1. Dismiss Notice
  2. Dismiss Notice
  3. Dismiss Notice
  4. Dismiss Notice
  5. Dismiss Notice
  6. Dismiss Notice
  7. Dismiss Notice
  8. Dismiss Notice
  9. Dismiss Notice
  10. Chúc mừng truyện dịch hoàn tháng 8 _ 8Uno dịch: [Tiểu thuyết phương tây] Cha Tôi Là Rồng _ Ruth Stiles Gannett
    Dismiss Notice
  11. Dismiss Notice

[Truyện Việt] Cảnh Thịnh Đế Tân Truyện - Ngô Thu

Thảo luận trong 'Truyện Việt' bắt đầu bởi chungtolabengoan, 27/7/18.

Lượt xem: 160

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Cảnh Thịnh Đế Tân Truyện
    Tác giả: Ngô Thu
    Thể loại: Truyện việt, lịch sử, quân sự
    Tình trạng: full - 70 chap
    Nguồn: truyencuatui.net

    Lời đề tựa

    ..........Một vị tướng quân, một trong Tây Sơn Tam Kiệt mất trong uất ức khi thành Gia Định thất thủ. Đó chính là Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Ông ra đi để lại cho vợ và đứa con trai một phát hiện kinh thiên.

    ..........Một người vợ trong bóng tối của vị anh hùng Tây Sơn trốn thoát khỏi cuộc trả thù đẫm máu của vua Gia Long. Không nỡ nhìn cảnh mộ phần tổ tiên bị chà đạp, trung trinh nghĩa sĩ phải ngã xuống, bà lặng lẽ cho con thay đổi họ tên, viết lại một bức di thư, chân dung của chồng cùng bí mật mà chính bà cũng không biết giải thích. Bà hy vọng một ngày nào đó, con cháu bà phá giải được bí mật này. Để rồi chính người này “Thay đổi đất trời, định càn khôn”, trả thù cho chồng bà và những người đã ngã xuống, dựng nên thời đại mới.

    ..........David Ho là một chàng trai Việt Kiều mới tốt nghiệp Master (Thạc sĩ) Vật lý sinh ra trên đất Mỹ 25 năm trước. Anh luôn ngưỡng mộ quê hương của cha anh, đất nước Việt Nam xinh đẹp với những vị anh hùng khoáng tuyệt cổ kim. Anh quyết định sẽ về thăm Việt Nam sau khi tốt nghiệp Master và trước khi bắt tay đi tìm việc làm. Trước khi đi, cha anh truyền lại một di vật được xem là gia bảo của cả dòng họ. Ông dặn anh, cố gắng phá giải bí mật trong di vật để làm đẹp lòng tổ tiên.

    ..........Đặt chân đến quê cha, David tình cờ phá giải được bí mật bị chôn giấu suốt hơn 300 năm của dòng họ. Anh bị kéo về quá khứ và nhập hồn vào vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn. Đây là một vị vua mất nước. David không cam lòng.

    ..........Những gì David làm tiếp theo đã thay đổi triệt để dòng chảy của lịch sử. Anh đã dệt nên một huyền thoại mới, đem lại vinh quang cho cả đất nước.

    ..........Cuốn truyện này được xây dựng trong một bối cảnh lịch sử của dân tộc vốn có nhiều điều còn bí ẩn. Với một chút hư cấu cùng tưởng tượng của mình, tác giả muốn thổi vào tâm hồn người đọc, thổi bùng lên tinh thần tự hào dân tộc và làm cuộc sống tươi đẹp hơn.

    ..........TP.HCM, ngày 16 tháng 7 năm 2015
    ..............................Ngô Thu​
     
    Hạ Tuyết thích bài này.
  2. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 1: Hồ Sĩ Mạnh

    Mời đọc
    - Có giả thuyết cho rằng tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, dòng dõi Hồ Quý Ly. Họ theo chân Chúa Nguyễn vào lập nghiệp miền Nam khi chúa Nguyễn vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê - Trịnh tới Nghệ An (năm 1655). Ông cố của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn, cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Cũng có tài liệu cho rằng họ Hồ đã đổi theo họ chúa Nguyễn ngay từ khi mới vào Nam (đoạn trích từ Wiki). Tiếng nói của cô hướng dẫn viên du lịch kéo David về hiện tại.

