1. Dismiss Notice
  2. Dismiss Notice
  3. Dismiss Notice
  4. Dismiss Notice
  5. Dismiss Notice
  6. Dismiss Notice
  7. Dismiss Notice
  8. Dismiss Notice
  9. Dismiss Notice
  10. Chúc mừng truyện dịch hoàn tháng 8 _ 8Uno dịch: [Tiểu thuyết phương tây] Cha Tôi Là Rồng _ Ruth Stiles Gannett
    Dismiss Notice
  11. Dismiss Notice

[ Cổ Đại ] Nắng Trên Vườn Vải (Phần 1, Quyển 2) - Trí Toàn Minh Đăng

Thảo luận trong 'Duyệt Truyện Sáng Tác' bắt đầu bởi Trí Toàn Minh Đăng, 8/1/20.

Lượt xem: 47

  1. 86
    1,780
    138
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng Thành viên tâm huyết

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    [​IMG]
    Tình trạng sáng tác:
    Chưa hoàn thành
    Tình trạng đăng: Đang ra
    Lịch đăng: Khoảng 4 tuần/chương
    Thể loại: Dã sử, xuyên không, hành động, trinh thám, kinh dị
    Độ dài: Khoảng 200.000 từ
    Giới hạn độ tuổi đọc: 16+ [M]
    Cảnh báo về nội dung: Có sử dụng bạo lực
    Nguồn: truyencuatoi.com
    Thảo luận: Các tác phẩm của Trí Toàn Minh Đăng

    GIỚI THIỆU

    Tiếp nối câu chuyện của quyển một, quyển hai sẽ là cuộc hành trình phá những vụ án mới của ba bạn trẻ đến từ tương lai, nhằm truy tìm manh mối dẫn đến vụ án Lệ Chi Viên. Họ sẽ đối mặt với những thế lực nào, kết thân với ai, và phải vượt qua những thử thách mới như thế nào.
    Xin mời mọi người đón đọc.

    MỤC LỤC

    Chương 51: LƯƠNG Y
    Chương 52: CANH BA
    Chương 53
    Chương 54
    Chương 55
    Chương 56
    Chương 57
    Chương 58
    Chương 59
    Chương 60

    GIỚI THIỆU NHÂN VẬT CHÍNH

    Pax William Dang-Raines


    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Pax William Dang-Raines, hay Đặng Duy An (chữ Hán: 鄧惟安, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1999), tự Đức Bình (徳平), hiệu Huệ Nhiên (僡然), là một trong ba nhân vật chính của bộ truyện “Nắng Trên Vườn Vải”. Cậu chính là người kể chuyện xuyên suốt ba phần, xưng “tôi”, và đóng vai trò chủ chốt trong việc minh oan cho Nguyễn Trãi. Mối quan hệ của cậu và Nguyễn Trãi như thế nào sẽ dần dần được hé lộ trong các phần sau.

    Khi câu chuyện bắt đầu, Pax đã gần được 18 tuổi. Cậu vốn là con một, được sinh ra trong một gia đình với mẹ là người Việt, và ba người là Mỹ gốc Ai-len. Năm 12 tuổi, cậu trở thành anh trai nuôi của Andrey, đơn giản vì cậu sinh trước Andrey sáu tháng (nhưng giống em trai nuôi hơn). Từ nhỏ, xung quanh cậu toàn những thành phần thông minh tuyệt đỉnh: ba, mẹ, họ hàng nội ngoại, và có thêm hai thằng bạn thân tài giỏi càng khiến cậu cảm thấy mình lép vế. Mặc dù ba mẹ cậu không đặt kỳ vọng gì quá nhiều, cậu vẫn cảm nhận được một thứ áp lực vô hình khiến bản thân luôn cảm thấy vô dụng. Ở trường, nếu không có sự giúp đỡ của Andrey thì cậu nghĩ mình sẽ không thể vào nổi đại học. Trong lớp, vì tâm trí hay bị xao nhãng nên cậu chỉ học giỏi môn “Lịch Sử Thế Giới Cận Đại”, học kha khá môn “Nhà Nước và Chính Trị Mỹ”, và dở đều các môn còn lại. Pax luôn tự nhận mình ngu nhất nhóm, bởi thế nên cậu rất lười suy nghĩ và thích hùa theo số đông. Theo cậu, suy nghĩ là việc của Andrey, hoặc Nick, chứ đời nào mới đến lượt cậu? Cậu cũng chẳng thèm lãnh đạo hay dạy dỗ ai, bởi thầy không giỏi thì trò làm sao giỏi được? Chính vì sự thiếu tin tưởng vào bản thân sẽ khiến Pax gặp rất nhiều rắc rối sau này.

    Pax ngây thơ, hiền lành và thích làm việc thiện. Cậu là cái dạng công chúa và hoàng tử kinh điển trong phim Disney (không phải anh hùng nha), luôn lý tưởng hoá mọi thứ và chỉ nhìn vào mặt tốt của người khác. Cậu tin vào câu “ở hiền gặp lành”, và “nhân chi sơ tính bổn thiện”, sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai gặp nạn bên đường. Vì mẹ cậu rất tâm lý, nên dù là con trai, Pax vẫn không có vấn đề gì khi bộc lộ cảm xúc, tình cảm và đặc biệt là sự yếu đuối của bản thân trước mặt người khác. Vui thì cười, buồn thì khóc. Đơn giản thế thôi! Vì thế Pax rất dễ đoán, lại nói dối dở tệ. Cậu lãng mạn, mà theo Andrey là “tâm hồn treo ngược cành cây”, cực kì thích văn chương thi phú nên đọc rất nhiều thơ và tiểu thuyết, và giống như Nick, cậu rất thích kịch. Pax ghen tị với tài năng hội hoạ của Nick, bởi thứ cậu vẽ được duy nhất là người que tăm. Nói chung là Pax ghen tị nhiều thứ lắm, nhưng bởi là một con người quá tử tế, cậu sẽ nuốt cơn ghen xuống bụng và chuyển qua đổ thừa bản thân vì đã chưa cố gắng đủ - rằng cậu mãi mãi là một tên bất tài vô dụng.

    Pax là tên luỵ tình, và có sự trung thành tuyệt đối với bạn bè. Dù bọn bạn thân khốn nạn có làm cậu phật lòng, cậu vẫn rộng lượng tha thứ và một lòng một dạ sẵn sàng chết vì họ. Không như hai thằng kia, thù dai như đỉa, Pax rất ít khi để bụng chuyện gì, đặc biệt là với người cậu yêu quý. Với một Andrey nóng tính và thích làm đại ca, Pax luôn nhường nhịn để tránh làm to chuyện. Pax rất ngưỡng mộ Andrey, luôn lấy Andrey làm tấm gương sáng chói mà mình lâu lâu mới noi theo. Còn với Nick, cậu luôn coi thằng bạn là đồng bọn trong những phi vụ chơi khăm Andrey, và hai thằng nhóc có một điểm chung rất lớn là niềm đam mê nghệ thuật.

    Đừng coi Pax “hiền” và “khờ” vậy thì coi thường! Thằng nhỏ giấu nghề thôi! Học võ cổ truyền từ năm tám tuổi, Pax có những phẩm chất của một con nhà võ chính hiệu. Chỉ là cậu không biết và không nhận ra điều đó. Nhìn chung thì Pax bị người khác (và Andrey) chửi ngu riết rồi thì cậu không nhìn ra các phẩm chất tốt của mình. Khi nào người khác chỉ ra thì cậu mới, “Ủa, tui có cái đó hả?”. Nếu nói theo kiểu ngày xưa thì Pax chính một “chính nhân quân tử”, một đấng anh hùng “văn võ song toàn”, và là một chàng trai được nhiều cô gái mơ ước lấy làm chồng. Nhưng vì ở hiện đại mấy thứ tài năng đó cậu xem như không có ích cho sau này, nên giá trị bản thân tự động bị giảm đi quá nửa.

    Pax dễ bị dụ, dễ tin người, lại tính bộp chộp, thích làm anh hùng rơm nên người nào nắm thóp được điểm này thì coi như có thể hớt tay trên của cậu ngọt xớt. Ví dụ điển hình trong truyện là thằng Andrey và quan huyện thừa Trịnh Viêm. Andrey hớt tay trên của Pax như cơm bữa, cũng chỉ vì cậu lo lắng và quan tâm tới anh mình, không muốn Pax làm việc gì ngu ngốc. Trịnh Viêm là do bệnh nghề nghiệp, phải phán đoán và nhìn người để truy bắt tội phạm. Thật ra Nick cũng có thể làm thế trong một vài trường hợp, nhưng thường thì cậu không nỡ, tại cậu thương thằng bạn khù khờ của mình quá! Pax khi phát hiện ra mình bị lừa thì rất đáng sợ… chừng vài phút thôi, sau đó cậu sẽ tìm hiểu nguyên nhân về cú lừa kia và tìm cách giải quyết mọi chuyện cho ổn thỏa. Nói rồi, thằng nhóc này không thể nào thù dai được.

    Nói thẳng ra thì Pax William Dang-Raines là một con người quá tốt trong một cái thế giới quá xấu xa mà tác giả đã dựng lên.

    Về bức vẽ: Ở đây Pax đang đánh gần xong bài quyền "Thanh Long Độc Kiếm", một trong những bài tủ của cậu. Pax đánh được rất nhiều loại binh khí, từ đoản đao, thương, giáo, chuỳ, siêu, nhuyễn tiên, thiết phiến, song tô, thậm chí là song câu, bồ cào, xà mâu,... Nhưng nếu ra trận, Pax sẽ vớ lấy côn (roi) hoặc kiếm, hai món vũ khí sở trường của cậu.


    Andrey Sylvester Zakharov

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Andrey Sylvester ‘Petrovich’ Zakharov, hay Andrey Zakharov (tiếng Nga: Андрей Сильвестр ‘Петрович’ Захаров, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1999), tự Anh Giản (瀴僩), là một trong ba nhân vật chính của bộ truyện “Nắng Trên Vườn Vải”.

    Andrey là kiểu người mới nhìn vào thì tưởng nguy hiểm, nhưng khi đã quen thân thì mới biết cậu… nguy hiểm thật! Xung quanh cậu luôn có một luồng ám khí mà khiến ai trong phạm vi gần cũng có thể rùng mình. Cậu có thứ sức hút bí ẩn của một người có tố chất lãnh đạo. Không như Pax, Andrey biết rõ điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, và sẽ không từ mọi cách để đạt được mục đích. Cậu biết khai thác triệt để trí thông minh và ngoại hình để xây dựng các mối quan hệ, leo lên chức Chủ tịch Hội Học Sinh, kiêm luôn thủ khoa của khối, ẵm về đủ các loại giải thưởng từ các cuộc thi học sinh giỏi của bang, và trở thành thực tập sinh bán thời gian trong phòng mạch khi mới 17 tuổi. Nói thẳng ra thì cậu chính là “con nhà người ta” trong truyền thuyết, và hình tượng đứa con gương mẫu trong mắt quý vị phụ huynh. Cuối cùng thì công sức bỏ ra đã được đền đáp, khi cậu được nhận vào đại học John Hopkins, học tiền y khoa, với ước mơ sau này được trở thành bác sĩ nhi. Chính vì quá tự tin, quá cứng nhắc vạch nên một tương lai hoàn hảo sau này cho mình, mọi thứ đối với cậu thực sự bị đảo lộn khi quay về thời quá khứ.

    Andrey trước khi bị tai nạn giao thông (để lại vết sẹo trên trán) năm tám tuổi là một đứa trẻ hiền lành, dễ mến và thân thiện. Andrey sau tai nạn là một đứa trẻ nóng tính, cọc cằn, thô lỗ. Cậu rất nóng nảy, dễ phát khùng, hay càu nhàu, chửi rủa, và la hét inh ỏi từ những thứ nhỏ nhặt nhất, như một ông già khó tính. Bởi thế bạn bè thời tiểu học dần dần xa lánh cậu, chỉ có thằng Pax là lì lợm bám dính lấy cậu. Lên trung học, nhận ra điểm trừ này, cậu quyết định trưng ra bộ mặt lầm lì. Chỉ có hai thứ duy nhất trên đời làm cậu phá vỡ hình tượng cục băng thôi – đó là mấy thằng ngu và gái đẹp. Cậu luôn cố gắng kiềm chế những cơn giận bộc phát trong lòng và chỉ dám xả van mỗi khi tập võ cổ truyền. Cậu học võ chỉ vì bị Pax dụ dỗ chứ thật ra cũng không thích lắm, sau này tiếp tục theo vì cậu thấy nó có ích trong việc tự vệ và có lợi cho sức khoẻ chứ chẳng có lý do sâu xa gì đâu. Andrey thích nhất là ngồi hàng giờ trong phòng thí nghiệm của trường và lẽo đẽo đi theo người anh họ của Pax đang làm dược sĩ ở phòng mạch. Đối với cậu, giúp người và cống hiến cho khoa học mới là điều quan trọng nhất.

    Học giỏi bao nhiêu thì chuyện tình cảm càng ngu bấy nhiêu. Cậu hay chửi Pax (và đôi khi là Nick) ngu nhưng về khoản này hai thằng kia ăn đứt cậu. Andrey rất dở trong việc truyền đạt tình cảm của mình tới người cậu yêu quý. Với hai thằng bạn chuyên môn đi gây chuyện, cậu thể hiện tình cảm bằng cách âm thầm lo lắng và đi theo bảo vệ, còn ngoài mặt thì luôn ra vẻ "đại ca", xỉa xói và chửi bạn mình như cơm bữa. Thật ra Andrey rất nhạy cảm và dễ tổn thương (giấu kĩ lắm, sợ mất hình tượng), đã vậy còn gặp phải hai thằng bạn thân vô tư, vô tâm, vô trách nhiệm. Khi về quá khứ, trong khi hai thằng kia cứ tưng tửng, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, thì Andrey chính là hai sợi dây trói bọn họ lại, vì cậu biết ở thời này không cẩn thận là chết như chơi. Mà nếu một trong hai đứa chết thì trái tim cậu sẽ chịu không nổi. Trong ba đứa, dù không nói ra, nhưng Andrey là đứa ghét xuyên về quá khứ nhất. Cậu khao khát mãnh liệt muốn trở về thời hiện đại ngay từ cái giây phút phát hiện mình đã quay về thời Lê. Cậu bắt đầu lập kế hoạch, tính toán cẩn thận từng đường đi nước bước, tuyệt đối không được sai sót, chỉ để ba đứa có thể phá án và trở về hiện đại an toàn.

    Andrey rất thương Pax, và luôn coi Pax là thằng em khù khờ cần được bảo vệ 24/7. Cái tình thương vô bờ bến của một người anh, một người bạn thân, một tri kỷ. Cả hai thân nhau như anh em ruột, đi đâu cũng có nhau, và không bao giờ giấu được nhau chuyện gì. Andrey hay chửi Pax ngu (sau này thêm cụm từ “đầu bã đậu phộng”) một phần vì muốn thằng bạn động não, phần khác chính là chửi cho vui miệng. Thế mà Pax không hiểu, cứ tưởng Andrey chửi mình ngu thiệt nên càng ngày càng lười suy nghĩ, gây tác dụng ngược. Một thời gian sau, khi Nick chỉ ra cái sai lầm này của cậu, thì cũng đã quá muộn. Pax đã bắt đầu rơi vào cái hố của sự trầm cảm.

    Còn với Nick thì sao? Andrey, bởi vì quá ngu, đã vài lần vô tình làm tổn thương Nick, mém chút nữa là hai đứa cạch mặt nhau, làm Pax phải nhảy vào giảng hoà. Lúc đầu gặp, Andrey đã cố trò chuyện với Nick nhưng bị Nick bơ đẹp luôn. Quê quá nên cậu gào lên chửi Nick giữa nhà ăn và đùng đùng xách khay cơm đi chỗ khác. Sau này, khi hai đứa đã làm lành, Nick vẫn còn thận trọng với Andrey. Trong một lần Nick nghĩ quẩn và rạch tay, Andrey chính là người phát hiện ra đầu tiên và cứu sống cậu, sau đó bỏ học để ở bệnh viện cả ngày hôm sau. Lúc đó Nick mới biết bản chất thật sự của thằng bạn cọc cằn này, và cậu cũng dần đâm ra yêu quý Andrey. Andrey coi trọng cái tính phóng khoáng, sự tinh tế và cả cái thô thiển rất có duyên của Nick. Nhưng cậu cũng không thích lối sống vô tổ chức và thói trăng hoa của thằng bạn. Hai người như nước với lửa, và tác giả đến giờ vẫn không hiểu tại sao tụi nó thân nhau được.

    Về bức vẽ: Andrey rất thích Hoá Học và Sinh Học, cuối cùng quyết định theo ngành Y. Ngoài ra cậu cũng rất giỏi các môn khoa học tự nhiên khác như Toán và Vật Lý. Vì đọc sách về đêm rất nhiều nên cậu cận nặng, tới 4.5 độ mỗi bên mắt, nên mỗi khi thí nghiệm phải đeo tới hai lớp kính: kính bảo hộ và kính cận. Còn mỗi khi tập võ, cậu phải tháo kinh ra, làm phản xạ có chậm hơn anh trai mình.

