệnh kiểu gì?”

    Hoá ra phương pháp chẩn đoán và chữa bệnh của thái y viện rất có quy củ rạch ròi. Nhờ kết hợp xem xét tài liệu của lương y Đoàn Thành, kinh nghiệm chữa bệnh của y phó Minh Đán, ghi chép gần đây nhất của Andrey và triệu chứng lâm sàng của những bệnh nhân trong làng, bọn họ chia căn bệnh lạ này thành hai loại. Loại sốt xuất huyết thông thường và sốt xuất huyết có sốc. Sốt thường thì chỉ cần năm đến bảy ngày là khỏi. Sốt có sốc có thể gây ra biến chứng nghiêm trọng và tử vong. Tin đáng buồn là với nền y học hiện thời, họ đành phải bó tay với loại sốt cấp tính thứ hai.

    Theo Andrey đã khẳng định, loại bệnh này không có thuốc đặc trị, nên cậu chỉ có thể nhắc nhở bọn họ uống thật nhiều nước và ăn đồ loãng. Trong khi đó, hai ngự y xem xét triệu chứng và thể trạng bệnh nhân rồi kê đơn thuốc làm suy giảm triệu chứng cho phù hợp. Về phần Đông y, thằng Andrey không rành nên không thể giải thích gì thêm. Tuy vậy, mỗi ngày cậu vẫn được học hỏi thêm về các vị thuốc Nam từ hai người kia. Nào là cỏ roi ngựa có tác dụng giải cảm, tiêu độc, thông huyết, chữa được xuất huyết dưới da, hay rễ cỏ tranh giúp làm mát gan, thanh nhiệt, hạ sốt, và trị các bệnh liên quan đến đường tiết niệu.

    Đứng lấp ló ngoài rìa, tôi thấy ba người họ là một đội làm việc rất hiệu quả. Ngự y Minh Đán vừa chữa bệnh vừa giảng giải cho Andrey về các thuật ngữ Đông y, với Duy Nghiêm đứng một bên hướng dẫn người nhà cách chăm sóc cho bệnh nhân.

    Tự dưng tôi cảm thấy mình thật là thừa thãi và vô dụng. Biết vậy không nên đi theo làm gì!

    ----------​

    “Cấp báo!” Duy Nghiêm chạy vù vào gian nhà tiếp khách, rối rít. “Sư phụ ơi, có tin cấp báo!”

    Ngự y Minh Đán đang nghỉ trưa trên ghế, nghe vậy thì lật đật đứng dậy. Theo sau Duy Nghiêm, một người đàn ông to lớn hồng hộc chạy vào, đầu đội sùm sụp chiếc nón chóp.

    “Có chuyện gì thế?”

    “Lạy ngài,” ông quỳ rạp xuống sàn, làm chiếc nón rơi khỏi đầu, “xin ngài hãy cứu lấy con trai tôi!”

    Tới lượt Andrey thốt lên, “Chú Lâm!”

    “Giản à?” Cha của Cao Hùng nhận ngay ra thằng nhóc gia sư.

    “Em ấy có sao không ạ?”

    “Xin mọi người hãy mau theo tôi!”

    Đường tới nhà Cao Hùng chưa bao giờ ngắn đến vậy. Thoáng chốc cả năm người đã vây quanh thằng nhóc đang mê man bất tỉnh. Mới hôm qua thôi, Cao Hùng còn sức chẻ củi và gánh hai thùng nước vôi đặc, vậy mà nay thằng nhỏ đã nằm bẹp dí trên giường. Nghe lời kể của bác Cao Lâm, chiều qua, con trai bác từ khi về tới nhà đã ngã quỵ xuống, cả người run bần bật và nóng ran như lửa đốt. Cậu ta không ăn, không uống, cứ ngủ vùi. Sáng sớm nay, uống xong chén thuốc hạ sốt sắc từ đơn của lão Thiếu thì Cao Hùng không thể gọi dậy được nữa.

    Andrey nghe đến cái tên “Thiếu” kia thì tối sầm mặt, sát khí toả ra bốn phía.

    “Hắn là ai thế?” Tôi hỏi.

    “Một tên đáng chết!” Andrey gầm gừ.