    David Ho năm nay 25 tuổi, mới tốt nghiệp Master ngành Vật lý học loại ưu tại đại học Massachusetts. Đây là lần đầu tiên anh đặt chân đến đất nước hình chữ S xinh đẹp – nơi chôn rau cắt rốn của cha anh. Sinh ra ở một nông trại nhỏ thuộc tiểu bang Texax, từ nhỏ David đã được cha kể lại những câu chuyện về đất nước Việt Nam cùng những hồi ức buồn của ông.

    Sau ngày 30/4/1975, Hồ Sĩ Mạnh – một Đại úy quân lực Việt Nam Cộng Hòa di cư đến Hoa Kỳ. Với tấm thẻ ID card với tư cách là sĩ quan “đồng minh”, anh Mạnh được nhận vào làm việc tại một công ty bảo an. Ôm tâm lý chán chường và đau đáu nhớ về quê hương, anh suốt ngày chỉ biết thẩn thơ, thơ thẩn. Kết quả thế nào ư? Tất nhiên là bị đuổi việc. Ở cái xứ sở được gọi là “miền đất hứa” này, sự thực dụng được xem là số một. Anh lơ là làm việc, không có tinh thần đương nhiên là sẽ bị sa thải. Cầm số tiền trợ cấp trên tay, Hồ Sĩ Mạnh nghĩ mình sẽ làm gì đây? Có buồn chán, có nhớ nhà giờ đây phỏng được ích gì. Trước tiên là phải kiếm cách làm no cái bụng trước đã. Thế nhưng, nơi đất khách quê người, mình biết làm gì đây? Biết tìm ai để nương tựa đây? Ngồi trong tiệm thức ăn nhanh Mc’ Donal, anh cầm tờ báo trên tay, đọc mục “việc làm” rồi thở dài. “Haiz, công việc gì cũng cần chuyên môn. Mình ngoài việc cầm súng thì biết làm gì đâu. Người như mình thì chỉ biết có về quê cày ruộng thôi”. “Khoan đã... Cày ruộng ư? Không phải thằng Tom từng khoe với mình là nhà nó có một nông trại khi nó ở Việt Nam sao? Giờ mình qua đây, sao không hỏi thử nó xem có cách nào giúp mình không. Tên đầy đủ của nó là gì nhỉ? À, là Thomas Jefferson”. Uống vội tách café dở dang, Mạnh chạy vội đến bưu điện, tra thử cái tên Thomas Jefferson ở thị trấn Austin. “Trời đất, ở Austin có đến 24 người mang tên Thomas Jefferson. Kiểu này phải gọi từng người thôi”. Gọi đến người thứ 19, ở đầu dây bên kia vang lên tiếng người phụ nữ:

    - Alo... Nhà Jefferson nghe... Xin hỏi ai ở đầu dây?

    - À... À... Cô làm ơn cho hỏi, đây có phải là nhà của Thomas Jefferson không ạ? Đại úy Thomas Jefferson, phục vụ ở Việt Nam...

    - Ý anh là Tom à? Tôi là Marrian, em gái của anh ấy. Anh muốn tìm anh ấy à? Anh ấy hiện không có ở nhà. Anh có gì muốn tôi nhắn lại không?

    - À, không có gì. Tôi mới từ Việt Nam qua đây. Có chút việc tôi muốn nhờ anh ấy. Cô có thể cho tôi xin cái địa chỉ hay không? Tôi sẽ đến gặp anh ấy luôn.

    - ...

    - À, tôi biết hỏi ngay địa chỉ thì chắc là bất tiện lắm...

    - Ồ không có chi đâu. Chỉ là anh ấy phải đến cuối tuần sau mới về. Hay là đến cuối tuần sau anh gọi lại nhé. Đến lúc đó anh ấy sẽ cho anh địa chỉ nếu anh ấy muốn. Còn bây giờ thì... Đúng là bất tiện lắm.

    Thôi đành vậy, gác máy, Mạnh nghĩ thôi thì để tuần sau gọi lại. Trong thời gian này mình cứ đến Austin rồi đợi đến cuối tuần thôi. Nghĩ vậy, Mạnh bắt chuyến xe bus đi đến Austin. Anh có thể bắt xe lửa hay đi máy bay cho nhanh. Thế nhưng nghĩ lại, trong túi chỉ còn hai tờ 100$, đi máy bay hay xe lửa thì đến nơi lấy gì mà bỏ vào bụng đây. Thôi thì đi xe bus, đằng nào thì đi từ Cali đến Texax cũng không quá xa. Vả lại, xem như mình đi du lịch, ngắm cảnh đường phố vậy.