    Nicholas Zephyrinus Kanelos

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Nicholas Zephyrinus Kanelos, hay Nick Kanelos (tiếng Hy Lạp: Νικολας Ζεφυρίνος Κανέλος, sinh ngày 4 tháng 2 năm 1998), tự Ninh Khang (寧康), hiệu Hy Lạp Hoạ Gia (希臘畫家), là một trong ba nhân vật chính của bộ truyện “Nắng Trên Vườn Vải”. Cậu không phải là một con người bình thường, và cậu cũng rất tự hào khi tự nhận mình bất bình thường.

    Nick là kiểu người vừa hời hợt và vô duyên, lại vừa có thể nhạy bén và sâu sắc. Cậu không hề đơn giản như vẻ bề ngoài, càng không phải là người đần độn (mặt khác, cậu rất thông minh, mặc dù thường xuyên bị hiểu nhầm là người thiểu năng). Cậu thường nói thẳng toẹt ra suy nghĩ của mình, dù lời nói có khiến người khác đau lòng, vì cậu nghĩ thà sống thật với bản thân và mọi người, yêu ghét rõ ràng, còn hơn là giả tạo rồi đâm lén nhau sau lưng. Cậu không quan tâm mấy đến những sự việc diễn ra xung quanh mình, chỉ bắt đầu lo lắng khi nó có liên quan đến cậu hoặc người cậu yêu quý, như Pax và Andrey. Cậu có hai phương châm “Sống là tiến về phía trước” và “Mặc kệ nó, tới đâu hay tới đó”, bởi một phần vì quá khứ của cậu u ám quá. Nick là con rơi của một người thương nhân/nghệ sĩ giàu có người Hy Lạp và một nghệ sĩ đường phố người Mỹ gốc Phi. Lớn lên với người mẹ lúc nào cũng bận rộn, và người cha dượng nghiện ngập ghẻ lạnh và luôn đánh đập cậu, Nick đã bỏ nhà đi bụi và hình thành tư tưởng của một người thích tự do, đồng thời đánh mất niềm tin về một tình yêu chân thành. Cậu sống thật nhưng thường hay che giấu nỗi đau quá khứ bằng cách từ chối chia sẻ với bất kì ai, ngay cả hai thằng bạn thân. Cậu thích sống một mình, ăn một mình, ngủ một mình, làm việc một mình, khóc cũng một mình. Cậu không thèm đếm xỉa đến dư luận, luôn bất chấp những lời gièm pha để đi theo sở thích của mình – đó là nghệ thuật.

    Nick đặc biệt yêu hội hoạ, nhiếp ảnh, múa hát và kịch ứng tác. Một phần vì cậu biết mình có một trí nhớ hình ảnh siêu việt và khả năng quan sát tốt, có thể nhìn ra những thứ người thường không nhìn được. Cậu muốn đem khả năng này và truyền tải ra trên những trang giấy và chia sẻ với mọi người. Khác với Pax, người yêu thích văn học, Nick muốn truyền cảm hứng vào sáng tác của mình bằng những bức tranh và các hành động cụ thể. Đó là kịch. Tại sao lại phải là kịch ứng tác? Nick không thích sống trong thực tại, mà lại thích sống trong thế giới riêng do chính mình tạo nên. Lúc đó kịch bản sẽ do cậu tự biên tự diễn, không gì có thể gò bó cậu trong khuôn khổ về phép tắc ứng xử ngoài xã hội. Cậu rất ghét khi phải giao tiếp với người lạ, và đặc biệt là người mình không có cảm tình. Vì thế nên Nick rất giỏi trong việc bịa chuyện. Một vài tài năng nữa của cậu là ăn cắp vặt, ảo thuật và hoá trang. Bởi đó là chuyện mưu sinh mà!

    Trong truyện, Nick chỉ có cảm tình với bảy người thôi. Đó là hai thằng bạn thân, cô Cara - mẹ của Pax, và bốn người từ thời quá khứ. Đối với Nick, Pax là một trong những người quan trọng nhất cuộc đời cậu. Pax đã lôi cậu ra khỏi vỏ ốc và rất kiên nhẫn bước vào thế giới của cậu. Hai đứa có rất nhiều sở thích chung: kịch, nghệ thuật, các món ăn đường phố, phim ảnh và âm nhạc. Pax luôn ủng hộ cậu theo đuổi ước mơ nghệ thuật và chào đón cậu như một thành viên trong gia đình. Cậu thường xuyên ăn chực và ngủ nhờ ở nhà Pax khi bị thiếu nợ mấy tháng tiền phòng và phải cật lực tránh mặt chủ nhà. Pax cũng không quá tính toán gì với Nick mặc dù Nick luôn khăng khăng cậu phải ghi nợ. Sau này, khi hai người trở thành anh em kết nghĩa, Nick luôn dành một tình cảm đặc biệt cho Pax – tình thân mà cậu đã thiếu vắng bao lâu nay.

    Còn đối với Andrey thì sao? Lúc đầu Nick rất sợ Andrey, tại vì Andrey chính là hiện thân của mấy đứa nổi tiếng thích ra oai và bắt nạt kẻ yếu. Khi Nick cố tình bơ cậu trong lần đầu gặp mặt, Andrey đã nổi điên lên và chửi cậu tan nát. Mãi sau này, khi hai đứa đã xin lỗi và làm lành với nhau, Nick mới biết được Andrey là một con người khác. Và đến một năm sau hai đứa mới bắt đầu thân với nhau. Cậu và thằng bạn không có nhiều sở thích chung (nếu có thì cũng chỉ thông qua Pax), tính cách hay lý tưởng sống cũng khác nhau hoàn toàn. Sau này, hai đứa mới nhận ra vài điểm chung quan trọng làm chất keo dính hai người lại với nhau – đó là tính lưu manh xảo trá (Pax gọi họ là bộ đôi nguy hiểm). Cả hai đều sống tình cảm, nhưng cách thể hiện thì khác nhau. Andrey lo lắng bằng cách quát tháo và chửi người khác ngu, trong khi Nick lại là một con người dễ chịu và vui vẻ, nhưng lại vô cùng lý trí và là điểm tựa vững chắc trong lúc hoảng loạn. Thái độ bất cần đời và sự vô tâm của Nick nhiều lúc khiến Andrey tức điên, điều mà cậu cũng thấy buồn cười. Cậu thích cãi tay đôi và chọc cho Andrey phát khùng, cái mà cậu cho là thú vui tao nhã. Nick quý mến Andrey bởi tính cách thẳng thắn, lối sống tình cảm, sự thông minh, tự tin và mưu mẹo, nhưng cũng không ưa cái tính tự cao tự đại, nóng nảy và cứng đầu của thằng bạn mình. À, và ngoại hình đẹp của Andrey chỉ là phụ, nhưng đó cũng là điểm cộng, bởi theo Nick, đi với người đẹp thì mình cũng được thơm lây.

    Về bức vẽ: Nick nổi tiếng bừa bộn, nhưng với hoạ cụ thì cậu kĩ tính cực kì, vì chúng... rất đắt tiền. Mặc dù cậu cũng kiếm được kha khá tiền, Nick không bao giờ cho phép bản thân lãng phí "cần câu cơm" của mình.

    GIỚI THIỆU NHÂN VẬT PHỤ-CHÍNH

    Phạm Tạc Tổ

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Phạm Tạc Tổ, hay Nguyễn Tạc Tổ (chữ Hán: 阮鑿祖, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1443), tự Ái Gia (愛家), hiệu Anh Vũ (英武), là một con người đáng thương. Cậu sinh năm Quý Hợi, là năm Thái Hoà thứ nhất. Năm Quang Thuận thứ hai (1461), cậu được 19 tuổi ta (18 tuổi).

    Sinh ra trong một gia tộc bị vu oan giá hoạ rồi tàn sát dã man, nhưng không như chuyện tích cũ kể về người con trai đi báo thù nợ máu, cậu tuyệt đối không mang mối hận truyền kiếp với triều đình nhà Lê. Mẹ cậu là Phạm Thị Mẫn đã dạy dỗ cậu tử tế, biến cậu thành một con người trưởng thành, thật thà, hiền lành, và trung kiên. Dù thế, cậu vẫn biết rõ cha mình là ai, đã bị đắc tội như thế nào với triều đình, rồi bị thái hậu và cận thần hàm oan ra sao. Thật ra thì cậu chẳng muốn dính dáng gì đến triều đình nữa, cho đến khi Duy An xuất hiện và tự ngầm xưng là con trai Nguyễn Trãi. Đến lúc đó, cuộc đời cậu như bị đảo lộn, bởi tưởng chừng như cậu đã tìm ra được người anh em cùng cha khác mẹ thất lạc bấy lâu nay. Từ khi mẹ cậu mất, Tạc Tổ đã rời đất Thanh Hoá và đi ra Bắc, ngao du đó đây để tìm những người thân còn sót lại trong gia tộc. Cậu lưu lạc đến huyện Gia Định, ghé thăm Lệ Chi viên năm xưa và hội ngộ được với “em trai” Duy An. “Em trai” cậu văn hay võ giỏi, khí phách ngút trời, luôn chiến đấu vì chính nghĩa, khiến cậu vạn lần bội phục. Nhưng vì Duy An còn chối bay chối biến thân phận con trai Nguyễn Trãi nên Tạc Tổ không dám để lộ thân phận của mình. Cậu luôn muốn gặp lại và giữ liên lạc với “em trai” ở Đông Kinh để cùng nhau tìm cách minh oan cho cha, lấy lại thanh danh cho dòng họ Nguyễn.

    Tạc Tổ được dạy dỗ và cho ăn học tử tế, lại được chính vị Tế tửu đã về hưu của Quốc Tử Giám, Vũ Mộng Nguyên (Lạn Kha) dạy dỗ nên Tứ thư Ngũ kinh đều thuộc làu làu. Cậu thông minh, sắc bén, có khiếu văn thơ giống cha cậu. Mặc dù đã đỗ Hương cống (sau này) và hoàn toàn có thể thi Hội, thi Đình và đỗ đạt Tiến sĩ, Tạc Tổ đã một mực từ chối vì không muốn tiếp bước cha mình theo nghiệp quan (để rồi gần vua lại dễ bị bay đầu). Lê Tư Thành dù rất tiếc (và rất bực) nhưng cũng không tài nào thuyết phục được tên này, đành phải ban cho cậu 100 mẫu ruộng và bổ nhiệm cậu làm Đồng tri châu. Sau khi làm quan, cậu mới đổi lại họ Nguyễn, lấy cho mình cái tên hiệu là Anh Vũ. Mọi người đều gọi cậu là Nguyễn Anh Vũ. Cái tên dân dã Tạc Tổ chỉ được gọi lên bởi người thân trong gia đình cậu mà thôi.

    Không giống như “em trai” tính tình hậu đậu và bộp chộp, Tạc Tổ làm gì cũng cẩn thận, từ tốn, trừ việc bếp núc. Cậu lễ phép, ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng chậm rãi. Mỗi lời cậu nói ra đều có ý tứ rõ ràng, tuyệt đối không nói chuyện xàm xí (chẳng hạn các thể loại như tán dóc, mách lẻo, đâm thọt). Tạc Tổ có tâm hồn nhạy cảm (đôi lúc hơi mít ướt) và yêu thích sự tĩnh lặng của thiên nhiên, hệt như cha cậu lúc về già, và cậu thích sống một đời cô độc, chu du nay đây mai đó, nhưng vì đã hứa với mẹ trước khi mất rằng cậu sẽ lấy vợ nối dõi tông đường nên cậu định sẽ chọn đại một, hai cô nào đó ưa nhìn, gia thế tốt về làm vợ. Chỉ không ngờ sau này vợ cả của cậu gia thế hiển hách và tính cách dữ dội (hổ báo) quá, nên Tạc Tổ bị vợ đè đầu cưỡi cổ cũng trở thành chuyện thường tình.

    Trong truyện, Tạc Tổ có hướng suy nghĩ trái với lẽ thường này cũng một phần bị ảnh hưởng từ Nick. Đối với cậu, Nick lúc đầu là một dấu chấm hỏi to đùng. Hai người dần dần cũng thân nhau (nhất là sau vụ án thứ ba) theo cái kiểu bạn cùng phòng bất đắc dĩ, và nhận ra cả hai cũng có nhiều điểm chung: đều có gia đình tan nát, yêu thích nghệ thuật, có đầu óc cầu tiến và chịu thương chịu khó. Nick dạy cậu vẽ tranh, còn cậu dạy Nick chữ Hán và chữ Nôm. Hai người học hỏi rất nhiều từ nhau và tư tưởng người này chắc chắn sẽ truyền qua người kia. Tạc Tổ ngưỡng mộ sự phóng khoáng và tài năng hội hoạ của Nick, còn Nick coi trọng sự lạc quan và tính chu đáo của cậu.

    Tạc Tổ đối với Andrey thì hơi sờ sợ, vì Andrey luôn khiến người ta có cảm giác nguy hiểm đang đến gần (giống như cái cảm giác ở gần Lê Tư Thành). Với lại thằng nhỏ nóng tính và bạo lực quá, đã vậy còn mang vũ khí trên người 24/7 (ngay cả đi nhà xí cũng mang theo dao găm là thế nào?). Tạc Tổ không bao giờ muốn làm Andrey nổi giận, bởi cậu đã chứng kiến “em trai” mình bị Andrey hành hung ngay giữa ban ngày ban mặt. Việc thằng Andrey cao lớn và mặt mày lúc nào cũng như kẻ vừa bị mất tiền càng khiến Tạc Tổ càng né tránh cậu. Nói chung là trong bộ ba hiện đại, Tạc Tổ coi Pax như người thân, Nick như bạn thân, chỉ có Andrey là coi như bạn xã giao.

    Nói đến đây thì ai cũng nghĩ Phạm Tạc Tổ là mẫu người lương thiện kinh điển. Nhưng dù lương thiện cách mấy thì cũng không thể nào thành thánh nhân được. Cậu ta cũng là con người, cũng có một đống tật xấu mà tác giả rất vui vẻ công khai cho bàn dân thiên hạ. Cậu bị suyễn bẩm sinh nên thể chất yếu, chạy chừng một hai cây số đã muốn xỉu. Tim yếu nên rất dễ bị hù doạ. Mắt bị cận hơi nặng nhưng không có kính để đeo, và bàn chân bị mất hai ngón (do sự cố mà tác giả sẽ kể sau). Vì sinh ra trong gia cảnh bi đát, cậu đã tập cho mình cái tính lạc quan thái quá, đến nỗi người ta nghĩ cậu bị hoang tưởng hoặc thần kinh không bình thường (nói trắng ra là bị khùng đó quý vị [​IMG]). Nếu không có Pax xuất hiện thì cậu giống như bị thiếu động lực sống, luôn do dự không biết nên làm cái gì cho cuộc đời đỡ nhạt. Đến giây phút quyết định quan trọng thì cậu không có chính kiến, hỏi cái gì cũng ừ hử vậy hả, cũng một phần do chế độ phong kiến không cho phép những người thân phận hèn kém như cậu phát biểu ý kiến riêng. Cuối cùng, Tạc Tổ bị mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế mức độ nhẹ đối với cách viết chữ và mớ dụng cụ học tập (sách vở, giấy tập, bút viết,…). Cậu luôn coi chúng như bảo vật, bởi thế đứa nào dám đụng đến hoặc lỡ làm xáo trộn thì coi như tàn đời với thằng nhỏ.

    Về bức vẽ: Đây là tư thế chào hỏi của người Việt thời xưa. Tạc Tổ thường mặc áo giao lĩnh bảy thân màu nâu sờn bạc bên ngoài và áo trung đơn bên trong, cột thêm cái đai lưng để... quần không bị tuột. Cậu có một đặc điểm rất dễ nhận dạng là sợi tóc mai dài chấm vai.


    Lê Khắc Xương

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Lê Khắc Xương (chữ Hán: 黎克昌, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1440), hay Tân Bình vương (辛评王), Cung vương (恭王), bí danh khi vi hành và dùng để liên lạc thư tín là Lê Phong (黎風), là hoàng tử thứ hai của vua Lê Thái Tông và Bùi Quý nhân, là em trai của Lê Nghi Dân, anh trai của Lê Bang Cơ và Lê Tư Thành. Cậu sinh năm Canh Thân (1440), Đại Bảo năm thứ nhất. Năm Quang Thuận thứ nhất (1461), cậu được 22 tuổi ta (21 tuổi).

    Khắc Xương có dáng người cân đối, cao ráo (so với người thời xưa thì là cao, nhưng vẫn không cao bằng Pax, người chỉ cao khoảng 1m7). Cậu thích màu xanh lá nên toàn mặc trang phục màu xanh lá. So về ngoại hình thì Khắc Xương không có điểm gì quá nổi bật, thần sắc cũng không đẹp (lồng lộn) như các anh em của mình. Tuy vậy, cậu vẫn có thần thái tiềm ẩn của một người trong hoàng tộc. Cậu không quá quan tâm đến ngoại hình, trừ những dịp đặc biệt. Tuy vậy, cậu luôn sạch sẽ, chỉn chu và thường chú ý đến các loại trang phục và màu sắc trên người. Cậu ít đeo trang sức (trừ một viên ngọc bội cẩm thạch của mẹ) và lúc nào cũng có sẵn vài ba bộ thường phục trong túi, để lẩn vào trong dân chúng và tận hưởng những giây phút vi hành ngắn ngủi mà thú vị.