    “Nghiêm, con mau gọi hắn đến đây!” Đọc hết toa thuốc, Y phó Lê Minh Đán ra lệnh cho đệ tử, cùng lúc ngón tay bắt mạch cho Cao Hùng. “Ta cần hỏi hắn vài chuyện!”

    Chẩn đoán xong xuôi, vị ngự y và Andrey xác định Cao Hùng bị sốt xuất huyết. Chưa biết là thuộc loại nào. Cậu ta bị mất đi ý thức vì nhiều lý do (chủ yếu là lao tâm và thiếu chất dinh dưỡng) và bệnh đã đến giai đoạn giữa. Lý do thằng nhóc gắng sức đi làm và giữ được bộ mặt tươi tỉnh đến hôm qua, bọn tôi vẫn không thể nào hiểu được.

    “Tại sao chú lại nghe theo lời lão Thiếu?” Andrey nói bằng cái giọng bất mãn của một người bị phản bội. “Hắn là một kẻ bịp bợm! Một tên… lang băm!”

    “Andrey!” Tôi cảnh báo. Cậu ta nghĩ mình là ai mà dám mắng luôn cả người lớn.

    Cha của Cao Hùng vò đầu, mặt nhăn lại vì khó xử. “Lúc ấy đã canh ba. Ta chỉ biết hắn là thầy lang duy nhất ở cái làng này…”

    “Chú có thể hỏi cháu!” Cậu ta chút nữa đã gào toáng lên, mắt liếc qua thân ảnh gầy nhom nằm liệt giường. “Cháu có thể giúp!”

    “Andrey, đủ rồi!” Tôi lấy thân chặn giữa hai người, dùng hết sức cản thằng bạn đang gần như hoá rồ và đẩy vào góc tường. “Mày quá đáng rồi đó! Chú ấy cũng đang rối lên như mày thôi. Nói cho tao nghe, tại sao lại ghét lão Thiếu đến vậy?”

    “Mày có nhớ cái lão đã đẩy tao mấy hôm trước, không cho tao quan sát thằng bé Kiến?”

    Tôi gật đầu, chỉ nhớ mang máng.

    “Hắn là kẻ đã gây sự với tao ngày hôm qua. Rõ ràng là đố kị với công sức của tao và các vị ngự y, nên đã nhắm vào tao mà buông lời nhục mạ. Hắn không biết cách chữa căn bệnh này nên đã vu nó cho tao, nói rằng tao đã đem nó đến làng. Hắn còn nói xấu Nicholas nữa, nói cậu ta đã dùng ma thuật bùa phép ám hại dân làng Yên Thái. Rõ ràng là cái đồ bài ngoại chết giẫm!”

    Thì ra là thế! Hỏi sao Andrey không nổi đoá lên. Cậu ấy luôn sẵn lòng chiến đấu vì danh dự của cả bọn mà!

    “Khoan,” tôi lờ mờ nhìn ra mấu chốt vấn đề, “hắn không biết đây là bệnh gì mà vẫn dám kê đơn cho Cao Hùng ư?”

    “Thì đó!”

    Giờ thì tôi đã hoàn toàn theo phe của Andrey. Hạng người bất lương như cái lão Thiếu kia cần phải được dạy một bài học.

    Không lâu sau, Duy Nghiêm đã kéo lão Thiếu về cùng. Trông ông ta cũng như bao người bình thường thôi – dáng đứng hơi khòm, ốm tong ốm teo và có hàng râu đen dài. Vừa thấy Andrey ngồi thù lù trong góc nhà, hắn ta lập tức trợn lồi hai con mắt, khoé miệng giật giật. Hàm răng vỗ đen lởm chởm nhe ra như muốn cắn chết thằng nhóc ngoại quốc. Andrey cũng đâu có vừa gì. Cậu toả sát khí ra khắp phòng, mắt gườm toé lửa tên lang băm. Đến lượt hắn nhìn qua tôi thì gai óc phía sau lưng nổi hết lên, nghe được nhịp tim tăng vọt trong lồng ngực.

    “Tư Thiếu, nghe ta hỏi đây!” Ngài ngự y Minh Đán đi thẳng vô vấn đề, “Ta có nghe kể, thể trạng cậu bé này vốn đã gầy yếu, âm thịnh dương suy, nay trong lòng mang nhiều phiền muộn, lại làm việc khổ nhọc quên mình. Cả tuần nay cậu bé không rời làng, thế mà ở đây các triệu chứng rất giống với sốt rét khi đi rừng, rồi kèm theo cả nổi ban đỏ, là huyết tụ ở tứ chi. Ngươi nghĩ xem, đây là cái thứ bệnh gì?”