    Sau hai ngày, cuối cùng cũng đến được thị trấn Austin. Anh thuê phòng trong một Motel ở tạm. Đến cuối tuần, anh lại gọi đến nhà Tom.

    - Alo... Làm ơn cho tôi gặp Tom...

    - Vâng, tôi đây. Xin hỏi ai ở đầu dây đấy?

    - Lạy Chúa... May mắn thật... Tôi đây... Sĩ Mạnh đây... Trung đoàn 19... Việt Nam đây. Anh có nhớ tôi không?

    - Ồ... Hóa ra là cậu à? Tuần trước cậu có gọi đến đúng không? Thật tiếc, khi đó tôi có ít việc. Thủ tục giải ngũ ấy mà. Cậu tìm tôi có việc gì không?

    Mạnh kể lại hoàn cảnh của mình hiện tại. Anh cũng không quên nhắc đến việc mình cô đơn như thế nào ở xứ người. Rằng anh hy vọng Tom có thể giúp mình kiếm một việc nào đó phù hợp.

    - Anh may mắn rồi đấy. Tom nói. Ông già tôi càu nhàu suốt. Công việc ở nông trại ông làm không xuể. Mà tôi, cậu biết rồi đấy, việc nhà nông nó ghét tôi. Tôi chỉ thích cầm bút, viết báo thôi. Cậu cứ đến đây làm cho nhà tôi, việc ăn ở thì... Thôi... Cứ ở đây luôn.

    - Tạ ơn Chúa. Thật không có cậu, tôi không biết phải làm thế nào nữa.

    - Không có gì. À, quên mất. Nhắc trước, không được léng phéng với Marrian, em gái tôi đâu đấy. Con bé mới học xong trung học thôi. Lính tráng thì tôi còn lạ gì cái tính trăng hoa.

    - Ồ, đương nhiên. Thân tôi bây giờ còn lo chưa xong, nói gi đến... Cậu cho tôi địa chỉ đi.

    Cuối cùng, Mạnh cũng có được nơi nương tựa và chỗ làm. Bản tính người Việt chăm chỉ, cần cù. Đấy là điều mà ai cũng biết. Anh nhận được nhiều khen ngợi của ông Jefferson, cha của Tom. Ông nói, cái gì anh cũng tốt cả, khỏe mạnh, chăm chỉ. Thế mà có một điều không tốt. Marrian ấy mà. Rõ ràng Tom có nhắc trước, rằng chớ có đụng đến. Thế mà, ngay từ cái nhìn đầu tiên, Mạnh đã trúng tia sét từ cô gái. Rồi ba tháng sau, họ bắt đầu yêu nhau. Đến năm 1980, Mạnh cưới Marrian và chuyển ra riêng ở một nông trại nhỏ gần đó. David ra đời sau đó hai năm, và tiếp theo là hai cô em gái sinh đôi Jessica và Betty.

    Từ những ngày còn rất nhỏ, David và hai cô em gái đã được cha kể rất nhiều về Việt Nam. Mạnh cũng chịu khó tìm về những cuốn tạp chí nói về lịch sử Việt Nam, viết bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. David cảm thấy rất tò mò. Nhớ hồi ấy, những năm 80, cộng đồng người Việt mê mệt với những bộ phim kiếm hiệp và lịch sử của Hongkong. Cậu thắc mắc, lịch sử Trung Quốc hay thế, lịch sử của Việt Nam cũng rất hay. Thế mà phim lịch sử của Trung Quốc lại được dựng thành phim trong khi Việt Nam lại không có. Cậu quyết định, cậu sẽ cố gắng học hết Master, sau đó sẽ về thăm Việt Nam trước khi bắt đầu cho sự nghiệp của riêng mình. Cậu chia sẻ nguyện vọng này với cha. Mạnh rất vui và còn nói: “Trước khi con đi, ba sẽ cho con biết một bí mật”.
     