    Khắc Xương là con người hiền hậu, giản dị, thông minh, nhạy cảm và có năng lực sáng tạo. Cậu đam mê nghệ thuật, yêu thích cái đẹp và không thích bạo lực. Từ nhỏ, vì lớn lên trong cung cấm nên Khắc Xương đã tự luyện cho mình con mắt tinh tường, có khả năng đọc và đánh giá tâm tư người khác. Chỉ cần một cú nháy mắt, một cái nhếch môi, hoặc một sự thay đổi âm tiết trong giọng nói là cậu nhận ra ngay. Ví dụ như cậu đã nhìn ra việc Viên ngoại lang Lê Ngoạt muốn từ chức sau khi Nghi Dân lên ngôi vua, hay chuyện các công thần Lê Thụ, Lê Ê, Đỗ Bí, Lê Ngang lập mưu lật đổ anh mình.

    Trước chính biến Diên Ninh, Khắc Xương chủ yếu dành thời gian rèn luyện khả năng âm nhạc của mình: ca hát, đánh đàn (đàn tranh, nhị, bầu, tì bà), nghiên cứu âm luật, sáng tác ra các bản nhạc cung đình và dân gian. Cậu cũng biết võ thuật, chỉ là học để phòng thân chứ không có hứng thú gì (dù thường xuyên bị Tư Thành khích tướng đòi thi đấu). Sau khi người em Bang Cơ bị anh cả Nghi Dân giết chết, Khắc Xương rơi vào tình trạng rối loạn căng thẳng lo âu, xảy ra thường trực và gần ranh giới với chứng bệnh trầm cảm. Cậu thu mình vào một góc, người lúc nào cũng đờ đẫn như mất hồn, và trở nên đa nghi hơn (dù không đa nghi bằng Tư Thành). Sau chính biến Thiên Hưng và Nghi Dân bị bức tử, Khắc Xương gần như muốn từ bỏ ngôi vị vương gia luôn. Lúc Lê Lăng đến đón cậu làm vua, cậu trốn mãi mới chịu ra mặt, sau đó thì từ chối thẳng thừng, thậm chí nói rằng nếu làm vua thì thà cho cậu uống chén thuốc độc tại chỗ. Lê Lăng và các đại thần sợ quá nên cúi đầu rút lui và qua phủ của Gia vương, đón Tư Thành lên làm vua.

    Khắc Xương có một niềm yêu thích đặc biệt với nghệ thuật hát chèo, một phần vì họ ngoại của cậu có người làm trong gánh hát (chị em của ông ngoại Bùi Cầm Hổ). Vào đời vua Lê Thái Tông, nhạc khí cung đình của Lương Đăng được biểu diễn trong hoàng cung, hát chèo và các loại nhạc tục dân gian chính thức bị cấm biểu diễn. Khắc Xương lúc đó còn nhỏ, thường hay theo ông ngoại ra ngoài cung để xem kịch hát và hay hát theo, về cung liền bị rầy la vì giao du với lũ người “xướng ca vô loài” mà cảm thấy bất bình. Càng cấm đoán thì cậu càng thích, thế là cậu tự mình nghiên cứu, viết ra kịch bản và một số bài nhạc rồi lén lút tuồn ra ngoài Đông Kinh. Chỉ có một số ít cận thần trong triều biết được thú vui “sai trái” này của Cung vương, trong đó có Viên ngoại lang Lễ bộ Lê Ngoạt (người gián tiếp giúp đỡ Khắc Xương trong mấy bài hát chèo). Thậm chí, ước mơ thầm kín của Khắc Xương là được làm ca sĩ hát chèo và bán gánh chè hát rong khắp kinh thành. Mãi sau này, khi Tư Thành biết được sở thích của anh mình thì trở nên khinh miệt cậu. Tình nghĩa anh em lúc ấy cũng đã nguội lạnh.

    Khắc Xương rất ghét những thứ liên quan đến chính trị, giết chóc, đấu đá lẫn nhau, và bất công xã hội. Cả đời làm vương gia, cậu phải chứng kiến cảnh huynh đệ tương tàn, công thần bị hàm oan, nhân dân đói khổ, và trực tiếp bị kéo vào các âm mưu chính trị của nhiều thế lực trong triều. Cậu không có nhiều bạn, và nếu có cũng chỉ xã giao. Nhiều lúc cậu thấy bản thân bị cô lập trong chính ngôi nhà của mình. Khắc Xương cả đời sống trong cô độc. Người cậu yêu quý nhất (Bang Cơ) thì lại bị sát hại dã man. Người cậu ngưỡng mộ nhất (Nghi Dân) lại sát hại người cậu yêu quý. Người em trai duy nhất còn sống thì lại đối xử ngày càng xấc láo và lạnh nhạt với cậu. Cậu cưới người mình không yêu, và yêu người từ chối mình. Vương phi và cậu không quá gần gũi, dù họ vẫn tôn trọng lẫn nhau. Khắc Xương xem vương phi như một người bạn tốt hơn là một người vợ hiền.

    Đối với Khắc Xương, Đặng Duy An là một con người thú vị. Duy An đem đến niềm vui hiếm hoi cho cậu. Cả hai cùng có nhiều sở thích: âm nhạc, hội hoạ, văn học, kịch... Tính cách của họ cũng khá tương đồng. Họ đều là anh trai bị lép vế trong nhà. Khắc Xương ngưỡng mộ và tôn trọng Duy An, không bao giờ coi mình là bề trên cả. Khắc Xương đã nhận định Duy An là con của Nguyễn Trãi rồi, nên lấy làm thương tiếc và luôn muốn bảo vệ cậu khỏi sự truy sát của triều đình. Ban đầu thì mối quan hệ có dè dặt, nhưng sau khi đã thấy tấm lòng chân thành và biết hoàn cảnh đáng thương của cậu ta, Khắc Xương đã nhiệt tình đứng sau giúp đỡ. Hai người trở thành bạn tốt của nhau. Khắc Xương là nhân vật Duy An thân thiết chỉ sau Phạm Tạc Tổ. Khắc Xương chia sẻ nỗi niềm thầm kín của mình và được Duy An giúp đỡ để thực hiện mong ước. Ngược lại, Khắc Xương sẽ giúp Duy An trong việc giải oan cho gia tộc.

    Khắc Xương khá tò mò về hai anh chàng ngoại quốc kia, đặc biệt là tên hoạ gia có thể sử dụng ma thuật. Cậu nghĩ hắn là người trời phái xuống giúp đỡ Duy An và Tư Thành, nhất là khi phát hiện ra tấm bản đồ Đông Kinh và kĩ thuật vẽ tranh mới lạ. Còn tên da trắng kia cũng được cậu nể phục với tài năng y thuật hơn người, dù hắn làm cậu nhớ tới đứa em trai Tư Thành. Ba người giữ mối quan hệ quân-thần và luôn tôn trọng lẫn nhau.

    Lưu ý: Đây là truyện dã sử, tác giả đã xây dựng nhân vật dựa trên hình tượng Lê Khắc Xương ngoài đời thật, nhưng có một số tình tiết là hư cấu dưới góc nhìn và phân tích của tác giả, nên xin mọi người đừng lấy đó mà đồng nhất với chính sử.

    Về bức vẽ: Cung vương rất thích đánh đàn bầu, một trong những nhạc cụ dân tộc vừa đơn giản vừa phức tạp. Cậu thích âm thanh của nó chỉ sau đàn tranh. Ở đây Khắc Xương đang đánh cây đàn bầu yêu thích của mình. Cậu mặc áo giao lĩnh, quần và áo đối khâm.


    Lê Tư Thành

    Xem ảnh
    [​IMG]
    Đọc tiếp
    Lê Tư Thành (chữ Hán: 黎思誠, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1442), hay Bình Nguyên vương (平原王), Gia vương (嘉王), hiệu Thiên Nam Động Chủ (天南洞主), Đạo Am Chủ Nhân (道庵主人), Tao Đàn Nguyên Soái (騷壇元帥). Ngoài ra còn có huý, bí danh khi đi vi hành và tên dùng trong văn kiện ngoại giao là Lê Hạo (黎灝). Cậu là hoàng tử thứ tư của vua Lê Thái Tông và Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Năm 1460, sau chính biến Thiên Hưng, cậu được 19 tuổi thì các đại thần đón lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Thuận (光順).

    Với tiêu chuẩn sắc đẹp thời xưa, Tư Thành được coi là “thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường”. Cậu có dáng người cao ráo, lưng thẳng, đầu ngẩng cao. Đôi mắt xếch hẹp và dài, lông mày như kiếm, mũi cao hơi hếch, có cái răng khểnh bên trái. Tóc cắt ngắn gọn gàng vuốt ngược ra sau, hoặc để dài ngang vai rồi búi lên (thời trẻ). Cả người cậu đều toát ra thần thái của bậc vương giả. Lúc còn là Bình Nguyên vương, Tư Thành không mấy quan tâm đến vẻ bề ngoài, nhưng từ khi lên ngôi vua, cậu rất chú ý đến cách ăn mặc và hình tượng của mình. Lúc đầu cậu có hơi ngán ngẩm, rồi dần dần cũng quen. Tư Thành luôn đeo bên mình một món trang sức bằng bạc (nhẫn, vòng cổ, vòng tay, lắc chân…) để thử độc và bùa hộ mệnh để chống lại những kẻ có âm mưu ám hại mình. Trong ống tay áo của cậu lúc nào cũng thủ sẵn một hoặc hai món vũ khí phòng thân.

    Tư Thành là một vị vua nhiều tài nhưng cũng lắm tật. Lớn lên trong cung cấm, không mang theo gánh nặng ngôi báu, Tư Thành thoả sức học tập và rèn luyện bản thân. Cậu thông minh, sắc bén, ham học hỏi (luôn mang sách theo mình 24/7) và có chí cầu tiến trong hầu hết những lĩnh vực mà cậu cảm thấy sẽ giúp ích cho mình sau này. Cậu rất hiếu thắng, thích thi đấu từ văn đến võ, nhưng trước khi ra lời thách đấu đều tính toán kĩ lưỡng tỉ lệ thắng-bại của mình. Giống như anh trai Khắc Xương và Bang Cơ, Tư Thành đã tự luyện tập kĩ năng đọc và đoán tâm tư của người khác. Trong những buổi thiết triều, cậu đều luyện nó với những quan lại lớn tuổi, những người mà cậu cho là lão luyện trong lĩnh vực lừa dối, xu nịnh và bày mưu tính kế. Càng thấu hiểu quần thần thì cậu càng thấy kinh sợ sự khốc liệt của triều đình, và càng xây dựng hình tượng một Bình Nguyên vương ngoan hiền, nhã nhặn, tuyệt đối chẳng muốn gây sự với ai.

    Cho đến khi chính biến Diên Ninh xảy ra. Cái chết bất ngờ của anh trai Bang Cơ làm Tư Thành bị một cú sốc tâm lý lớn. Trong lòng tuy vô cùng bất bình trước sự bạo nghịch của anh trai Nghi Dân, Tư Thành vẫn phải ngậm đắng nuốt cay khuất phục trước vị vua mới, vẫn là dưới vỏ bọc một người em trai ngoan ngoãn. Lúc này, chính vì bị chấn động quá mạnh về tâm thần nên một nhân cách khác dần dần hình thành trong cậu. Tư Thành trở nên đa nghi quá độ, nhìn thấy khắp nơi đều là kẻ thù, và ngày càng lạnh nhạt, vô tình, thậm chí là tàn nhẫn với thuộc hạ. Ban ngày, cậu là Gia vương Lê Tư Thành, cư xử lễ độ, hoà nhã, chính trực, chăm chỉ học hành và luyện tập võ nghệ. Ban đêm, sau vài chén rượu thì cậu là Lê Hạo – một kẻ thâm hiểm và tàn nhẫn, âm thầm trợ giúp các đại thần lập mưu lật đổ Thiên Hưng đế, trả thù cho cái chết oan uổng của Bang Cơ. Đương nhiên là không ai biết hay nghi ngờ đến nhân cách thứ hai này, ngoại trừ cậu. Tư Thành biết đến sự tồn tại ấy nhưng mặc cho chúng hành động, nếu kết quả là ngôi báu thuộc về cậu. Sau khi lật đổ và bức tử Lệ Đức hầu Lê Nghi Dân, quả như dự đoán từ trước, Khắc Xương từ chối làm vua nên Tư Thành nghiễm nhiên có được thiên hạ trong tay.

    Tư Thành có niềm đam mê rất lớn với võ thuật, thành thạo nhiều loại binh khí và kĩ năng, như cưỡi ngựa, bắn cung và đấu vật; và văn học, đặc biệt là thơ Hán và thơ Nôm. Khi rảnh rỗi, một là cậu đi luyện võ với thầy và các bạn đồng môn ở trường Giảng Võ, hai là cậu đọc sách và làm thơ, viết luận trong phủ vương gia hoặc thư phòng. Ngoài ra, Tư Thành còn dành sự quan tâm đặc biệt đối với lịch sử, địa lý, triết học Nho giáo, chính trị và pháp luật. Sau này, khi đã lên ngôi hoàng đế, những khía cạnh khác như giáo dục, toán học, thiên văn học và hội hoạ dần được cậu chú ý nhiều hơn. Tư Thành không bao giờ cho phép bản thân được xao nhãng hay lười biếng, bởi thế nên lịch trình hằng ngày của cậu đều kín hết. Cậu thích lập kế hoạch từ trước đến cả vài tháng và cố gắng hoàn thành công việc một cách hiệu quả nhất. Sống có nguyên tắc là thế, dù vậy Tư Thành vẫn cố dành thêm thời gian giải trí cho bản thân (tất nhiên là vẫn nằm trong kế hoạch định sẵn). Đôi khi cậu sẽ đi vi hành, đóng giả đủ thứ vai, đủ ngành nghề để “mục sở thị” đời sống của bách tính và bắt quả tang quan lại tham ô.

    Đối với Tư Thành, cậu ghét nhất là những kẻ nịnh bợ, không có chính kiến, “gió chiều nào ta theo chiều đó”. Đứng thứ hai là những kẻ tham quyền cố vị, lộng hành, quan lại tham nhũng, chuyên quyền, ức hiếp kẻ dưới và lăm le chiếc ngai vàng của cậu. Từ thời trẻ, cậu đã chứng kiến nhiều vụ hãm hại, tàn sát lẫn nhau giữa các quan lại trong triều, nên cái chết chẳng còn ý nghĩa gì nữa, chẳng còn đáng sợ nữa. Dần dà Tư Thành càng nguội lạnh với sự chết chóc, cho dù có người bị đưa ra chém trước mặt cậu cũng không chớp mắt lấy một cái. Ai đã đắc tội với cậu thì ý nghĩ đầu tiên chính là “xử trảm kẻ đó”. Bởi gần vua như gần cọp thật chẳng sai!

    Suốt 37 năm làm vua, Tư Thành đã đưa nhà Lê đến thời kỳ cực thịnh. Đối với nhân dân, cậu là một vị vua anh minh, “là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được”. Thế mà đối với gia đình, đặc biệt là người anh trai Lê Khắc Xương thì cậu lại đối xử thiếu tình thân ái. Mối quan hệ của họ bắt đầu rạn nứt từ khi Tư Thành lên ngôi vua. Quan đại thần Lê Lăng bị khép tội và xử tử thì Khắc Xương có nói đỡ cho ông, và giây phút Tư Thành dùng quyền lực để đuổi anh trai mình về thì mối quan hệ đã không thể cứu vãn được nữa. Cái chết tức tưởi của Khắc Xương (nghĩ quẩn, lâm bệnh nặng rồi chết trong ngục) cũng do thói đa nghi của Tư Thành mà ra.

    Trong bộ truyện, ngay từ đầu Tư Thành đã không coi ba nhân vật chính như người bình thường rồi! Đêm trước ngày ba người quay trở về quá khứ, Tư Thành đã nằm mộng thấy một cậu thiếu niên bị té lăn cù mèo từ trên núi Chí Linh xuống, rồi cầu xin cậu tìm giúp chỗ ẩn náu và một ân huệ. Sau đó liền xuất hiện hai vị hộ pháp to lớn, một trắng một đen, túm lấy cổ áo và kéo thằng nhỏ quay về (trước sự phản đối quyết liệt của cậu nhóc). Cảm thấy giấc mơ có điểm kì lạ, sẵn dịp vi hành cậu đã ghé chùa Côn Sơn nhằm hỏi ý kiến vị sư trụ trì. Tình cờ là trước đó vị sư đã gặp được ba người giống hệt như miêu tả, thế là Tư Thành tìm mọi cách truy ra tung tích của họ.

    Bởi thế nên cậu đã cố tình nhắm mắt cho qua trước sự xuất hiện đáng ngờ của hai kẻ ngoại quốc ở Đông Kinh. Trong ba người thì Tư Thành thấy mình và tên da trắng – Anh Giản – có nhiều điểm tương đồng nhất và tên da đen – Ninh Khang – có vẻ khả nghi nhất. Cậu xem Duy An (Pax) như con trai thất lạc của vị cố Nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trãi, ân nhân năm xưa của mẹ cậu. Lần nữa, với thân phận “vương gia Lê Hạo” (vì sự hiểu lầm của Duy An), Tư Thành âm thầm giúp đỡ cậu lấy lại thanh danh cho dòng họ. Ngược lại, Ninh Khang (Nick) và Anh Giản (Andrey) – hai vị ‘Hắc Bạch Trấn Môn’ kia – trong quá trình ở lại Đông Kinh và cùng Duy An phá án Lệ Chi Viên đã giúp Tư Thành nhận ra nhiều tư tưởng tiến bộ, giúp cậu điều hành đất nước tốt hơn.