    “Thưa, thằng bé bị chứng cảm phong hàn mới kèm theo phát ban, là do thời khí không thuận nên mới trúng vào.”

    “Thế ngươi giải thích sao về đơn thuốc này?”

    “Gừng và riềng đều là hai vị thuốc dễ tìm, lại hiệu quả cao. Lúc ấy trời đã khuya, trong nhà họ chỉ còn mấy thứ ấy.”

    “Ừm, ngươi nói cũng có lý.” Lúc này Minh Đán đã gấp đơn thuốc lại, gật gù. “Nhưng nếu chỉ trị hàn thôi thì với nhiệt ngược phải làm thế nào? Chúng ta phải làm cho thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết và giải độc.”

    “Dùng rễ cỏ tranh kèm với mã đề, kim ngân hoa, cúc hoa, trúc diệp là đủ.”

    Ngự y Minh Đán lại gật đầu.

    Ồ! Xem ra ông Tư Thiếu này cũng không phải là lang y hạng bét. Ông ta biết mình đang làm gì.

    “Thiếu, ngươi xem này…” Minh Đán ấn nhẹ vào phần bụng phải của bệnh nhân, chỗ hơi bị trương ra. Suốt khoảng mười lăm phút tiếp theo, ông ta đã kiên nhẫn phổ cập mọi kiến thức về loại bệnh lạ này cho tên lang y kia. “…Ngươi cứ dựa vào đó mà kê đơn thuốc. Đây là một loại sốt rất nguy cấp, thứ mà cậu học trò Anh Giản này gọi tên là sốt xuất huyết.”

    Hắn quay qua bọn tôi, thiếu điều muốn nhổ vào. Andrey trừng mắt lại, nhất quyết không nhân nhượng. Ngồi cạnh cậu mà như ngồi cạnh trái bom chuẩn bị châm ngòi.

    “Hừ! Đường đường là ngự y đương triều, thế mà hai người lại đi tin vào lũ ngoại bang này ư? Hắn là cái thứ mồm mép giảo hoạt, nói hưu nói vượn nên mới...”

    “Còn ông,” tôi không ngờ mình mới là người phát nổ trước, “ông nói vậy mà không thấy hổ thẹn ư?”

    Andrey tiếp lời, vẫn còn giữ lý trí, “Đừng ỷ mình là người duy nhất trong làng biết chữa bệnh rồi muốn… muốn…”

    “Tự tung tự tác,” tôi kết câu, cụng tay với Andrey sau lưng.

    Lão Tư Thiếu phải đấu trên mặt trận không cân sức nên nhanh chóng bị đuối lý. Mất mặt, hắn hừ mũi, trước khi đi về không quên nhắm vào Andrey mà chốt hạ.

    “Chí ít ta không mang thứ bệnh dịch vào làng như chúng mày. Mụ Hoa già cả nên mất hết trí khôn, hoá điên hoá khùng nên mới cho chúng mày ở lại đây…”

    “ÔNG KHÔNG ĐƯỢC XÚC PHẠM BÁC CẢ!!”

    Lần này thì thằng Andrey phát nổ thật. Bao nhiêu kiềm nén nãy giờ dồn vào tiếng hét mang theo nội lực thâm hậu. Thử tưởng tượng tiếng hét làm rung chuyển không gian, lá cây rơi rụng, chim chóc bay tán loạn, và những người khốn khổ đứng bên cạnh bịt tai không kịp. Phải công nhận, lâu lắm rồi tôi mới là nạn nhân của tiếng sư tử rống này.

    Doạ cho lão lang băm sợ vỡ mật và bỏ chạy mất dép, Andrey sụm người xuống đất và lấy hai tay ôm đầu. Bốn người còn lại nhìn nhau trong hoang mang (và kinh sợ). Chú Cao Lâm lặng lẽ bỏ vào gian trong, Duy Nghiêm thì thụt lùi ba bước về sau lưng sư phụ. Ngự y Lê Minh Đán nãy giờ quan sát sự việc thì khẽ thở dài, lắc đầu buồn bã.