  3. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 2: Di vật

    Mời đọc
    Mùa hè năm 2007. Dưới cái nóng như đổ lửa ở Texas, ông Mạnh nằm dài trên chiếc võng đã sờn rách. Lần giở những trang sách trong cuốn “Loạn Kiêu Binh” của tác giả Nguyễn Triệu Luật, chốc chốc ông lại thoáng nở nụ cười. Sống ở Hoa Kỳ hơn bốn mươi năm, ông vẫn chưa thể nào xem mình là người Mỹ. Với ông, quê hương ông ở xa lắm, một thôn nghèo ở đất An Nhơn trong đất nước hình chữ S thân thương. Ông nhiều lần tự nhủ, một ngày nào đó, mình sẽ đưa vợ con trở về với quê cha đất tổ, hay chí ít, xương cốt mình sẽ được nằm trong lòng đất mẹ ở nơi ông sinh ra. Ông không thích gửi thân mình nơi đất khách lạnh lẽo. Có lẽ đây cũng là tâm tư của mấy ông bạn già trong hội. Nói là hội cho lớn lao chứ thực tế chỉ có dăm bảy người, toàn là cựu lính chiến di cư qua đây sau ngày giải phóng. Niềm vui của các ông đơn giản lắm, tụ tập chơi cờ, cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm xưa trong quân ngũ. Rồi một ngày, có ông lại nảy ra sáng kiến: Sưu tầm sách, truyện lịch sử rồi chuyền tay nhau mà đọc. Ngẫm lại cũng hay, đây cũng là cách mấy ông dạy lại cho con cháu không quên nguồn cội. Cuốn sách trên tay ông cũng vậy. Cách đây hai tháng, ông Bảy Tuy không biết kiếm đâu được rồi chuyền cho hội. Đây là cuốn sách quý, xuất bản năm 1939, sách này ngay cả ở Việt Nam kiếm được chắc cũng phải đếm trên đầu ngón tay.

    - Lại nhớ quê à? – Tiếng của ông anh vợ kéo ông Mạnh về với hiện tại.

    - Ồ, anh mới qua à? Thì cũng đâu có gì, buồn buồn lấy sách ra đọc thôi.

    Ông Mạnh cười tươi, tay rót chén trà mời Tom. Phải nói, trong những người thân quen, ngoài vợ thì ông anh vợ này là người mà ông quý trọng nhất. Nhớ lại ngày nào còn bơ vơ, chính Tom là người đã giúp đỡ ông hết mình. Kể ra thì Tom cũng khá vui tính. Trước ngày đám cưới em gái, Tom kéo cậu em rể đi khắp các hộp đêm trong thị trấn. Tiền thanh toán cho những cuộc vui à? Đương nhiên phải tính cho Mạnh. Tom bảo, “Đây là trừng phạt cho cái tội không nghe lời, dám dụ dỗ cô em gái ngây thơ, bé bỏng của tôi”

    – “Ngây thơ à? Chính tôi mới là người ‘bị cua’ ấy chứ” Mạnh đáp trả. “Tôi không cần biết, tội vẫn là tội và phải chịu phạt”.

    - Này, cậu có tin gì của thằng David không? Tom hỏi.

    - À, nó mới gọi điện về. Báo ngày 30/5 phải có mặt ở Cambridge dự lễ tốt nghiệp. Nó bảo vệ thành công luận án Master rồi.

    - Tuyệt. Chắc cu cậu phải nói là tí tởn lắm đây. Haiz, lại phải tốn tiền nữa rồi. Tôi có hứa sẽ tặng cho nó chiếc Mustang mới.

    - Ha... Ha... Ha... Ai bảo anh hứa hẹn mà chi.

    Phải nói Tom rất tự hào về David. Ông không cưới vợ. Thế nên ông dành hết tình thương cho David. Thiếu điều chính Marrian phải nói “Anh cưng nó quá, khéo nó hư mất thôi”.

    - Mà này, cậu có dự định gì chưa? David tốt nghiệp chắc cũng vui lắm phải không?

    - Vui thì vui mà cũng buồn anh ạ.

    - Sao thế????

    - Nó có nói với em, sau khi tốt nghiệp sẽ về thăm Việt Nam. Lại phải xa nhà rồi.

    - Thế thì cả nhà cậu cũng về Việt Nam, tôi cũng đi. Có gì mà buồn?

    - Chưa được anh à. Em thì còn lo cho vụ bông sắp thu hoạch, Marrian không bỏ bệnh viện được, hai con bé Jess và Betty lại còn phải học.

    - Thế à? Cũng tiếc đấy nhỉ. Mà thôi, làm tiệc ăn mừng ngài Master David trước đã. Việc còn lại tính sau.