    Lưu ý: Đây là truyện dã sử, tác giả đã xây dựng nhân vật dựa trên hình tượng Lê Tư Thành ngoài đời thật, nhưng có một số tình tiết là hư cấu dưới góc nhìn và phân tích (tâm lý) của tác giả, nên xin mọi người đừng lấy đó mà đồng nhất với chính sử.

    Về bức vẽ: Hình ảnh quen thuộc của Lê Tư Thành khi thiết triều. Cậu đang mặc hoàng bào, một lớp giao lĩnh, trung đơn bên trong, và mũ xung thiên.

    Nguồn: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ (Thánh Tông Thuần Hoàng Đế)

    Credit hoạ sĩ: Joanne Poon (조앤)
    GIỚI THIỆU NHÂN VẬT PHỤ

    Trịnh Viêm
    Đọc tiếp
    Trịnh Viêm (chữ Hán: 鄭炎, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1431), tự Thử Kỳ (暑期), hay Trịnh tuần sát sứ, Trịnh huyện thừa, là người đứng đầu võ ban của huyện Gia Định. Sau bao năm làm quan và đối đầu với tri huyện Phạm Tất, Trịnh Viêm đã trở thành con người chính trực và nghiêm minh, nhưng lại thâm trầm và đầy toan tính.

    Trịnh Viêm vốn xuất thân là cô nhi, sống ở làng Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương, trấn Thanh Hoá. Năm bốn tuổi, ông được các sư trong chùa nhận nuôi và truyền thụ lại võ thuật. Không ai biết họ hàng của ông là ai, vì lúc nhỏ ông chỉ nhớ được một chữ “Trịnh” trong tên của mình. Sau này truy ra gia phả thì mới biết ông là họ hàng xa của khai quốc công thần Trịnh Khắc Phục. Từ nhỏ ông đã rất thẳng thắn và nóng tính (nên mới được đặt huý là Viêm) nhưng đã vô cùng tháo vát và chịu khó làm lụng. Ông chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ sau này sẽ làm quan. Năm mười tám tuổi, ông rời chùa và đi phu một năm, sau đó thi làm cấm vệ binh trong kinh thành. Vì tính tình nhanh nhẹn và ham học hỏi, chẳng mấy chốc những thành tích đã giúp ông thăng chức làm đội trưởng.

    Trong một lần truy bắt tội phạm, ông đã lập được công lớn, ngăn được một vụ mưu sát gia đình Thượng thư Lễ bộ. Thấy Trịnh Viêm là con người tài giỏi, tuấn tú và có nhiều triển vọng, Thượng thư có ý muốn gả con gái nuôi cho. Vì từ chối lời mời, Trịnh Viêm vẫn được ông ta nói tốt cho và trọng thưởng, được thái hậu ban chỉ thăng lên tòng bát phẩm. Sự nghiệp làm quan của ông cứ như diều gặp gió. Ông được điều qua cục Hình, chuyên về phá án, liên tục lập được nhiều công trạng. Sau đó, ông lại được thăng lên chánh bát phẩm, rồi tòng thất phẩm. Cứ tưởng sẽ được ở Đông Kinh dài dài, ai ngờ ông lại bị điều xuống làm tuần sát sứ ở huyện Gia Định.

    Bất mãn trước sự điều phối của triều đình, Trịnh Viêm càng ức chế hơn khi gặp phải đồng nghiệp là một tên tham quan. Phạm Tất lúc này chưa có Lê Ngỗi chống lưng nên không dám làm gì Trịnh Viêm. Hai người là kiểu bằng mặt mà không bằng lòng. Trịnh Viêm lập tức điều tra thân thế của tên chuyển vận sứ kia, biết hết những mánh khóe vòi vĩnh tiền hối lộ của Phạm Tất. Nhưng bản thân ông không muốn làm to chuyện, vì dù gì nó cũng chỉ là mấy đồng vặt vãnh, và gia đình Phạm Tất rất có uy trong vùng. Hai người việc ai nấy làm, thân ai nấy lo, không ai đụng chạm gì đến ai. Thời gian trôi qua thật êm đềm, cho đến xảy ra chính biến Diên Ninh. Khi ấy tên Lê Ngỗi, cháu ruột của Thái uý Lê Lăng, xuất hiện trong làng.

    Trong một lần lơ đãng, Trịnh Viêm đã vô tình nhận tiền của Lê Ngỗi (thật ra trên danh nghĩa là mượn tiền để giúp đỡ một người trong làng trả nợ). Thế là từ đó Lê Ngỗi cứ vịn vào cớ đó để uy hiếp Trịnh Viêm, khiến ông há miệng mắc quai. Trịnh Viêm tức muốn hộc máu nhưng vẫn không thể tố cáo hai người họ. Lê Ngỗi còn dùng thân phận và khả năng tài chính để đe doạ số phận của các tiểu thương và thợ thủ công nhỏ lẻ trong làng. Bất lực trước sự bành trướng thế lực của Lê Ngỗi và Phạm Tất, Trịnh Viêm biết bao lần đã có ý định nghỉ việc. Rồi ông nghĩ đến số phận của dân chúng và gạt bỏ ý định trên.

    Đối với Trịnh Viêm, thằng nhóc Duy An (Pax) giống như là một phép màu từ trên trời rơi xuống, người đã giúp mong muốn của ông thành hiện thực. Chính nhờ cậu mà ông mới lấy hết can đảm đánh cược vào vụ án này. Theo ông, đó chính là vụ án mà ông sẽ lật đổ phe Tất-Ngỗi. Trước mặt Phạm Tất, ông giả vờ mình không biết gì về vụ án, nhưng ông lại bí mật phái tên lính Trình Trung Nghĩa đi điều tra sự việc, còn mình sẽ ở phủ theo dõi mọi cử động của Duy An. Từ lúc đầu, ông đã nghi ngờ thân thế bí ẩn của thằng nhóc. Sau khi phát hiện ra sự thật kinh hoàng, rằng Duy An chính là con trai thất lạc của Nguyễn Trãi, thì cậu ta lại cắn lưỡi tự sát. Cuối cùng Trịnh Viêm cũng cứu được cậu. Cảm thấy vô cùng tội lỗi, ông thề sẽ bảo vệ thằng nhóc này đến cùng, sẽ dùng sức mạnh dư luận để trấn áp sự lộng quyền của hai kẻ kia, cùng dân chúng tố cáo tội ác của bọn họ. Ông còn may mắn gặp được Lê Tư Thành đang vi hành, thế là hai người lập kế hoạch, tương kế tựu kế. Trịnh Viêm biết trước mình sẽ bị Lê Ngỗi hạ độc thủ tiêu nên đã chuẩn bị sẵn. Ông coi nó như một hình phạt cho sự lưỡng lự của mình bấy lâu nay.

    Đối với Trịnh Viêm, hai vị thương nhân ngoại quốc (Andrey và Nicholas) cũng không phải người bình thường. Họ mang thần thái của một người không đến từ thời đại này, mà là một thời đại nào đó rất xa xôi. Những dụng cụ kì lạ mà Trung Nghĩa miêu tả cho ông là bằng chứng khó chối cãi. Trong phần một, ông chưa có dịp tiếp xúc nhiều với họ, nhưng đến các phần sau, Trịnh Viêm là một trong số ít những người biết được thân phận thật sự của hai nhân vật chính. Dù vậy, ông vẫn một mực tin rằng Duy An là con trai của Nguyễn Trãi.


    Lê Ngoạt
    Đọc tiếp
    Lê Ngoạt (chữ Hán: 黎節, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1415), tự Tùng Tiết (松節), hiệu Đình Lễ (亭禮), là một con người tài giỏi và chính trực. Ông làm quan dưới của triều nhà Lê, đến chức Viên ngoại lang Lễ bộ, trật hàm chánh ngũ phẩm thì cáo về hưu do không chịu quy phục dưới quyền của Thiên Hưng Đế Lê Nghi Dân. Ông còn là thầy dạy nhạc và người bạn thân thiết của Hoàng tử Lê Khắc Xương.

    Lê Ngoạt là người làng Võng Thị, là con của một cặp vợ chồng ngư dân nghèo, chuyên đánh cá ở hồ Dâm Đàm. Tuy cha mẹ đều không biết chữ, từ nhỏ Lê Ngoạt đã luôn có mong ước nhận mặt chữ, và một ngày được làm quan trong triều. Năm 21 tuổi, ông đỗ Tiến sĩ và được bổ dụng vào làm quan dưới thời của của vua Lê Thái Tông. Ông chăm chỉ làm việc, tuyệt đối không muốn dính dáng gì đến các cuộc tranh giành quyền hạn các thế lực trong triều. Trước sự thanh trừng quan lại nghiêm khắc của Thiệu Bình đế, ông (lúc đó chỉ là một vị quan tòng thất phẩm nhỏ nhoi) rất sợ bản thân bị ép theo phe phái của các vị quan to khác nên đã trốn rất kĩ, chỉ có mặt khi cần, hạn chế giao thiệp bên ngoài và chỉ nói chuyện với các vị nữ quan Lễ nghi học sĩ. Ngoài ra, ông cũng từng vài lần được diện kiến Nguyễn Trãi và có những cuộc đàm luận văn thơ và âm nhạc thú vị. Từ đó, chàng trai trẻ Lê Ngoạt đâm ra ngưỡng mộ Nguyễn Trãi, và đã vô cùng bàng hoàng trước thảm án Lệ Chi Viên giáng xuống dòng họ Nguyễn.

    Lê Ngoạt trước khi làm quan đã có hứng thú với âm luật và hát chèo. Năm bảy tuổi, ông tự mày mò học thổi sáo, thổi tiêu, rồi tìm thầy dạy cho mình các loại nhạc cụ dân tộc khác như đàn tranh, đàn bầu, đàn tì bà. Khi đã biết chữ, tự ông đã viết ra nhiều tập truyện, tuỳ bút, kịch bản, bài hát, thơ Hán và thơ Nôm. Ông cũng tự kiếm tiền trang trải cho bản thân bằng cách này. Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông càng có ham muốn học hỏi thêm về dòng lễ nhạc cung đình, thậm chí viết thư xin được chuyển vào Lễ bộ. Ở đây, Lê Ngoạt tiếp tục trau dồi và ngày càng xuất chúng, đến nỗi ông đã được chính Thái hậu giao cho nhiệm vụ dạy dỗ âm luật cho các hoàng tử. Trong số các hoàng tử thì Tân Bình vương Lê Khắc Xương là người học trò yêu thích của ông.

    Tân Bình vương cũng vô cùng yêu quý và kính trọng người thầy của mình, hễ kết thúc bài học là cứ lẽo đẽo đi theo thầy đòi dạy thêm. Hai người đã cùng nhau soạn ra nhiều bài nhã nhạc và nhạc dân gian. Cả hai đều có mong muốn thay thế dòng nhạc cung đình phỏng theo quy chế của nhà Minh bằng dòng nhạc mang thuần sắc thái của Đại Việt, nhưng không thành. Chính vì sự nghiêm khắc và cứng nhắc của triều đình nhà Lê, Khắc Xương đã vô cùng bất mãn. Trước sự kinh ngạc của Lê Ngoạt, cậu thiếu niên 16 tuổi đã bắt chước thầy mình và sáng tác một loạt các vở và bài hát chèo rồi nhờ ông bí mật tuồn ra ngoài Đông Kinh. Khắc Xương không giấu thầy mình điều gì (ngay cả chuyện lén lút yêu một cô ca kỹ), và ngược lại, Lê Ngoạt không hề trách móc hay đánh giá cậu. Vì không có người tâm sự, Lê Ngoạt không hề biết Khắc Xương đã rơi vào trạng thái trầm cảm thế nào sau khi ông cáo bệnh về hưu.

    Lê Ngoạt là con người chất phác, thẳng thắn, chính trực, yêu thích nghệ thuật, đặc biệt là kịch, nhưng rất chán ghét khi cuộc sống cung đình chính là vở kịch mà ông phải diễn hàng ngày. Khi chính biến Diên Ninh diễn ra, ông đem lòng hận kẻ giết vua kia nên đã giả vờ bệnh nặng rồi xin nghỉ hưu, trở về với cuộc sống đạm bạc trước kia. Ông làm vậy là do được Nguyễn Trãi truyền cảm hứng, và chính ông cũng chẳng ham gì vinh hoa phú quý sau bao năm làm quan. Điều duy nhất khiến ông hối tiếc là phải từ biệt người học trò cưng của mình.

    Lê Ngoạt cực kì tò mò trước người con trai út của Nguyễn Trãi – Nguyễn Duy An, người mà ông gọi là Đức Bình. Lúc nghe về án ở huyện Gia Định, ông đã tự nhủ phải tìm ra được cậu bé và giúp đỡ cậu minh oan cho dòng họ. Ai ngờ rằng bọn họ đã tự tìm đến ông, ở ngay tại làng Yên Thái, và Duy An còn rất thân thiết với Lê Khắc Xương. Theo Lê Ngoạt, Duy An có vẻ ngoài hơi ngớ ngẩn, cư xử kì quặc, nhưng được cái văn võ song toàn, lại tuổi trẻ tài cao, biết nhiều ngôn ngữ và quen thân với người ngoại quốc. Cậu bé có chí lớn thế là tốt, nên Lê Ngoạt sẽ không ngần ngại giúp cậu khi cần: một chuyến đi đò, một bữa cơm, một lời giải thích liên quan đến kì thi Hương. Ông luôn hy vọng có ngày Duy An sẽ thay thế mình, kết thân với Khắc Xương để cậu bớt cô đơn trong cung cấm. Còn trong hai sứ giả ngoại quốc, Lê Ngoạt đặc biệt có ấn tượng với cậu “Hy Lạp Hoạ Gia” Ninh Khang kia. Dù bản thân không giỏi hội hoạ, ông rất ngưỡng mộ tài năng của cậu và hy vọng sẽ học được gì đó mới mẻ. Lê Ngoạt có tư duy của một người luôn thích tìm tòi, học hỏi những điều mới lạ. Tuổi tác sẽ không bao giờ là rào cản đối với ông.


    Phạm Thị Hoa
    Đọc tiếp
    Phạm Thị Hoa (chữ Hán: 范氏花, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1400), hay Phạm Hoa, còn được gọi là bà Hoa, bà Cả, bác Cả, là bạn thời thơ ấu và hàng xóm với Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ.

    Bà lớn lên ở làng Hải Hồ, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, là con gái của một nhà nho có tiếng trong vùng và một người thợ dệt chiếu. Dưới thời giặc Minh còn đô hộ, cha bà chỉ có thể lén lút dạy học chữ Hán và chữ Nôm cho đám trẻ con, sau này bị phát hiện thì bị bắt đi phu và chết trong rừng. Hai người bạn Lộ và Hoa nương tựa và cùng nhau lớn lên, nên sớm đã biết tự lập và trưởng thành.

    Vì rất hay chữ, bà thường hay kiếm tiền bằng nghề viết chữ thuê để giúp đỡ gia đình. Bà còn có ý định dạy học, tiếp nối nghề của cha nhưng bị phản đối quá, đành phải gạt nó qua một bên. Bà cũng có ý định bắt chước Thị Lộ, làm việc trong cung, nhưng sợ tính cách cương trực của mình sẽ có ngày gây hoạ. Đến giờ bà vẫn không hiểu sao bạn thân mình lại thích làm việc trong cung đến vậy.

    Không như những người con gái khác, bà Hoa lấy chồng rất muộn (27 tuổi) và không có con. Bà rất kiên quyết chờ cho những đứa em đủ lớn mới dám lấy chồng. Bà thông minh, tháo vát, năng nổ và nóng tính, sẵn sàng thẳng thừng từ chối những chàng trai hỏi cưới mình. Bà biết rõ được giá trị của bản thân nên không vội vàng gì với việc lập gia đình. Đối với người hiện đại thì đó là chuyện bình thường, nhưng với người xưa thì bà phải chịu những lời gièm pha và kì thị của mọi người. Bà cũng mặc kệ họ. Khi bà Lộ chia sẻ chuyện làm vợ lẽ của Nguyễn Trãi, một người hơn họ đến mấy chục tuổi, bà Hoa đã một mực khuyên răn, nói rằng người như Nguyễn Trãi thì không nên cưới, nhưng bạn của bà không nghe. Sau này khi tai hoạ ập xuống, bà luôn tìm mọi cách để giúp đỡ từ bên ngoài. Nhờ bà và thầy Lê Đạt nên hai người thiếp của Nguyễn Trãi – Phạm thị và Lê thị – mới có thể chạy thoát.

    Chồng của bà là Đặng Cao Ân, một chủ xưởng làm giấy dó và giấy lệnh giàu có nhất ở cái làng Yên Thái. Ông ta chỉ có đúng một người vợ, nên dân làng giấy thường hay gọi bà là bà Cả, bác Cả, dì Cả, gọi riết rồi không ai còn nhớ tên thật của bà nữa. Sau khi chồng bà mất, một mình bà cáng đáng công việc ở xưởng. Vì tính kỹ lưỡng và hào phóng, bà rất được lòng mọi người, khiến cho xưởng giấy ngày càng phát đạt. Gia tài của bà không bao giờ giữ rịt cho riêng mình. Những mùa hạn hán, lũ lụt, bệnh dịch, bà đều mở kho thóc phát cho dân làng, rồi tài trợ thuốc men cho nhà có người bệnh. Bà giàu có, nhưng không ai có thể ghen ghét với bà.