    “Anh Giản. Ta nghĩ như thế là đủ rồi. Con mau về nhà đi!”

    Andrey ngước lên, đầu gối run run khuỵu xuống nền đất.

    “Nhưng…”

    “Nghe lời ta, mau về đi! Con không còn tỉnh táo nữa rồi.”

    “Đúng rồi đó ạ.” Tôi gật đầu phụ hoạ. “Con thấy cậu ấy đã làm việc quá sức, nên mới không thể tỉnh táo mà hành sự cho đúng mực. Con xin thay mặt Anh Giản, xin hai vị tha lỗi cho cậu ấy ạ.”

    “Ừm,” Minh Đán là một người nghiêm khắc nhưng cũng rất quan tâm đến cậu bạn. Trong cái giọng nói cứng rắn là đôi mắt tràn đầy sự cảm thông. “Ta sẽ báo cáo với vương gia. Hai đứa con đã hoàn thành nhiệm vụ rất tốt.”

    “Nhưng,” Andrey yếu ớt níu lấy ống tay áo của ông, “thầy ơi…”

    “Vài hôm nữa ta sẽ gặp lại các con.” Ông đặt tay lên đầu Andrey. “Giản, con nên nghe lời ta, đừng nên gắng sức nữa!”

    Bị thầy mình đuổi về, thằng bạn tôi không còn cách nào khác ngoài lồm cồm bò dậy, vái chào và lê bước chân nặng nề ra ngoài. Tôi thu gom đồ đạc rồi cũng hối hả chạy theo. Ấy thế mà cơ duyên nào đã khiến tôi đứng lại trước ngưỡng cửa, xoay người lần cuối vào nhà. Cảnh tượng trước mắt làm tôi toét miệng cười.

    Cao Hùng đã tỉnh.

    ----------​

    “Mày đó, về nhà phải ngủ một giấc đến tối luôn đi!”

    “Lúc nãy ai mượn mày tía lia cái mỏ vậy?”

    “Tao mà không tía lia thì có ngày mày sẽ ngất xỉu như Nick vì kiệt sức cho coi!”

    Andrey không nói gì, vì tôi nói đúng quá mà! Trên đường về, tôi có mua cho cậu hai cây mía ghim và ba cái bánh chuối nướng. Tôi liên tục dặn dò cậu phải giữ gìn sức khoẻ. Giống như Nick đã nói, muốn giúp người thì ta phải giúp mình trước. Xả thân cứu người thì cũng tốt thôi, nhưng theo tôi, đó là phương án ngắn hạn và bất đắc dĩ. Với cái nghề cao cả này, các bác sĩ, y tá, hộ lý và điều dưỡng vẫn nên đặt sức khoẻ bản thân lên hàng đầu. Họ mà ngã bệnh rồi thì lấy ai cứu chữa cho dân chúng?

    “Mà này, Minh Đán là thầy của mày à?”

    “Ừ. Hôm qua tao có kể về xuất thân của mình, và ông ấy nói sẽ sẵn lòng dạy tao về Đông y, với điều kiện tao chia sẻ kiến thức của mình về Tây y. Một cuộc trao đổi có lợi. Tao nghĩ, tao sẽ viết ra tất cả những gì tao biết, và sẽ lựa chọn thật kĩ trước khi chia sẻ. Tao phải đảm bảo nó không làm đảo lộn trật tự thời gian.”

    Tôi phì cười. “Mày có biết là mày đang mâu thuẫn lắm không?”

    Andrey không trả lời, thay vào đó nhai rau ráu thanh mía. Cậu tỉ mẩn dùng răng nạo vỏ mía theo cái kiểu người ta nạo đi tầng tầng lớp lớp vấn đề trước mắt – có chủ đích và kế hoạch. Gặp tôi là tôi cắn luôn cả vỏ.

    Về tới nhà, chưa gì bọn tôi đã nghe một tràng cười ha hả từ ngoài cổng. Andrey và tôi liếc nhau. Bộ nhà mình có khách à?

    “Bọn tôi về rồi đây!”

    Trong gian phòng khách, một anh chàng đang ngồi chễm chệ trên trường kỷ. Từ đằng xa, chiếc áo đối khâm bằng lụa tơ tằm màu lục đã khiến tôi lờ mờ đoán được giai cấp của người này. Ngồi đối diện là Nick, người đang biểu diễn một trò ảo thuật với mấy đồng tiền.