    ...

    Một đêm sau lễ Độc Lập. Ông Mạnh vẫn nằm trên chiếc võng sờn rách, David ngồi trên chiếc ghế mây bên cạnh. Hai cha con cùng nhấm nháp tách café, nhìn lên bầu trời đêm đầy sao nói chuyện. Có lẽ vẫn còn dư âm buổi bắn pháo hoa đêm qua chăng mà cả hai cha con đều thấy mấy vì sao tóa ánh sáng lung linh thật đẹp.

    - Ba à. Có lẽ đã đến lúc con thực hiện nguyện vọng của mình rồi.

    - Nguyện vọng gì? Ông Mạnh lơ đãng hỏi.

    - Con muốn về thăm Việt Nam. Tuần trước con nhận được lời mời của Cơ quan Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ. Họ muốn con tham gia vào các dự án nghiên cứu và chế tạo vũ khí cho quân đội. Con cũng nhận được và đọc vài tài liệu về vũ khí quân dụng mà họ gửi đến. Đương nhiên là những tài liệu cơ bản thôi, chưa phải là bí mật quân sự gì. Con cũng đồng ý rồi. Nhưng đó là việc sau khi về thăm Việt Nam. Con chưa muốn nghĩ đến công việc vào lúc này.

    - Cũng tốt. Thế thì khi nào con đi?

    - Cuối tuần này. Con cũng làm xong thủ tục và book vé rồi.


    - Vậy à. Con có nhớ ba hứa sẽ kể cho con nghe một bí mật trước khi con về Việt Nam không? Chờ một lát, nhân hôm nay, hai cha con mình cùng nói về chuyện này.

    Dứt lời, ông Mạnh đứng lên, quay vào phòng đọc sách. Ít phút sau, ông quay trở ra với một chiếc hòm gỗ thông cũ kỹ trên tay. Chiếc hộp hình chữ nhật, chiều ngang một tấc, chiều dài khoảng ba tấc. Nắp hộp hình vòm. Điều duy nhất gây chú ý là chiếc ổ khóa màu vàng. David không biết ổ khóa làm bằng chất liệu gì, giống vàng nhưng không phải vàng. Hình dạng ổ khóa giống như trong những bộ phim kiếm hiệp Hongkong anh từng xem trước đây, trông có vẻ niên đại cũng khá lâu rồi. Có lẽ là đồ cổ cũng nên, bán đi chắc cũng được bộn tiền.

    - Khóa đồng, mạ vàng đấy con ạ. Tính ra nó cũng được hơn 300 năm rồi đấy.

    - Sao? Thế ra nó thật là đồ cổ ạ? Trước đây ba có kể thời gian trước khi gặp mẹ con, ba rất khổ, không tiền bạc. Sao ba không bán nó đi. Lúc đó dễ cũng được mấy trăm ngàn. Giờ này có lẽ ba là triệu phú hay tỷ phú mất rồi.

    - Sao mà bán được hả con? Ông Mạnh cười hiền từ. Nó là di vật của tổ tiên mà. Chiếc hòm này được xem như là gia bảo, truyền từ đời này sang đời khác cho đích tử. Lẽ ra ba không có được giữ đâu. Ba chỉ là con thứ. Ông nội con có năm người con, ba thứ tư nhưng bác hai con là con gái, bác ba chẳng may mất sớm do bom đạn khi đi lính. Thế là chiếc hòm này được trao cho ba, giờ nó là của con.

    Dứt lời, không để David hỏi thêm, ông Mạnh rửa tay ở vòi nước gần đó, chắp tay khấn vái rồi run run tra chìa khóa vào ổ. Cạch một tiếng, ổ khóa bung ra.

    - Mình theo đạo Công giáo. Nhưng đây là di vật tổ tiên nên mình phải thế con ạ. Ông Mạnh trả lời khi David tỏ ra bất ngờ khi thấy ông khấn vái. Vái lạy là điều không được cho phép đối với người Công giáo.