    Khi nghe tin con trai của Nguyễn Trãi còn sống, bà đã dang rộng vòng tay chào đón đứa nhỏ. Dù gì thì nó cũng là con của người bạn quá cố của bà. Bà càng ngạc nhiên hơn khi phát hiện không chỉ một, mà có đến hai người con còn sống – Tạc Tổ và Duy An. Một đứa giỏi văn, một đứa giỏi võ. Chắc Nguyễn Trãi sẽ rất tự hào. Điều kì lạ là Duy An không hề biết mình có “anh trai”. Bà rất thương hai thằng nhóc, và càng thương hơn khi nghe những gì bọn nhóc đã trải qua. Đối với bà, Tạc Tổ cư xử có vẻ bình thường hơn Duy An, nhưng bà đoán sự bất thường kia có thể đến từ những năm tháng bôn ba khắp nơi và kết thân với nhiều người ngoại quốc.

    Trong ba nhân vật chính, xét theo nhiều khía cạnh thì bà thương thằng nhóc “Rây” (Andrey) nhất. Từ đầu bà đã rất ấn tượng với sự thích nghi nhanh chóng và nhiệt tình thái quá của cậu. “Rây” rất lễ phép, biết điều, siêng năng, thông minh, nhanh trí, nhiều tài lẻ. Cậu rất được việc ở xưởng, ở nhà cũng chăm làm, chăm học.

    Tiếp theo đó mới là Tạc Tổ, Duy An và “Lát” (Nicholas). Theo bác thì Tạc Tổ và Duy An hiền lành nhưng hơi khờ khạo, đôi khi giống như hai con ngựa, phải thúc roi vào mông mới chạy. “Lát” là thằng nhóc kì quặc nhất. Thằng nhóc khi thì trưởng thành, khi thì trẻ con, nhìn thì ngớ ngẩn nhưng lại khôn lỏi, chăm việc nhà nhưng lại lười dọn dẹp, và có thói quen thích gây sự với “Rây”. Vì không thể giao tiếp nhiều nên giữa hai người vẫn còn chút gì đó rào cản. Tuy vậy, bà cũng biết quá khứ thằng nhóc không đơn giản. Vết sẹo chi chít trên cổ tay là bằng chứng rõ ràng nhất.

    Vì thế nên bà mới quan tâm lo lắng cho cả bọn như chính con đẻ của mình.

    Lê Nhật Minh
    Đọc tiếp
    Lê Nhật Minh (chữ Hán: 黎日, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1441), tự Đình Quang (亭光), hiệu Liễu Trai (憭齋), là một kẻ lãng tử. Cậu sinh năm Tân Dậu, Đại Bảo năm thứ hai. Vào Quang Thuận năm thứ hai (1461), cậu được 21 tuổi ta (20 tuổi). Cậu là con trai trưởng của Hình bộ Tả thị lang Lê Cảnh Huy và thứ phu nhân Trần thị (vợ hai).

    Đối với các em trong nhà thì Nhật Minh có nhan sắc tầm thường nhất, thậm chí là xấu. Cậu cao tầm thước, tướng đứng hơi khòm. Da ngăm đen, khuôn mặt vuông vức, đôi lông mày sâu róm và mắt hay cười nên hí tịt. Cậu có lỗ tai to, vểnh ra hai bên và có khả năng nhúc nhích hai vành tai. Lúc thì cậu để ria mép, lúc thì mày râu nhẵn nhụi làm Pax vô tình so sánh cậu giống Sở Khanh. Cậu có dáng người mảnh khảnh, tay chân dài thòng, nhưng cái bụng lại hơi phệ (do uống rượu quá nhiều).

    Từ nhỏ cậu đã được sống trong nhung lụa, được mẹ và dì ba nuông chiều hết mực, mặc dù cha cậu luôn có nỗi lo, rằng một ngày đẹp trời cậu sẽ nổi loạn và trở nên hư hỏng. Cậu quả là có nổi loạn thật. Năm 16 tuổi, cậu từng đi đánh bạc, đánh đến hết sạch tiền, không dám về nhà mà bỏ đi bụi đời hết hai tuần. Sau vụ đó cậu bị cha đánh nát đít và bắt đầu công cuộc tìm vợ cho yên bề gia thất. Từ khi ấy cậu đâm ra sợ cha, trở nên phục tùng và ít đánh bạc hẳn, dù trong thân tâm vẫn tìm mọi cách trì hoãn cuộc hôn nhân. Cậu yêu thích tự do, thích những buổi ngao du đó đây, và rất ghét cưới vợ sinh con, vì theo cậu đó chính là sự bó buộc khủng khiếp nhất trên đời. Cậu thẳng thừng từ chối những tiểu thư xin đẹp gia thế hiển hách, trực tiếp (hoặc lén lút) phá đám các bà mối và đặc biệt là bỏ đi chơi suốt ngày, nhất là khi cha cậu có ở nhà. Cuộc tranh đấu cho quyền tự do đã kéo dài gần 5 năm, và cha cậu lúc này đã gần như bó tay với thằng con ngỗ nghịch.

    Nhật Minh được cho ăn học tử tế nhưng lại không muốn vào Quốc Tử Giám học cùng các bạn đồng trang lứa. Cậu biết chữ Hán và Nôm, văn thơ đối đáp cũng tạm được, giỏi tính toán và khá nhanh trí. Dưới ánh mắt của mọi người trong phủ, cậu là một tên trưởng tử ăn chơi sa đoạ, mê tửu sắc và tiêu tiền như nước, là thứ mà bà dì Cả gọi là “phá gia chi tử”. Nhưng trong mắt người em gái Nguyệt Hạ, Đào Xuân và người em trai Phú Hiển, cậu là một người anh cả dễ dãi, hài hước và rất cưng chiều em. Không ai biết cậu dùng số tiền xin đi chơi của cha để mở một quán ăn kinh doanh, sau này làm ăn rất phát đạt. Những buổi đi chơi kỹ viện thật ra là để tìm hiểu và học hỏi các hình thức kinh doanh khác nhau, sẵn tiện ngắm các người đẹp. Lâu ngày, cậu xây dựng hình tượng một ông chủ nghiêm khắc và biết cách nắm lấy cơ hội, và cuối cùng thì cậu cũng có thể tự lập ở tuổi 22.

    Nhật Minh rất yêu thích nghệ thuật, tuy nhiên người nhà cậu không ai ủng hộ sở thích này. Cậu chỉ dám thổ lộ điều này với Nguyệt Hạ, người có cá tính giống cậu. Cậu đam mê hội hoạ, biết thổi sáo và đánh đàn tranh. Chỉ khi được đắm mình trong tiếng nhạc, cậu mới có thể thả hồn đi khắp nơi, và được là chính mình. Ước mơ lớn nhất của Nhật Minh chính là được ngao du thiên hạ, điều mà cậu cho là khó bao giờ đạt được. Với thân phận con trai trưởng, theo lẽ thì cậu phải cưới năm bảy bà vợ để nối dõi tông đường, là một đứa con hiếu thảo, chứ không phải rũ bỏ hết tất cả và xách túi nải lên đường. Nghệ thuật, đối với cậu, chính là sự giải thoát duy nhất khỏi những luật lệ phong kiến hà khắc.

    Đối với gia đình, cậu yêu mẹ, sợ cha, quý mến dì ba và các em, và chán ngán dì cả. Cậu lười biếng nhưng đối xử hoà nhã với mọi người, vui tính và cười rất nhiều. Ở nhà cậu ăn mặc sang trọng, chỉ khi ra đường thì ăn mặc bình dân để tránh bị lộ mặt. Đối với bạn bè, cậu chỉ có duy nhất một người bạn thân, họ Du tên Hoài. Hai người gặp nhau ở trường và kết thân từ đó. Và rồi cậu gặp mặt Ninh Khang.

    Đối với Nhật Minh, Ninh Khang giống như một phép màu vậy. Người hoạ gia xứ Hy Lạp này là hiện thân của mọi ước mơ trong đầu cậu. Thiên tài hội hoạ, biết âm luật, biết làm phép (ảo) thuật, thông minh, tài năng, tự do tự tại. Không biết ngôn ngữ Đại Việt cũng chẳng sao, miễn là hai người có thể hiểu nhau qua ánh mắt và cử chỉ. Cậu thấy Ninh Khang rất giống mình, rất nghệ sĩ, phóng khoáng, chân thành, sòng phẳng và không toan tính. Cậu hay rủ bạn bè mua tranh của Ninh Khang, rồi mời đi thăm thú đó đây. Hai người hay đua ngựa chạy đường dài hoặc ngồi hàng giờ trên đỉnh đồi ngắm cảnh. Ninh Khang hay tặng cậu những bức vẽ, và ngược lại cậu tặng cho anh chàng cây sáo ngọc của mình, sẵn tiện dạy thổi sáo luôn. Ninh Khang rất hay động tay động chân với cậu: ôm, hôn tay, khoác vai, xoa đầu, cái cậu đoán là phong tục của xứ Hy Lạp xa xôi. Cậu cũng chẳng ngại gì, thậm chí còn thích sự mới lạ này. Tuy vậy, càng quen biết Ninh Khang thì ước mơ được tự do càng trở nên cháy bỏng, và cậu nhận ra mình sẽ trở nên vô cùng đau khổ khi bị ràng buộc trách nhiệm của lễ giáo phong kiến.

    Hai người đồng hành của Ninh Khang – Duy An và Anh Giản – lại là một bí ẩn khác. Sau này, khi cùng nhau phá án, Nhật Minh mới có thể hiểu thêm đôi chút về họ. Duy An hiền lành và nhu nhược nhưng vô cùng tử tế. Anh Giản hắc ám hơn và hay nhìn đời bằng nửa con mắt, nhưng lại rất thông minh và thực dụng. Nhật Minh thích Duy An hơn vì Anh Giản hay coi thường và thích gây sự với Ninh Khang. Con người của Anh Giản quá cao ngạo, và đối với cậu, người cao ngạo sẽ dễ gặp thất bại trên trường đời.


    Lê Nguyệt Hạ
    Đọc tiếp
    Lê Nguyệt Hạ (chữ Hán: 黎月夏, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1445), tự Ngọc Quỳnh (玉瓊), là một cô nàng cực kì cá tính. Cô sinh năm Ất Sửu, Thái Hoà năm thứ ba. Vào Quang Thuận năm thứ hai (1461), cô được 17 tuổi ta (16 tuổi). Cô là con gái thứ hai của Hình bộ Tả thị lang Lê Cảnh Huy và thứ phu nhân Mạc thị (vợ ba).

    So với các chị em gái trong nhà thì Nguyệt Hạ bị coi là kém sắc nhất, nghĩa là chỉ toàn giống mấy cái xấu của cha mẹ: mặt vuông vức, lùn tịt, tay chân ngắn ngủn, da đen sạm do cháy nắng, tóc rễ tre lúc nào cũng xù lên, mũi tẹt, răng hô, hai bên má lấm tấm mụn. Ngoại trừ đôi mắt ti hí khi cười lên rất có duyên và má lúm đồng tiền bên trái thì nhìn cô chẳng có gì nổi bật. Cô thường bị chị cả Hoài Thu chê bai về ngoại hình và luôn nhắc nhở phải chăm sóc bản thân thật tốt, nhất là khi thường xuyên về nhà lấm lem và xơ xác sau buổi cưỡi ngựa với anh trai. Với mái tóc dài quanh năm xù ra như cây chổi chà, cô thường chẻ mái đôi và thắt bím ra sau, cột bằng sợi dây màu vàng, và không bao giờ để tóc dài đến thắt lưng. Có lần cô đã cắt xén mái tóc, làm cho nó ngắn hơn vai để dễ cột lên như ông anh, thế là bị mẹ phạt quỳ gối hết mấy tiếng đồng hồ. Cô thích mặc trang phục nam hơn nữ, có ít nhất vài bộ giao lĩnh chín thân giấu dưới giường (do Nhật Minh mua cho). Tuy vậy, cô vẫn thích mặc kết hợp các loại giao lĩnh, viên lĩnh, thường, đối khâm, chủ yếu là màu vàng, cam và đỏ.

    Vì là con thứ nên Nguyệt Hạ có cảm giác cha mẹ quên mất sự hiện diện của mình. Không như người chị cả xinh đẹp tinh thông cầm, kì, thi, hoạ, lấy được tấm chồng tốt, là người con gái ngoan hiền, gương mẫu, hay người anh trai cả Nhật Minh nổi loạn nhưng cực kì tháo vát và tài giỏi, hay như người em trai Phú Hiển luôn chăm chỉ đọc sách thánh hiền, chờ ngày đỗ đạt, Nguyệt Hạ biết mình chính là đứa con gái bất tài, vô dụng, nhạt nhoà nhất trong gia đình. Làm thì dở mà phá hoại thì giỏi. Đã vậy còn cư xử như một thằng con trai, luôn bị mọi người đánh giá là “thứ con gái vô duyên, mất nết”, sợ sau này sẽ không lấy được chồng. Mẹ cô đã nhiều lần tìm người mai mối cho con gái nhưng sau khi gặp mặt Nguyệt Hạ thì mấy chàng trai chỉ có nước chạy dài.

    Nguyệt Hạ có tính cách khác hẳn với chuẩn mực của con gái thời xưa: thẳng thắn, bốc đồng, nóng tính, cẩu thả, lười biếng, đam mê võ thuật, mê tiền hơn mạng,… bị uốn nắn cách mấy cũng không sửa được. Cha cô do bận bịu công việc triều chính nên khi về nhà chỉ dạy dỗ vài lần, trước cô con gái ương ngạnh quá cũng đành bất lực. Mẹ cô đến giờ vẫn chưa bỏ cuộc, vẫn còn nuôi hy vọng một ngày nào đó con gái bà sẽ có người hốt. Thấy cô nàng gần gũi chàng trai nào (có gia thế tốt) là bà liền ghép đôi họ ngay. Sau này đến 19 tuổi mà vẫn còn ế thì tiêu chuẩn giảm đi chút xíu, chỉ cần chàng trai nào tốt hỏi cưới thì sẽ chấp thuận. Tưởng chừng vì quá hổ báo nên sẽ ở giá cả đời, ai ngờ sau này lại nên mối nhân duyên với một người đặc biệt.

    Nguyệt Hạ thích giả trai trốn ra ngoài phủ, cưỡi ngựa, bắn cung và đánh võ. Khổ cái vì không có năng lực hoá trang, mỗi lần cô ra ngoài đều bị phát hiện (đầu tiên là giới tính, tiếp theo là thân phận tiểu thư nhà quan). Cô đánh võ tàm tạm, là do Nhật Minh lén dạy cho. Kỹ năng bắn cung và cưỡi ngựa là do cô tự luyện tập. Nguyệt Hạ thích hát chứ không thích đàn, thích chơi bài chứ không thích đánh cờ, thích bàn luận văn học hơn là làm thơ, và chỉ thích ngắm tranh chứ không thích vẽ. Công, dung, ngôn, hạnh đã không có, cầm, kì, thi, hoạ lại càng chẳng thấy đâu. Nói vậy chứ Nguyệt Hạ chưa bao giờ hối hận. Cô luôn muốn sống thật với chính mình trong cái xã hội phong kiến hà khắc này. May mắn thay, sở thích của cô luôn có một người đứng sau ủng hộ - đó là anh cả Nhật Minh.

    Nguyệt Hạ chỉ “hổ báo” cho tới giây phút gặp được Duy An. Trong mắt cô, Duy An là một chàng trai hoàn hảo. Đẹp trai (theo tiêu chuẩn ngày xưa nha), văn võ song toàn, đã vậy tính cách còn hiền lành, dễ sai bảo và nói chuyện rất hợp rơ với cô. Duy An vô cùng lịch sự, nghe cách nói chuyện là biết người có học, lại là người có kiến thức sâu rộng ở các lĩnh vực lạ và luôn tôn trọng sở thích của cô, không bao giờ đánh giá cô bằng những tiêu chuẩn thời xưa. Việc Duy An là “con trai” ngài Đại hành khiển Nguyễn Trãi càng khiến cậu trở nên thú vị. Hai người có một điểm chung rất lớn: đó là cảm giác bản thân là thành viên vô dụng nhất nhà. Khi gặp Duy An, ngoài việc thích khiêu khích cậu đấu võ thì Nguyệt Hạ mới bộc lộ sự nữ tính của mình (làm quá đến nỗi ai trong phủ cũng biết), và tự nhủ sau này nhất định sẽ cưới cậu về làm chồng (bắt rể luôn tại không còn chi họ Nguyễn ở Nhị Khê).

    Với hai tên ngoại quốc bạn của Duy An, Andrey (Anh Giản) và Nick (Ninh Khang) thì Nguyệt Hạ cũng tò mò không kém. Cô ngưỡng mộ sự thông minh nhanh trí của Anh Giản và đặc biệt yêu thích những bức tranh của Ninh Khang. Cô là người đầu tiên bao che cho Ninh Khang trong vụ trọng án ở phủ, và cùng với anh trai Nhật Minh tích cực tìm bằng chứng minh oan cho cậu.