    Vừa thấy bọn tôi, anh ta đã phóng khỏi ghế, môi nhếch thành nụ cười nửa miệng. Chưa gì mà não tôi đã phát tín hiệu cảnh báo dữ dội. Người này toàn thân toát ra một chữ “đểu”. Anh ta làm tôi nhớ đến nhân vật Sở Khanh trong truyện Kiều, người chuyên đi lừa tình các thiếu nữ chốn lầu xanh:

    “Một chàng vừa trạc thanh xuân,
    Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.”

    Anh ta có khuôn mặt thư sinh sáng sủa, làn da rám nắng, mái đầu rẽ ngôi vuốt ngược ra sau. Nhan sắc tầm thường nhưng ánh mắt rất có thần, láo liên không ngừng giữa tôi và Andrey. Hàng ria mép càng làm tăng thêm sự đểu trá kia.

    “A! Thì ra là hai vị bạn hữu của Ninh Khang!” Tiếng nói sang sảng nghe như sấm rền bên tai. “Ta là Đình Quang[2]. Thật là hân hạnh!”

    Sao thằng bạn tôi quen biết nhiều vị công tử thế nhỉ?

    “À! Tôi là Đức Bình, còn cậu này là Anh Giản.”

    “Nhật Minh!” Nick gọi to lên. Cậu chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh mình.

    Anh chàng quay phắt ra sau, cười khà khà, vỗ vai Nick và ngồi vào chỗ đó. Tôi đứng im, chờ mãi mà không thấy anh chàng Nhật Minh nào đi ra.

    Không lẽ… Đình Quang chính là… Lê Nhật Minh?

    “Anh… anh là Nhật Minh ư?”

    “Nhật Minh là huý của ta.” Anh ta tựa người ra sau, mở cây quạt xếp ra quạt phành phạch. “Đình Quang cũng được, mà Nhật Minh cũng ổn. Ta vốn từ lâu đã không chấp nhặt. Chàng hoạ gia này thích gọi ta bằng cái tên Nhật Minh hơn, thì ta cứ để hắn gọi thôi.”

    Dù đã biết anh ta là Nhật Minh, trong lòng tôi vẫn chưa bớt rối ren. Nick toàn kể tốt về Nhật Minh, trong khi tôi toàn thấy mấy cái xấu của anh. Bao nhiêu lời có cánh của cậu đã bị ấn tượng đầu đè cho bẹp dí.

    Nick nói tôi nên tin tưởng lựa chọn của cậu trong các mối quan hệ bạn bè. Nhưng lần này thì tôi không thể rồi. Người này là con quan lớn, thế mà từ đâu cứ bám dính lấy Nick. Tôi sợ cậu sẽ bị Nhật Minh lợi dụng làm chuyện bất lương, hoặc vướng vào thói hư tật xấu như rượu chè, cờ bạc.

    Thấy tôi tần ngần mãi, Andrey kéo tôi qua chiếc ghế đối diện. Nick có bạn mới rồi phớt lờ hai đứa tôi luôn. Cậu đang mải mê dạy cho Nhật Minh mấy chiêu trò ảo thuật cũ xì của mình. Chưa gì mà Nhật Minh đã đòi làm thử ngay. Bọn họ như đang ở một thế giới riêng, người tung kẻ hứng rất ăn ý. Cách họ giao tiếp và thấu hiểu chỉ bằng ngôn ngữ hình thể thật là đáng nể phục.

    Hình ảnh này, sao mà trông quen quá!

    “Họ như là tri kỉ,” tôi bất ngờ nói ra. “Nhất kiến như cố.”

    “Cái gì?”

    “Tao không biết nữa. Nhìn xem! Nick… thật sự rất vui khi anh ta ở đây. Tao nghĩ tụi mình nên đi chỗ khác.”

    Chưa kịp làm gì thì bác Cả và Tạc Tổ đã từ hướng bếp đi ra. Cùng lúc đó, Nhật Minh giật bắn người lên, lật đật bỏ chân xuống sàn và nhảy khỏi ghế.

    “Ta vừa nấu nước vối, các cháu mau uống đi.”