    Ông mở nắp hòm. Bên trong có ba đồ vật: Một cuộn tranh, một phong thư và một huy hiệu hình tròn. Ông Mạnh lấy từng món ra, đặt ra trên bàn trà trước mặt David. Mở dây buộc cuộn tranh, David thấy hình vẽ của một vị tướng quân, thân mang giáp trụ, ngồi trên lưng ngựa, uy phong lẫm lẫm. Đường nét khuôn mặt có vài phần giống David. Đây có lẽ là hình của cụ tổ nhà mình – David thầm nghĩ. Điều đặc biệt là bên dưới Hổ đầu quan là một chiếc khăn màu trắng. Trông chẳng khác là bao với hình ảnh một vị tướng người Hồi giáo thế kỷ 17. Bỏ cuộn tranh xuống, David nhìn sang vật thứ hai. Đó là một phong thư làm bằng giấy gió, bên ngoài viết hai hàng chữ Hán. Trước đây David cũng được cha dạy tiếng Hán nên có thể đọc được. Thư đề “Đông Định Vương tôn tử lưu tâm”, bên cạnh là dòng chữ nhỏ hơn “Tổ mẫu Trần thị lưu thư”. Đặt phong thư xuống, David cầm lấy huy hiệu bên cạnh. Huy hiệu hình tròn, đường kính khoảng năm mươi phân, mặt sau có bốn mấu nhỏ bị gãy, có lẽ trước đây huy hiệu được đính vào một vật gì đó bằng vải, mặt trước có hình một con gà trống ở tư thế “kim kê độc lập” David nghĩ thầm “Quái, mình từng xem nhiều gia huy, nếu vẽ hình cầm điểu thì không phải chim phượng cũng là chim ưng hay một loài chim đẹp đẽ nào đó. Ai lại dùng hình tượng của một con gà bao giờ. Có chăng cũng chỉ có Quốc huy của nước Pháp, mà ấy là Quốc huy, không phải là gia huy của một gia tộc, lại là tướng quân nữa. Không lẽ tướng quân lại xem mình là con gà à?”.

    Ông Mạnh nhìn thấy vẻ mặt kỳ quái của con chỉ mỉm cười.

    - Con thấy lạ, tại sao huy hiệu lại vẽ con gà đúng không? Ngày xưa ba cũng thế. Con được đọc sách lịch sử và truyện xưa nhiều. Con có nghĩ tới ai có liên quan đến gà, sống vào khoảng 300 năm trước không? Đương nhiên là người Việt.

    - Để con nghĩ xem.

    Ai nhỉ? David ngẫm nghĩ, cố lục lòi trong đầu kiến thức về các danh tướng Việt. Bài “Hịch tướng sĩ” của Đức Thánh Trần Hưng Đạo có đoạn viết về gà, nhưng ngắn thôi, chỉ là ông hỏi ba quân rằng cựa gà có đâm thủng được giáp quân thù hay không; Vả lại, ông lại sống cách nay hơn 700 năm. Thế thì không phải rồi. Hay là liên quan đến đá gà? Mấy ông vua mất nước trước đây trong sử cũng viết là mê chơi đá gà, đá dế. Không lẽ vậy mình thuộc dòng dõi vua chúa sao? Hì hì, quên đi, đây là tướng quân mà, với lại mình cũng không ham là con cháu của mấy ông vua mất nước đó. Đá gà? Ánh mắt David sáng lên, không phải từ nhỏ mình được cha day cho món “Hùng Kê Quyền” sao? Mình cũng tập thành thục lắm. Món võ này thoạt nhìn thấy tức cười đến nỗi anh không dám khoe với bạn bè. Nhưng cũng phải nói là món võ này rất độc đáo, rất “ác”, toàn là đòn “sát thủ”. Trước đây David đã đánh cho hai thằng Mỹ đen đến tàn phế mà. Rõ ràng món võ này là một món võ thực chiến, nghe đâu nó là một chi của Tây Sơn quyền – võ Bình Định. Mà người sáng tạo ra nó là... Lẽ nào là thế? Niên đại của ông cũng khoảng 300 năm.

    - Ba, không lẽ là Nguyễn Lữ.

    - Sai. Ông Mạnh gắt. Con phải nói cho đúng là Đông Định Vương Nguyễn Lữ hay ông Tư Lữ. Không được phép nói tên tục của Ngài.

    Dừng một chút, ông lại nhẹ giọng, nói:

    - Con đoán đúng rồi đó. Cha con mình là hậu duệ của Đức Đông Định Vương. Món võ cha truyền cho con là món võ do Ngài sáng tạo ra, chỉ truyền cho chi trưởng, không truyền chi thứ.