    Còn với tên Phạm Tạc Tổ thì Nguyệt Hạ mới nhìn đã thấy khó ưa kinh khủng. Cậu ta đúng là kiểu thư sinh trói gà không chặt, suốt ngày đi “dạy đời” cô về thứ lễ nghi phép tắc (hệt như mẹ của cô) nên Nguyệt Hạ rất ghét, tìm đủ mọi cách cà khịa lại cho đỡ tức. Đối với cô, Tạc Tổ là kiểu người nói thì giỏi nhưng làm thì không được, thêm cái yếu đuối, mong manh dễ bể, lại không biết võ thuật nên giá trị của cậu trong mắt cô chỉ bằng con kiến. Tạc Tổ cũng chẳng ưa gì cô nàng, nghĩ cô là một con người vô duyên suốt ngày đu bám “em trai” Duy An nên lén lút (cùng Andrey) tìm cách phá đám, sợ Duy An mà dính vào cái nhà đó thì chỉ thêm rắc rối thôi. Ghét thì ghét vậy chứ, nhưng tương lai thì làm sao biết được. Ghét của nào trời cho của đó mà!


    NHỮNG TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Chữ Nôm và Công Việc Khảo Cứu Cổ Văn Việt Nam - Dương Quảng Hàm
    2. Đại Từ Điển Chữ Nôm - Vũ Văn Kính
    3. Đại Việt Sử Kí Toàn Thư - Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sỹ Liên
    4. Đại Việt Thông Sử - Lê Quý Đôn
    5. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
    6. Lam Sơn Thực Lục - Nguyễn Trãi
    7. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí - Phan Huy Chú
    8. Nghìn Năm Áo Mũ - Trần Quang Đức
    9. Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu) - Nhiều tác giả
    10. Quốc Âm Thi Tập - Nguyễn Trãi
    11. Quốc Triều Hình Luật - Viện Sử Học
    12. Tứ Thư Bình Giải - Lý Minh Tuấn
    13. Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) - Nhiều tác giả
    14. Thập Bát Ban Võ Nghệ - Lê Văn Tâm
    15. Thuốc Nam - Nguyễn Công Đức
    16. Trang thơ Lê Thánh Tông (thivien.net)
    17. Trung Dược Lâm Sàng - Trương Thụ Sinh, Vương Chi Lan
    18. Tuệ Tĩnh Toàn Tập - Nguyễn Bá Tĩnh
    19. Ức Trai Di Tập Dư Địa Chí - Nguyễn Trãi
    20. Việt Điện U Linh Tập - Lý Tế Xuyên
    21. Việt Nam Phong Tục - Phan Kế Bính
    22. Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
    23. Vũ Trung Tuỳ Bút - Phạm Đình Hổ
    Cùng các tài liệu khác liên quan đến võ cổ truyền, đối đáp, văn thơ, các nghiên cứu tâm lý học (sẽ được trích dẫn sau mỗi chương) và kiến thức học thuật cũng như thực tế của tác giả.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/1/20 lúc 00:00
  2. 86
    1,780
    138
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng Thành viên tâm huyết

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 51
    LƯƠNG Y


    Thật là đáng báo động!

    Thân nhiệt của Nick truyền qua hai cánh tay tôi. Cái trán nóng hừng hực của cậu ấn vào vai làm tôi nhảy dựng lên như bị bỏng. Andrey nhanh chóng đỡ lấy cậu và vác đến bên chiếc giường gần nhất, tranh thủ kiểm tra những dấu hiệu bệnh. Theo sát sau lưng là bác Cả và Tạc Tổ. Cơn giận của bác Cả chắc giờ đã tiêu tan hết, bởi chưa gì mà bác đã muốn đi gọi thầy lang ở làng bên cạnh cho Nick. Tạc Tổ chỉ dám lặng lẽ đứng ra sau, một tay ôm lấy mặt.

    Mời đọc tiếp Chương 51
    Tôi thận trọng ngồi xuống bên giường, “Cậu ta... không sao chứ?”

    “Không!” Andrey nạt, vén tay áo của Nick lên để bắt mạch. “Nhìn cậu ta đi! Tại sao lại để ra nông nỗi này? Tại sao không nói cho tao sớm hơn?” Andrey ấn hai ngón tay lên cổ tay gầy guộc chừng vài giây, nhắm tịt đôi mắt. Tôi không biết thằng bạn đã học được những gì về kĩ thuật bắt mạch trong Đông y. “Mạch đập nhanh quá, gần như gấp đôi nhịp trung bình, đã vậy còn không ổn định...”

    “Như vậy nghĩa là?”

    “Làm sao tao biết được? Sốt cao như vậy là triệu chứng của rất nhiều loại bệnh, đã vậy tụi mình còn không biết cơn sốt bắt đầu từ khi nào, sốt liên tục hay sốt từng cơn, thân nhiệt cao lên dần đều hay tăng đột ngột...”

    “Tất nhiên là chúng ta không thể nào biết được,” tôi chêm vào, “trừ khi Nick tỉnh dậy.”

    “Nói chung là,” Andrey đứng bật dậy và vuốt mặt, “cái thằng khốn kiếp này đã biết mình bị sốt như vậy mà còn dám đi ra ngoài, trời trưa nắng nóng thì không đội nón, rồi buổi tối ngủ lạnh thì không trải chiếu, đắp chăn... Suốt ngày cứ thích đi lông bông ngoài đầu đường xó chợ, đi từ sáng sớm đến tối mịt. Không ai biết cậu ta làm cái gì, ở đâu, còn sống hay đã ngoẻo...”

    “Thôi... thôi mà...”

    Andrey tức tối làm một tràng dài, càng nói càng hăng. Sắc mặt của cậu thay đổi xoành xoạch, khi thì đỏ bừng, khi thì đen kịt. Tôi mà hỏi nữa chắc Andrey sẽ lật luôn cái bàn chứ không đùa đâu.

    Từ đằng sau, Tạc Tổ bước tới và chạm vào vai tôi, có ý hỏi chuyện. Tôi lẹ làng giải thích tình hình và tranh thủ kéo Tạc Tổ qua một bên, tránh đi “quả bom” trước mặt.

    “Không ổn rồi. Tôi sợ quá cậu ạ.”

    “Ừ. Tôi cũng vậy.” Tôi bày đặt ngó nghiêng. “Ủa? Mà bác Cả đâu rồi?”

    “Bác ấy đã ra ngoài rồi. Có lẽ bác muốn tìm thầy lang cho Ni-cô-lát?”

    “Vậy chúng ta nên ngồi đây chờ thôi. Khi nào cậu ta tỉnh dậy sẽ hỏi chuyện.”

    Thế là bọn tôi nóng ruột ngồi chờ. Trong lúc đó Andrey lặng lẽ đi nấu cháo, rồi lục lọi ba lô lôi ra một vỉ Tylenol (còn ba viên cuối cùng) và viên sủi vitamin C. Tạc Tổ thô lố mắt trước viên thuốc lạ, lẩm bẩm hỏi về thứ “thần dược” bị tên Lê Ngỗi nhắm tới trong án trước, làm tôi không biết phải trả lời thế nào. Quả thật trong tình huống nguy cấp này thì Andrey chẳng thèm giấu diếm gì nữa.

    Chẳng biết bọn tôi đã chờ trong bao lâu, cuối cùng thì Nick cũng chịu tỉnh dậy.

    “Tao chết rồi,” cậu ta thì thào.

    “Ê, mày cảm thấy thế nào?” Andrey hỏi ngay, tay lần nữa đặt lên trán của Nick, chỗ đã chườm khăn lạnh.

    “Andrey quan tâm tới tao,” Nick lẩm bẩm, mắt từ từ nhắm lại, “Vậy thì tao chết thật rồi!”

    “Này! Này! Nicholas! Không được ngủ nữa!” Andrey xém chút nữa đã hét giật giọng, “Tao đang nghiêm túc đó, cái thằng đầu buồi...”

    “Mày sao rồi?” Tới lượt tôi nhẹ giọng hỏi. Sự nóng nảy không đúng lúc này của Andrey chỉ toàn làm rách việc. Ừ thì, tôi biết cậu ta đang cực kì lo lắng cho Nick, nhưng điều đó không có nghĩa là cậu nên biến sự lo lắng đó thành những cơn giận bộc phát tức thời.

    Nick lại chầm chậm mở mắt. Lần này cậu chớp hai lần như muốn định thần lại, sau đó con ngươi từ tốn đảo qua lần lượt từng người. Tạc Tổ phía sau, Andrey và tôi phía trước. Khoé miệng cậu nhếch lên thành nụ cười ngờ nghệch, ngón tay nắm lấy ống tay áo của Andrey, giật giật.

    “Andrey...”

    “Chuyện gì?”

    “Nếu... nếu lần này,” từ ống tay áo, Nick chụp lấy cổ tay của thằng bạn và kéo lại gần, thều thào, “tao không thể qua khỏi...”

    “Không! Không thể nào! Tao sẽ không để chuyện đó xảy ra!” Andrey át luôn lời trăn trối. “Mày cảm thấy thế nào rồi?”

    “Tao cảm thấy... mệt mỏi, chóng mặt, đau nhức toàn thân. A, có con ruồi nè! Ờm... thì nặng nề, giống như bị tạ đè. Bên ngoài thì nóng, bên trong thì lạnh...”

    “Gì nữa?”

    “Tao... có cảm giác... Ủa, tại sao tao lại ở đây? Đáng lẽ tao phải ở chỗ của Nhật Minh chứ...” Nói rồi Nick ngả đầu qua một bên, mắt từ từ nhắm lại. “Chắc lại uống rượu nhiều quá... Mấy người đẹp đâu rồi?”

    “Này! Này, Nicholas! Không được ngủ! Mày mà dám ngủ nữa là tao sẽ...”

    À! Vậy là thằng bạn của tôi đang mê sảng. Bình thường Nick đã cư xử kì quặc, nay chắc cậu không còn biết xấu hổ là gì. Đúng như tôi đã lo sợ, cậu lật cổ tay Andrey và hôn lên đó một cái chóc!

    “Người đẹp... Andrey... là người đẹp...” Nick lảm nhảm.

    Cái gì vậy trời!?

    Andrey cẩn thận gỡ các ngón tay đang bấu chặt kia ra, vừa làu bàu vừa kéo lại vạt áo (tôi nghe được mấy cụm từ như “đồ háo sắc”, “mê gái bỏ bạn”, “ăn chơi trác táng”). Điều ngạc nhiên là cậu không hề nổi đoá hay la hét ỏm tỏi như khi nãy, thậm chí còn kéo tay và đỡ lưng cho thằng bạn mình ngồi dậy. Andrey lau mặt cho Nick và đưa cho cậu chén cháo nóng hổi. Cậu làm tôi nhớ tới cái cách mẹ chăm sóc mỗi lần bọn tôi bị ốm.

    “Ăn cái này, uống thuốc rồi nghỉ ngơi thật tốt. Chút nữa bác Cả sẽ gọi thầy thuốc đến chẩn bệnh cho mày...”

    “Không ăn đâu! Không uống thuốc. Tao mệt quá!” Hai cánh tay Nick như hai cái vòi bạch tuột, quấn chặt lấy Andrey. Cậu ngả đầu lên vai Andrey rồi dụi dụi vài cái. “Ôm... ôm...”

    Nick từ nhỏ vốn dĩ đã thiếu thốn tình thương, lúc mất đi ý thức cơ thể sẽ tự động tìm kiếm một chỗ dựa đáng tin cậy cho mình. Chứng kiến cảnh tượng này làm tôi tự dưng thấy xót cho cậu quá! Dường như Andrey có cùng suy nghĩ với tôi, bởi thằng nhỏ chỉ thở dài, nhè nhẹ vỗ lưng Nick như đang dỗ dành một đứa trẻ.

    “Thôi, thôi được rồi. Tao biết mày đang rất mệt, nhưng hãy cố gắng ăn đi! Ăn xong xuôi thì... tao sẽ ôm mày.”

    “Thật không?”

    “Thật.”

    “Ôm và hôn nữa...”

    Đúng là cái thứ “được voi đòi tiên”, tôi nghĩ, bĩu môi, Cái đồ cơ hội. Andrey liên tục ra hiệu bằng mắt với tôi, tín hiệu lẫn lộn, hình như là sự đan xen giữa “cứu”, “giúp” và “biến”.

    Tôi nghiêng đầu, chìa ra bộ mặt bối rối. Rốt cuộc thì cậu ta muốn tôi làm gì?

    Cứu Nick thì chắc tôi cứu không được rồi! Giúp Andrey thì tên vô dụng như tôi giúp được gì? Còn biến khỏi đây thì tôi dư sức!

    Hiểu rõ vấn đề, tôi toét miệng cười, đưa ngón cái lên và kéo Tạc Tổ ra khỏi căn phòng.

    ----------​

    Buổi chiều tà mà bác Cả lẫn thầy thuốc vẫn chưa về đến nhà, làm tôi trở nên xót ruột vô cùng. Tình trạng bệnh của Nick vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Sau khi ăn uống và trả lời một đống câu hỏi từ Andrey, Nick đã lăn ra ngủ tiếp.

    “Có khi nào...” Tạc Tổ mạnh dạn suy đoán, trong lúc hai đứa đang ngồi thừ người ra ở bậc thềm sân sau, “cậu Ni-cô-lát bị nhiễm vào thứ bệnh ấy...”

    Mặc dù rất muốn gạt phắt thứ giả thuyết kia, tôi vẫn nghiến răng trả lời, “Có lẽ... Tôi... tôi chỉ cầu mong cho cậu ta mau chóng qua khỏi.”

    “Cậu An-rây kia có tài y thuật xuất chúng, tôi tin cậu ấy sẽ tìm ra cách thôi mà.”

    Làm gì có chuyện đó! Khoé miệng giần giật, tôi vội quay mặt đi chỗ khác, không dám đổ gáo nước lạnh vào ngọn lửa lạc quan le lói của Tạc Tổ. Thằng Andrey chỉ là học sinh, trình độ và kiến thức y học chỉ ngang với tay mơ. Cậu ta chủ yếu đọc nhiều sách lý thuyết, chứ ba cái vụ chữa bệnh này thì còn lâu mới được thực nghiệm ở thời hiện đại. Vụ án trước tôi không biết cậu ta rút mũi tên và khâu vết thương kiểu gì, nhưng không thể chừa ra khả năng Andrey là “chó ngáp phải ruồi”.

    Nhắc đến thằng bạn là nó liền xuất hiện. Trông bộ dạng của Andrey giống như mấy thực tập sinh vừa xong ca trực khuya trong phòng hồi sức cấp cứu.

    “Nick thế nào rồi?”

    Andrey lắc đầu, thả người xuống cạnh tôi và gục đầu vào hai cánh tay. Đợi chừng vài phút cậu ta mới ngước lên và trả lời.

    “Tao đã hỏi hết rồi. Cạy miệng một thằng Nicholas mê sảng còn khó gấp chục lần một thằng Nicholas say xỉn. Nói chung là hiện tại vẫn chưa kết luận được gì. Tao biết được cậu ta bắt đầu phát hiện các dấu hiệu khác thường vào hai ngày trước, từ sau bữa tối. Người phát ớn lạnh theo từng cơn. Mệt lả, đau đầu và chóng mặt. Nicholas còn nói, cả người của cậu ta nhức mỏi, nhất là ở phần hai cánh tay và cẳng chân. Đến sáng hôm nay thì phát hiện sốt cao, suy nghĩ không thông suốt, rồi đến ngất xỉu vì kiệt sức và mê sảng.”

    “Ừ,” tôi lại giở thói a dua, “Đúng là chưa thể nói được gì.”

    “Mê sảng chứ cái thói đu bám và cơ hội của cái thằng đó vẫn y chang lúc tỉnh táo. Báo hại tao phải dụ dỗ đủ kiểu mới chịu ăn. À, lúc nãy còn vừa ăn cháo vừa lảm nhảm, cái gì mà, xung quanh tao tràn ngập âm khí, phải tuyệt đối cẩn thận... Đúng là vớ vẩn!” Andrey khịt mũi rồi tự lẩm bẩm. “Hèn gì hôm đó Nicholas đã bắt đầu nói năng linh tinh. ‘Thế lực’ gì ở đây hả trời?”

    Chuyện này thì tôi không đồng ý lắm. Ngẫm đi nghĩ lại, tôi cảm thấy Nick vẫn còn khá tỉnh táo trong buổi họp hôm ấy. Những lời nhận xét và đóng góp ý kiến đều rất hợp lý. Theo tôi thì Nick chỉ bắt đầu mất đi lý trí vào sáng ngày hôm qua.

    Tuy vậy, tôi vẫn không nghĩ mình nên xem nhẹ lời cảnh báo về một “thế lực tiềm ẩn” của Nick.

    “Còn mày nữa. Hồi nãy tao kêu giúp tao thoát ra khỏi đó để đi chuẩn bị thuốc, vậy mà nỡ lòng nào bỏ tao đi luôn.” Andrey đảo mắt, ngáp một cái thật dài. “Tao đi chợp mắt một chút, khi nào bác Cả về nhớ dựng đầu tao dậy.”

    “Ok.”