    “Dạ vâng ạ.” Nhật Minh đỡ lấy khay trà từ tay bác. “Thật ngại quá, cháu chỉ có thể uống chén này thôi ạ. Vào giờ Dậu cháu có một buổi thi đấu ở Giảng Võ, thế nên phải đi ngay bây giờ ạ.”

    “Ừ,” bác Cả vui vẻ phẩy tay, “vậy cháu cứ đi đi!”

    Tôi bước lại, “Anh học ở trường võ ư?”

    “Đúng thế. Hôm nào ta với cậu phải tỉ thí một lần.”

    “Đình Quang xin phép được cáo biệt các vị gia chủ.” Quét một vòng, cuối cùng Nhật Minh đậu ánh mắt lên Nick. “Hy Lạp Hoạ Gia, chúc cậu chóng khoẻ. Ta đi đây.”

    Nick gật đầu, cười toe. Nhật Minh lấy tay xoa đầu thằng bạn một cách trìu mến, làm mớ tóc xoăn dày xù lên.

    Đợi tiếng vó ngựa đã đi xa, hai đứa tôi liền hướng về Nick mà đặt dấu chấm hỏi to đùng. Chuyện quái gì vừa xảy ra thế?

    ----------​

    Theo lời của bác Cả, ban nãy lương y Công Định và Nhật Minh đã đến thăm. Nhờ ơn trên, Nick đã hồi phục một cách thần kì, chỉ cần uống thêm ba ngày thuốc nữa là sẽ hoàn toàn khỏi bệnh. Vị cựu ngự y có việc gấp nên đã đi trước, để lại Nhật Minh ngồi tám chuyện với Nick. Đến lượt bác khen Nhật Minh tới tấp, nào là cư xử có lễ giáo, lanh lợi, khiêm nhường, rồi thông tuệ các thuật toán không thua gì thằng Rây. Nói chung là bác rất hài lòng về vị công tử này.

    Tạc Tổ nghe tôi hỏi chuyện thì từ chối bình luận. Cậu có vẻ sợ hãi anh chàng Nhật Minh. Tôi hoàn toàn cảm thông với cậu. Nhật Minh tạm thời không thể nhận được sự tin tưởng từ tôi.

    Với Andrey thì lại càng không.

    “Nicholas! Mày… giao du với lũ người đó ít thôi.”

    Nick khoanh tay. Khuôn mặt cậu không một chút cảm xúc.

    “Mày… là ông nội tao hay gì? Tao muốn làm gì, quen ai thì thây kệ tao.”

    “Tao có thể ngửi thấy mùi rắc rối trên người thằng đó.”

    Nick khịt mũi, nhìn từ trên xuống dưới, “Và tao có thể ngửi thấy mùi rắc rối trên người mày.”

    “Mày…”

    Đã đến lúc tôi phải ra tay, vì hoà bình trong căn nhà này.

    “Thôi, đủ rồi! Andrey, mày không cản Nick được đâu. Và Nick, tao nghĩ mày vẫn nên cẩn thận. Lê Nhật Minh không phải là loại người đơn giản.”

    “Yên tâm. Đó là lựa chọn của tao. Tao biết mình đang làm gì.”

    Nói xong, Nick liếc xéo Andrey, thở ra một cú hậm hực và bỏ về phòng.



    Chú thích:
    [1] Thơ tiếng Anh ngẫu hứng của Pax. Dịch ra là:
    "Yellow, brown, red,
    Painted with black,
    Dotted with white.
    Black or white, why can’t I choose both?
    They ask me what I’m doing?
    On sunny days
    Or rainy days
    But they don’t ask how I’m going?
    Behind the gap between them and me,
    Above is the distance between the moon and me;
    And below is the distance between me and the moon.
    All reflection.
    Yes, it’s all a reflection.
    To each of our own!"
    [2] Lê Nhật Minh có tự (tên trưởng thành) là Đình Quang. Thường thì với người ngoài họ sẽ xưng tự, nhưng Nhật Minh đặc biệt không quan tâm về mấy cái vụ gọi tên này. Trong truyện, ba nhân vật chính đều có tự để người xưa dễ gọi hơn (Đức Bình-Anh Giản-Ninh Khang). Muốn biết rõ thì mời bạn xem phần phụ lục giới thiệu nhân vật.
     
    Khả Phương and Thiên Thanh like this.

Chia sẻ trang này