    Ngồi bên cạnh, Tạc Tổ lặng lẽ lắng nghe cuộc trò chuyện bằng tiếng Anh của bọn tôi, mặt biểu lộ ao ước muốn học thứ ngôn ngữ này. Tôi tóm tắt lời của Andrey (bỏ qua mấy lời than phiền), ngạc nhiên khi thấy Tạc Tổ thở ra một hơi dài thườn thượt.

    “An-rây nói vậy càng khiến tôi lo sợ... ngộ nhỡ... Cậu biết không, đa phần những bệnh nhân trong làng đến khi chẩn được bệnh thì đã quá trễ. Thuốc thang cũng chỉ làm thuyên giảm các triệu chứng chứ không thể khiến bệnh tiêu trừ hoàn toàn...”


    “Này, này, cậu đừng gở mồm gở miệng như thế chứ!”

    Tính từ trước đến nay, Nick đã sống sót qua những trận bạo hành của cha dượng, những đêm lang thang đói rét ngoài đường, những lần nghĩ quẩn rồi tự sát. Con người lương thiện như cậu ta luôn có ơn trên phù hộ, không thể nào chết dễ dàng như vậy được.

    “Tôi...”

    “Thôi bỏ đi.” Tôi phẩy tay, tranh thủ xua mấy con gà. “Vấn đề quan trọng hiện giờ là tìm được thầy lang giỏi để chữa bệnh cho cậu ấy, và phải bồi bổ để cậu ta mau lấy lại sức.”

    Tạc Tổ gật gù. Cậu lại ngồi thừ ra như trước, hai tay chống cằm, tầm mắt hướng vào vô định. Tôi bắt chước cậu, mắt dõi ra đằng xa xa. Mặt trời đã lặn quá nửa trên đường chân trời, tô lên vạn vật cái sắc đỏ cam chói loà và ấm cúng. Ở hướng đối diện, bầu trời xuất hiện lốm đốm các chấm tinh vân, nhạt nhoà sau đám mây thưa thớt.

    Ngắm nhìn cảnh hoàng hôn dần buông lại khiến lòng tôi mang tâm sự. Hoàng hôn là sự kết thúc của ánh sáng ban ngày, cũng là sự khởi đầu của trăng, của sao, của cuộc sống về đêm. Mọi thứ trong thế giới này đều có sự luân chuyển không ngừng.

    Rồi tôi lại nghĩ về sự khả biến của cuộc đời con người, khi bệnh tật là một điều không ai có thể tránh khỏi. Vì thế, chuyện Nick bị bệnh là hoàn toàn bình thường. Tôi nên chấp nhận nó, bình thường hoá nó, trước khi nó ăn mòn đi tâm trí tôi.

    Nhưng nếu Nick không qua khỏi thì sao? Giọng nói ấy lại vang lên. Tất cả tội lỗi sẽ đổ lên đầu mày.

    Im đi! Nick sẽ vượt qua. Nick sẽ vượt qua được hết!

    Tôi bật dậy, định vớ lấy cây trường côn dựng ở góc tường thì bị Tạc Tổ níu lấy ống tay áo.

    “Bác Cả về rồi!”

    ----------​

    Bác Cả về nhà với giỏ thức ăn đầy ắp và khuôn mặt cáu kỉnh. Không có thầy lang theo cùng.

    “Tại sao lại như thế được hở bác?” Tôi xộc tay vô mái tóc, bất mãn hơn cả hai người kia. “Chẳng lẽ khắp ba thôn không một ai muốn chữa cho cậu ta?”

    “Bọn lăng băm kia đúng là một lũ vô tích sự, vừa nghe đến danh của cái cậu Lát kia đã co giò chạy biến. À, có một vị tu sĩ từ chùa Trấn Quốc, người duy nhất chịu chữa thì lại đang ở huyện Thuỵ Anh thuộc phủ Thái Bình, sớm ngày mốt mới về đến kinh thành.” Bác Cả bước tới giường, tay đặt lên trán Nick. “Thôi, bảo thằng nhỏ cố chịu đựng, ta sẽ nấu món gì cho nó ăn.”

    “Đúng rồi.” Tạc Tổ gật đầu lia lịa. “Phải bồi bổ cho thật tốt thì mới mau chóng khỏi bệnh. A! Bác Cả ơi, hay là cháu...”

    Khoé mắt Tạc Tổ giật hai cái. Cậu nhai môi dưới, hai tay giấu vào túi áo, mắt khẽ liếc ra ngoài sân. Bác Cả kiên nhẫn chờ đợi.

    “Hay là?” Tôi hỏi.

    “Cháu có thể... bắt một con gà để nấu cháo...”

    “Không!” Tôi la lên, thất kinh trước đề nghị kia. “Không! Không! Cậu... cậu không cần phải làm thế! Ối trời ơi, đừng có giết gà mà!”

    Hai người nhướn mày nhìn tôi lên cơn kích động.

    “Ờm... thì ăn cái khác cũng được mà. Hoặc là... hoặc mua gà chết rồi ở ngoài chợ ấy, chứ cậu đừng có giết tụi nó! Giết tụi nó... tội nghiệp lắm!”

    Ánh mắt của bác Cả thoáng lên thứ gì đó khó gọi tên, trong khi Tạc Tổ nhè nhẹ thở ra. Chắc cậu cũng chẳng ưa gì phương án tàn nhẫn này. Sống cùng mấy con gà một thời gian, dù không ưa gì tôi vẫn không nỡ lấy mạng bọn chúng. Nick nếu biết cũng sẽ chẳng muốn ăn đâu.

    “Được rồi. Vậy để ta nấu...”

    Cộc! Cộc! Cộc!

    Là ai thế nhỉ? Tôi vội chạy ra mở cửa thì bắt gặp một ông lão. Ông có khuôn mặt phúc hậu, vầng trán cao, chòm râu bạc rủ xuống từ hai bên khoé miệng. Tuy đã già nhưng dáng đứng thẳng tắp, vai đeo một cái hộp hình chữ nhật.

    Bộ dạng này, khí chất này...

    “Cháu chào ông ạ. Ông đến đây có việc gì thế?”

    “Cậu bé, cho Lưu mỗ hỏi, đây có phải là Phạm gia của làng Yên Thái?”

    “Đúng rồi ạ.”

    “Ta đích thân nhận được lời mời từ công tử Nhật Minh,” mắt ông tràn ngập ý cười, đầy sự cảm thông, “đến đây để chẩn bệnh cho vị bạn hữu ngoại quốc của cậu ấy.”

    Nghe xong câu nói ấy là tôi đã muốn sụm người xuống trước mặt cụ ông (không, là lương y), vái lạy ba cái. Ở ngoài mặt, tôi chỉ dám cúi gập đầu, xém chút nữa đã oà ra khóc.

    “Cháu xin ông.” Nắm lấy cổ tay ông lão, tôi nói mà giọng run run, “Xin ông hãy cứu lấy bạn của cháu. Làng này đang có ôn dịch, cháu chỉ sợ bạn cháu mắc phải thứ bệnh quái ác đấy thôi...”

    “Được rồi, cậu bé. Cứ để đấy cho ta.”

    Tôi như bừng tỉnh và vội chạy vào theo, thông báo tin mừng. Hệt như tôi, ông lão được mọi người trong nhà chào đón như một vị cứu tinh bất ngờ. Nick đang say ngủ, nên việc nên làm ngay lúc này là đánh thức... Andrey. Như một người lính, thằng bạn thân của tôi mở bừng mắt và phóng khỏi giường với tốc độ tên bắn. Không một chút dấu hiệu của sự buồn ngủ.

    Mặc cho ông ta bắt mạch, đâm, chọt, sờ, nắn và xoay người tới lui, Nick vẫn ngủ như chết. Đợi vị thầy thuốc khám xong cho Nick, Andrey liền báo cáo những gì cậu thu thập được ban nãy, kèm theo tình hình dịch bệnh ở làng Yên Thái. Tôi bồn chồn đứng bên cạnh, phụ giúp phiên dịch khi cần.

    “Dựa vào những gì ta quan sát, cậu bé này có thể chỉ là mắc vào chứng cảm mạo thông thường, là do trái gió giở giời mà sinh đau ốm. Nhật Minh đã nói với ta rằng, hai đứa nhỏ rất hay cưỡi ngựa ra ngoài vào lúc trời nắng nóng hoặc đổ mưa giông. Như thế là không nên.”

    “Ông nói đúng.” Andrey lẩm bẩm.

    “Tuy vậy, những dấu hiệu của căn bệnh kia vẫn không thể xem thường, nên tạm thời ta chỉ có thể kê đơn thuốc giúp suy giảm những triệu chứng của cảm phong hàn. Nếu có phát ra biểu hiện lạ, các cháu hãy lập tức viết thư cho cậu Nhật Minh. Hai ngày nữa ta sẽ quay lại đây.”

    “Ông nói vậy, bọn cháu cũng an tâm phần nào.”

    “Vậy,”
    Andrey nhìn ông ta không chớp mắt, “ông nghĩ thế nào... về dịch bệnh ở làng giấy?”

    “Hừm, một câu hỏi thú vị. Thứ bệnh mà cháu miêu tả, thú thật thì ta đã nghe qua, nhưng chưa khi nào nó biến thành ôn dịch cả. Ít nhất thì ta phải thông qua tứ chẩn, xét qua bát cương thì mới có khả năng xác minh bệnh danh. Ngày mai ta sẽ lại đến làng để chẩn bệnh.” Ông đứng dậy, ngước nhìn anh chàng ngoại quốc cao quá khổ. “Đoán chừng... ta nghĩ cháu đã biết câu trả lời từ đầu rồi. Có đúng thế không?”

    Như bị trúng tim đen, Andrey ngạc nhiên đến nỗi quẳng luôn hình tượng thường ngày vào sọt rác. Cậu trợn mắt và há hốc mồm, nói không nên lời. Chân bước lùi lại thì vấp vào cái chân ghế, nếu tôi không kịp kéo cậu ngồi xuống thì chắc Andrey đã té chỏng vó.

    “Cậu bé, cháu tên gì?”

    “Là... Andrey, không, là Anh Giản ạ.”

    “Anh Giản à. Quả là sáng dạ. Ta trộm nghĩ,” ông cúi đầu nói nhỏ, “người như cháu đây, nếu theo ngành y dược, chắc hẳn sẽ có ngày công thành danh toại.”

    Mặc dù không hiểu câu nói, Andrey vẫn đứng dậy và cúi đầu cảm tạ.

    “Còn ông?” Tôi vội hỏi. “Ông là ai ạ?”

    Hoá ra vị lương y này là Lưu Công Định. Ông từng là Nhập nội thái y viện đại sứ dưới triều của Lê Nhân Tông, trật hàm chánh ngũ phẩm. Khi về hưu rồi, ông vẫn tiếp tục đi khắp nơi chữa bệnh trong dân gian, nhưng vẫn là bạn bè thân thiết với gia đình của Hình bộ Thị lang Lê Cảnh Huy, cha của Lê Nhật Minh.

    Sau vụ này, tôi cần phải đích thân đến cảm ơn anh chàng Nhật Minh kia mới được.

    Trước khi ra cổng, ông còn chu đáo dặn lại.

    “Cứ làm theo lời dặn của ta, một ngày ba cữ thuốc. Ngoài ra, nhớ nấu cháo gà cho bệnh nhân, và nhắc cậu bé uống thật nhiều nước.”

    “Cháu đã nhớ rồi. Cháu cảm ơn ông rất nhiều ạ.”

    “Và Duy An này...”


    “Vâng ạ?”

    “Nếu mai mốt các ngự y có đến đây, cháu hãy nhắn với họ một điều: ‘Ôn dịch này, cốt nằm ở huyết.’”

    ----------​

    “Thân gửi Lê Phong ở cung Thừa Hoa,


    Thật là tốt quá! Chúng tôi luôn mong chờ sự giúp đỡ từ triều đình. Xin cho hỏi kết quả của buổi thượng triều như thế nào?
    Không may làm sao, hiện tại bạn hữu của tôi, vị ‘Hy Lạp Hoạ Gia’ kia đã đột nhiên phát bệnh, chưa rõ có phải là do thứ ôn dịch kia hay không. Để đảm bảo an toàn cho anh và mọi người, tạm thời tôi sẽ không vào cung cấm.
    Xin anh đừng lo lắng gì. Một vị lương y đã đến chẩn đoán và ghi đơn thuốc cho cậu ta, nói rằng đây có thể chỉ là chứng cảm phong hàn thôi.
    Tôi xin hứa với anh sẽ cập nhật thường xuyên tình hình ở làng giấy.


    Thân mến,
    Ký tên: Duy An.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/1/20
    chungtolabengoan thích bài này.
  3. 86
    1,780
    138
    Trí Toàn Minh Đăng

    Trí Toàn Minh Đăng Thành viên tâm huyết

    Tham gia ngày:
    24/12/18
    Chương 52
    CANH BA


    Nick bị bệnh nặng làm không khí trong nhà trở nên ảm đạm. Ai nấy đều lo cho cậu, rồi lại mệt mỏi vì lo lắng quá độ. Sau khi nhận lấy đơn, bác Cả đã tức tốc chạy đến hiệu thuốc Đông y trước khi họ đóng cửa. Trong khi đó, Tạc Tổ dựa vào danh sách các món ăn phù hợp cho người bệnh mà chui vào bếp trổ tài (bị Andrey đuổi ra trước khi kịp làm gì). Tôi đây, một đứa vô tích sự, chỉ biết ngồi ì trên giường canh chừng thằng bạn.

    Mời đọc tiếp Chương 52
    “Nick, tại sao mày lại để đến nông nỗi này? Tại sao không nói cho bọn tao sớm hơn?” Tôi chỉnh lại cái khăn trên trán cậu, tự mình thì thầm, “Mày nghĩ mày khoẻ lắm sao? Mày nghĩ chỉ cần im lặng chịu đựng một thời gian thì căn bệnh sẽ tự động qua khỏi? Mày đã từng nói với tao, rằng trước hết phải yêu quý bản thân... Rồi mày lại đi và làm điều ngược lại. Liều cái mạng của mày để được gì? Để bọn tao khỏi phải lo lắng? Để thực hiện đúng hẹn giao tranh cho Nhật Minh? Tuyệt vời! Hết sẩy! Giờ thì mày vẫn làm mọi người lo đến quắn cả mông lên. Đúng là nồi chê niêu nhọ [1]. Hừ!”

    “Khụ!”

    “Mày tỉnh rồi à?”

    “Mày chửi xong chưa?”

    Nick mở mắt, vừa nói vừa cười cười. Giọng điệu cợt nhả cộp mác Kanelos này chứng tỏ thằng bạn tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Thật là đúng lúc, vì đã đến giờ ăn tối.

    “Tao đã ngủ bao lâu?”

    “Khoảng năm tiếng.”

    “Ủa?” Nick bỗng bật dậy, lấy tay gãi mái đầu xù. “Vậy... tao đã về đây bằng cách nào? Tao có ăn trưa không? Sao tao chẳng nhớ gì cả?”

    Tôi liếc cậu, khoé miệng vô thức nhếch lên. Nếu Nick biết được chuyện cậu biến thành con khỉ đu bám cái cây Andrey thì sẽ phản ứng thế nào nhỉ? Chưa kể cậu còn nhầm lẫn Andrey thành mấy người đẹp trong kỹ viện, vô ý sàm sỡ, hôn hít lung tung? Không biết lúc tôi bỏ đi rồi Nick còn giở trò gì nữa không?

    Thôi! Chắc là tôi sẽ giữ thể diện cho hai thằng bạn, coi như không có chuyện gì xảy ra.

    “A, nhớ rồi!” Nick reo lên, cười toe. Nếu không phải thân nhiệt hừng hực và khuôn mặt xanh lét, trông Nick cư xử hệt như lúc còn khoẻ mạnh. “Tao đã cưỡi ngựa và đi bộ về nhà. Sau đó bác Cả định đuổi đánh tao nát đít, nhưng rồi tao ngất xỉu lên người mày. Xin lỗi nha.”

    “Không sao. Buổi chiều Nhật Minh có mời một vị thầy thuốc đến khám cho mày, nên bây giờ bọn tao đang chuẩn bị đồ ăn và thuốc. Đến lượt mày trải nghiệm sự ‘thơm ngon’ của thuốc Nam thời đại này rồi. He he he...”

    Nick đảo mắt. Động tác đơn giản này lại khiến cậu chau mày, nhắm tịt mắt, hai tay day thái dương. Từ đằng xa, “bác sĩ” Andrey chứng kiến cảnh này thì nheo mắt, bặm môi, dường như đang suy tính chuyện gì đó. Tô cháo nóng hổi đặt nhanh xuống bàn, cậu bước tới và khoanh tay lại, thái độ lạnh lùng khác thường.

    “Ăn đi! Bác Cả đang sắc thuốc cho mày, nhớ uống cho bằng hết. Đừng có giở chứng như Pax.”

    “Này!” Tên Andrey quá đáng! Tôi còn ở đây mà?

    “Còn mày,” cậu quay qua tôi, hạ giọng, “đồ ăn có sẵn trong nhà bếp, muốn ăn bao nhiêu thì cứ lấy thoải mái. Ăn xong rồi thì đi nghỉ sớm đi! Hôm nay tao thấy mày vất vả nhiều rồi.”

    Như được thả tự do, tôi liền biến ra khỏi căn phòng ngột ngạt đó, chạy ù vào nơi cái bụng cồn cào sẽ được lấp đầy.

    ----------​

    Andrey nói đúng quá xá đúng. Tọng vào bốn chén cơm đã quật hết sức mạnh còn sót lại trong ngày, thế là tôi vác cái bụng bự chảng đi lên phòng khách, hỏi thăm Nick vài ba câu rồi kiếm cớ bò lên giường ngủ.

    Tôi mệt đến nỗi không thèm can ngăn hai thằng bạn thân đang có dấu hiệu muốn gây sự. Nick liên tục khiêu khích thằng nhóc người Nga, người không hề muốn khai ra sự việc đáng xấu hổ hồi trưa. Bị chọc riết rồi Andrey cũng đâm quạu, biến từ cục băng di động thành con sư tử rống. Tôi kéo màn che và đóng sầm cửa lại khi Andrey gào toáng lên, “Đủ rồi nghen, thằng mắc dịch!”

    Người ta hay nói, ăn được ngủ được là tiên. Tôi chưa thể thành tiên, nghĩa là tôi chỉ ăn được thôi chứ chưa ngủ được.

    Chưa ngủ được thì nên làm gì? Ngồi thiền chứ gì!

    ----------​

    “Pax? Pax! Cảm ơn mày nhiều lắm! Nhờ chuyến đi này mà tao biết được rất nhiều điều.”

    “Hửm?”

    Tôi đang ngồi thiền thì chậm rãi mở mắt. Một mái đầu vàng hoe lờ mờ hiện ra. Ngước nhìn lên thì tôi thấy một bóng người cao lớn đang lay vai mình, môi nở nụ cười tươi rói. Người đó ôm chầm lấy tôi.

    “Tao nghĩ tao biết được đây là bệnh gì rồi!”

    Sao khung cảnh này... quen quá nhỉ? Tôi đã trải qua nó ở đâu rồi? Khuôn mặt kia dần dần hiện rõ. Bộ áo trung đơn màu đen ướt nhẹp chưa buộc dây. Đôi mắt xanh lam lập loè, bộ râu quai nón lởm chởm, cái mũi hếch...

    À! Chính là buổi tối hai hôm trước. Andrey vừa lén lút đi dòm xác thằng em của Cao Hùng về!

    Tiềm thức tìm lại được kí ức quen thuộc, tôi nói mà không cần suy nghĩ, “Bệnh gì cơ?”

    Andrey không trả lời ngay. Cậu ngồi xuống giường và lôi cuốn sổ tay ra từ trong bọc vải, ghi chép lia lịa bằng cây bút bi duy nhất, như thể cậu sợ mình sẽ quên béng mất mọi thứ trong phút chốc. Biết tính cậu, tôi kiên nhẫn ngồi bệt xuống sàn, cạnh thằng Nick đang ngủ thẳng cẳng. Thấy thằng bạn rùng mình, tôi kéo tấm chăn trên giường xuống và phủ lên người cậu. Tấm chăn còn lại đã bị cậu biến thành gối ôm mất rồi.

    “Xin lỗi. Tao cần phải... những thứ này cần phải được đánh dấu lại để sau này tiện lưu vào hồ sơ, trước khi tao lỡ mất thứ gì... Xong rồi!”

    “Chuyến đi thế nào?”

    “Thú vị. Ít ra bây giờ tao đã tìm được loại bệnh khớp với hầu hết các triệu chứng và dấu hiệu. Xém chút nữa bị phát hiện, nhưng, tao cảm giác lần này là một vụ thắng lớn.”

    “Giải thích cái coi!”

    “Hồi trưa, trước khi về tao đã hỏi Cao Hùng về các bệnh nhân khác trong làng. Hơn phân nửa là trẻ em. Chủ yếu là con của những người thợ làm giấy. Phạm vi bệnh dịch là cả hai làng Yên Thái và Nghĩa Đô, không có một khu vực tập trung nhất định. Không rõ nguồn phát dịch. Thường thì chỉ có con cái của họ mắc vào căn bệnh này.”

    “Ừm. Rồi sao nữa?”

    “Lần này cũng vậy. Chỉ có thằng nhóc Kiến là bị bệnh. Cha, mẹ, ông bà đều khoẻ mạnh. Hỏi ra thì mới biết mọi người đều ăn chung, ngủ chung, đi vệ sinh chung. Nếu là do thức ăn và nguồn nước bị nhiễm khuẩn, chắc chắn mọi người đều phải bị bệnh. Nghĩa là tao có thể loại ra bệnh thương hàn.” Andrey nhìn lên trần nhà, vẻ mặt trầm ngâm. “Bệnh sốt phát ban kia cũng vậy. Sởi, Rubella, thuỷ đậu,... chúng đều lây qua đường tiếp xúc gần gũi. Cái này tao mới nhớ ra gần đây thôi.”

    “Nghĩa là chỉ còn hai bệnh: sốt rét và sốt xuất huyết.”

    “Ờm... nói chung là, tao có ngó qua xác thằng bé để xác nhận vài chuyện. Sốt rét và sốt xuất huyết đều có chung nhiều triệu chứng, như sốt cao và buồn nôn, nhưng chúng cũng có một vài điểm khác biệt. Sốt xuất huyết có xuất hiện những nốt ban đỏ trên người, hoặc là các vết bầm tím lớn nhỏ. Theo tao nhớ không lầm thì một số bị đau hốc mắt, chảy máu mũi, và trong trường hợp này thì bị chảy máu chân răng. Là do phần tuỷ của bệnh nhân bị phá huỷ, gây ra suy giảm bạch cầu và tiểu cầu.”

    “Vậy là... sốt xuất huyết ư?”

    Đó giờ tôi chỉ mới nghe loáng thoáng qua căn bệnh này. Tôi chỉ biết là nó cực kì nguy hiểm, nhưng không ngờ có ngày sẽ phải trực tiếp đối mặt với nó, lại trong điều kiện lạc hậu và thiếu thốn. Lời khẳng định của Andrey chẳng làm nỗi bất an của tôi giảm đi chút xíu nào.

    “Đúng vậy.” Andrey gật gù, “Mày nghĩ thử xem, xung quanh đây toàn là nước. Bể, giếng, ao, hồ, sông, ngòi, kênh, rạch... toàn là môi trường lý tưởng cho lũ muỗi sinh sôi nảy nở. Chỉ cần một vài con mang mầm mống là có thể truyền bệnh cho biết bao nhiêu người...”

    “Chết rồi!” Tôi ôm đầu, “Từ hồi ở làng đến giờ, tụi mình ngày nào cũng bị muỗi cắn.”

    “Ừ, đó là điều tao không muốn nghĩ đến đây.”

    “Làm sao bây giờ? Làm sao đây?” Đến lượt tôi lên cơn hoảng loạn. “Tao chưa bao giờ bị sốt xuất huyết, trong người không có chút kháng thể nào. Mày cũng vậy. Nick có kháng thể, nhưng lỡ nó là chủng vi rút khác thì sao? Đã lâu như vậy, liệu miễn dịch trong cơ thể có còn hiệu quả? Chết rồi! Chết rồi! Chết thiệt rồi...”

    “Pax! Bình tĩnh. Thật ra biện pháp cũng đơn giản thôi.” Andrey nở nụ cười gằn, nhe hàm răng và nướu đỏ lét do nhai quá nhiều trầu. Ánh mắt xanh trời của cậu bỗng lạnh như băng, mất đi thứ ánh sáng thường ngày.“Dù gì thì, đó cũng không phải là chuyện của tụi mình. Ba đứa mình nên biến khỏi đây, càng xa càng tốt.”

    “Cái gì?”


    Không! Không thể nào! Andrey trong trí nhớ của tôi sẽ không bao giờ bỏ chạy thế này. Biết bao tuần nay, cậu ta đã cực khổ dịch sách y học và điều tra về căn bệnh lạ. Cậu sẽ ở lại và tìm mọi cách để ngăn chặn dịch bệnh. Cậu sẽ chiến đấu như một bác sĩ thực thụ. Hơn nữa, tôi biết cậu sẽ không nỡ bỏ mặc bác Cả, Tạc Tổ và Cao Hùng ở đây.

    “Mày nghe rồi đó. Chúng ta sẽ cao chạy xa bay, tránh xa cái ổ dịch bẩn thỉu này...” Andrey lấy tay áo quẹt khoé miệng. Trên vải bông xuất hiện vài chấm đỏ li ti. “Ngày mai chúng ta sẽ rời khỏi đây!”

    Chuyện gì đang xảy ra vậy? Tôi bắt đầu hoang mang. Theo tôi nhớ không lầm thì tối hôm đó Andrey giải thích xong phát hiện của mình thì trải chiếu xuống đất và lăn ra ngủ khò, đâu còn hơi sức mà thu dọn đồ đạc.

    Chẳng lẽ... đầu óc tôi lại có vấn đề nữa rồi?

    “Không... Không! Mày làm sao vậy?” Tôi chụp lấy tay áo Andrey, tranh thủ nhìn kĩ vào cái vệt đỏ khả nghi kia. “Andrey, dừng lại ngay! Đây không phải là mày!”

    Khoan đã, nó chính là máu mà! Andrey lại lấy tay áo lau khoé mắt. Thêm vài vết chấm đỏ hiện ra. Tôi ngước lên thì thấy cậu đang khóc ra máu.

    “ANDREY!”

    Hai dòng huyết lệ lăn dài trên gò má, vậy mà Andrey coi như không có chuyện gì. Hoảng hốt, tôi định với tay chạm vào khuôn mặt cậu thì bị đẩy ra.

    “Anh ấy ổn mà. Anh chớ nên lo lắng.”

    Ngồi trên giường của tôi hiện giờ là một cậu bé chừng năm, sáu tuổi. Cậu đặt hai tay trên đùi và đong đưa cẳng chân. Khuôn mặt sáng bừng lên bằng một nụ cười ngây thơ. Dáng người gầy gò bơi trong bộ giao lĩnh màu trắng.

    Cậu bé này...

    “Thằng cu Kiến?”

    “Em chào các anh ạ.” Thằng bé lễ phép khoanh tay, cúi đầu chào. Đôi mắt long lanh nhìn tôi đầy mong đợi.

    “Chào em, Kiến.” Tôi gật đầu. “Em đang làm gì ở đây?”

    “Nãy giờ em đi theo anh Anh Giản này đấy. Anh ấy đã hứa rồi mà.”

    “Hứa gì?”

    “Anh ấy nói sẽ... sẽ cùng em giúp đỡ mọi người trong làng mau mau khỏi bệnh ạ.”

    Tôi quay sang Andrey thì thấy đôi mắt đã ngừng chảy máu. Thái độ thằng bạn lúng túng như gà mắc tóc. Nhận được cái nhướn mày của tôi, Andrey hừ mũi rồi bước vội ra ngoài.

    Giờ chỉ còn tôi và thằng bé, tôi dè dặt ngồi xổm xuống để đặt ngang tầm mắt, hắng giọng, “Nếu Anh Giản đã nói vậy, cũng là đúng với tính cách của cậu ấy. Nhưng em đi theo bọn anh như thế, không sợ cha mẹ của em lo lắng sao?”

    “Vậy thì anh nên đi theo em về xin phép thầy mợ. Đi đi anh!”

    Nhưng em ấy đã chết rồi mà? Làm sao tôi giải thích được với phụ huynh thằng bé đây?

    “Ngoài kia đã là canh ba. Em không thể đi về đêm khuya một mình. Anh đi cùng em với!”

    “Nhưng...”

    “Đi mà, anh Duy An. Em van anh mà! Không có anh là em không thể ra khỏi đây. Em nhớ thầy mợ của em. Em muốn về nhà.”

    “Được rồi.” Tôi thở hắt ra. Đúng là không thể từ chối một đứa con nít. “Anh sẽ theo em về.”

    “Hay quá! Vậy em sẽ chờ anh ngoài cửa.” Nói rồi thằng bé biến mất.

    Tiếng cười giòn tan của thằng nhóc làm tim tôi tan chảy. Thật là đáng tiếc. Một đứa trẻ vô tội như em ấy không đáng bị yểu mệnh.

    Tôi bước ra ngoài gian phòng khách, thông báo với Andrey mình sẽ ra ngoài.

    “Khoan đã, Pax! Mày định đi đâu?”

    Hai bàn tay bấu chặt lấy vai tôi, lay thật mạnh. Tiếng nói to như sấm rền.

    “PAX! TỈNH LẠI MAU! PAX!”

    ----------​

    “Pax! Dậy! Dậy mau lên!”

    “Buông tao ra!”

    Khi mở bừng mắt, đập thẳng vào mặt tôi là khuôn mặt lo lắng của Andrey. Một tay cậu vẫn giữ lấy vai tôi, tay kia giơ lên ngang mặt, giống như cậu chuẩn bị nhéo, tát hoặc đỡ đòn tấn công từ tôi. Chớp mắt hai cái nữa, tôi chưa kịp định thần thì lập tức bị tra hỏi.

    “Mày đi đâu vậy?”

    “Đi ra ngoài.”

    “Tao biết. Nhưng giờ này ra ngoài làm cái quái gì?”

    “Thì thằng bé...”

    Tôi dáo dác nhìn quanh. Không một bóng người. Không một tiếng động. Da gà da vịt nổi lên từng mảng. Dường như tôi có linh cảm ai đó đang theo dõi mình.

    Andrey ngớ ra, “Thằng bé nào?”

    Ấy chết! Đến đây thì tôi mới té ngửa. Thì ra là mình nằm mơ! Định ngồi thiền nhưng ai ngờ ngủ luôn. Thiệt là trớt quớt mà!

    “Pax,” Andrey vuốt mặt, “mày vừa mới mộng du. Doạ tao một trận hết cả hồn.”

    “Xin lỗi.” Tôi gãi đầu, nhăn răng ra cười trừ. Tất nhiên là tôi đâu dám nói Andrey trong giấc mơ hù doạ tôi lên cơn đau tim cỡ nào.

    “Dạo này tao thấy mày mệt mỏi hơn bình thường, hay căng thẳng và lo âu quá mức. Trong làng đang có dịch bệnh, mày cũng nên chú ý đến sức khoẻ bản thân mình đi...”

    Cảm giác một bài thuyết giảng sắp nhắm về phía mình, tôi chĩa mũi dùi về phía Andrey trước, “Còn mày thì sao? Định ngồi đó đến sáng luôn hả? Nick đã ngủ từ đời nào rồi, mày ngồi canh chừng thì được cái tích sự gì? Vào phòng ngủ đi!”

    Nhiều khi tôi nể thằng bạn của mình thật. Andrey có thói quen thức thâu đêm suốt sáng như một con cú vọ. Thân là dân y, là bác sĩ tương lai, thế mà không bao giờ làm tấm gương tốt cho bạn bè. Cậu ta biết rõ tầm quan trọng của giấc ngủ nhưng lại luôn trong tình trạng thiếu ngủ trầm trọng. Đúng là bó tay mà!

    Nằm co ro trên chiếc phản gỗ, Nick cựa quậy, nói mớ vài câu. Tay cậu quờ quạng tìm kiếm gối ôm.

    “Tao không ngủ được,” Andrey nhỏ giọng thú nhận. Cậu ném cho thân ảnh bên cạnh một cái nhìn vừa thương hại vừa trách móc. “Nick vẫn còn sốt cao. Tao chỉ sợ, rằng nếu có chuyện gì xảy ra trong lúc tụi mình đang ngủ... Lỡ cậu ta lên cơn co giật, mê sảng, hay mộng du giống mày...”

    Andrey đã nói vậy là tôi hết đường khuyên can. Biết tính cậu, nếu bây giờ tôi có dùng hết sức ép cậu đi chợp mắt vài phút cũng không có tác dụng. Andrey hay chê tôi đầu đá, đầu gạch các kiểu, nhưng tôi thấy cái đầu của cậu mới thuộc vào hàng kim loại chém đá.

    Nghĩ cũng buồn cười thật. Ngày thường hai đứa bạn tôi kị nhau như nước với lửa, hễ thấy cái bản mặt của nhau là chí choé không ngớt. Thế mà gặp hoạn nạn thì lại hết mực quan tâm tới nhau. Ha, tôi luôn biết Andrey trong bụng là một tên dịu dàng và uỷ mị mà!

    “Được rồi. Tuỳ mày. Tao vào ngủ.”

    ----------​

    “Thân gửi Đức Bình,

    Sáng nay, hoàng đệ ta đã truyền lệnh cho hai người từ thái y viện đến làng giấy rồi. Ngươi hãy tìm cách liên lạc với họ ở tế sinh đường của huyện Quảng Đức. Nơi ấy có các lớp phổ cập cách phòng chống dịch bệnh và phát thuốc miễn phí cho dân làng.
    Ngày mai ta sẽ đi theo hai vị thái y kia nhằm thị sát tình hình dịch bệnh ở phía Tây kinh thành. Nếu có thể, ta muốn nói chuyện với ngươi và vị bằng hữu Anh Giản kia. Đến gặp ta ở tế sinh đường. Đây là mệnh lệnh.
    Ta hy vọng các ngươi sẽ mau chóng vượt qua hoạn nạn này.


    Hãy bảo trọng.
    Ký tên: Lê Phong.”




    Chú thích:
    [1]: Thành ngữ bên tiếng Anh, dịch từ câu "The pot calling the kettle black". Tương tự như câu "Chó chê mèo lắm lông" bên tiếng Việt.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/1/20
    chungtolabengoan thích bài này.

Chia sẻ trang này