    - Nhưng con nghe nói Ngài không cưới vợ mà ba. Không lẽ sử chép sai.

    - Không phải là sai, mà là không biết nên không viết lại thôi. Tạ ơn Chúa, cũng nhờ vậy mà dòng họ mới truyền đến đời gia đình mình. Nếu không thì cũng không thoát khỏi sự tàn sát của vua Gia Long rồi.

    Nhấp tách trà, ông Mạnh bắt đầu chìm vào suy tưởng và kể lại.

    “Năm đó, Ngài cùng hai người anh nam chinh bắc chiến, tạo dựng bao chiến công hiển hách. Năm 1776, Ngài vâng lời anh là Nguyễn Nhạc, đem quân vào tập kích thành Gia Định, bắt sống tướng Bùi Hữu Lễ, ép Nguyễn Ánh phải chui xuống trốn ở gầm giường nhà một vị Linh mục truyền giáo ở Bà Rịa. Năm 1782, Ngài cùng anh lúc đó là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lại xua quân đánh bại Nguyễn Ánh, tái chiếm thành Gia Định, ép Nguyễn Ánh phải trốn tới đảo Thổ Chu. Năm 1786, Ngài lại thân chinh chiếm lấy Phú Xuân, được gia phong Đông Định Vương. Đến năm 1787, Ngài uất ức rồi sinh bệnh mà mất ở Quy Nhơn sau khi thất thủ Gia Định. Sử viết Ngài vì sợ hãi chạy trốn Nguyễn Ánh mà bỏ Gia Định. Nhưng mà người ta đâu biết. Nguyễn Ánh sợ Ngài và Bắc Bình Vương hơn sợ cọp, lại chính Ngài ép Nguyễn Ánh chui gầm giường, trốn đi đảo Thổ Chu. Lẽ nào Ngài lại sợ? Năm đó, giặc Ánh thế mạnh, lại có vũ khí tối tân của Pháp, trong khi quân ta binh ít, vũ khí thô sơ, làm sao là đối thủ. Để bảo toàn lực lượng, Ngài phải hạ lệnh bỏ thành. Trên đường rút, Ngài cùng phó tướng của mình là Phạm Văn Tham chiến đấu anh dũng. Hai ông đã bàn bạc rất lâu. Ngài quyết định chịu tiếng xấu sợ chết, bỏ chạy khỏi Gia Định. Một phần là để giữ lấy một phần binh lực, phần nữa là để cho giặc Ánh thấy thắng mà sinh lòng chủ quan. Kết quả đúng là thế, tướng Phạm Văn Tham nhờ đó mà cầm cự giặc Ánh tận một năm rưỡi. Ngài về Quy Nhơn, xin được viện binh, nhưng lúc này lại nghe tin Gia Định thất thủ mà sinh uất ức rồi chết.

    Sau này, khi giặc Ánh chiến thắng, lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, con cháu nhà Tây Sơn bị tàn sát không còn ai. Nhắc đến đây, ba sẽ giải đáp cho con nghi vấn về chiếc khăn trắng mà Đức Đông Định Vương đội. Số là. Ít ai biết, thật ra Ngài không theo đạo Phật như ông cha mà theo đạo Hồi. Khi ra trận, Ngài đội khăn để xin Thượng Đế chúc phúc. Ngài lấy vợ, sinh con. Nhưng theo luật đạo Hồi, người vợ không được xuất hiện nơi công cộng. Bởi thế, hầu như không ai biết Ngài có vợ, có chăng chỉ là những thân tín của Ngài. Nhưng họ cũng không thoát sau cuộc tàn sát. Cũng nhờ đó mà Tổ mẫu đã trốn thoát được. Bà sau đó sống ẩn dật ở An Nhơn và truyền lại dòng máu của Đông Định Vương Nguyễn Lữ cho đến nay”.

    Nói đến đây, ông Mạnh lại thở dài, nhấp tách trà rồi nói:

    - Thôi, khuya rồi, ba vào ngủ đây. Con biết tiếng Hán, cứ đọc những gì viết trong di thư của Tổ mẫu, con sẽ hiểu thêm. Bức thư viết vào năm thứ năm thời Gia Long, tức là năm 1807 đó.

    - Dạ vâng, ba đi nghỉ đi. Cẩn thận, ba cũng có tuổi rồi, cố gắng giữ sức khỏe ba nhé.

    David ngồi nhìn cha đi vào nhà. Rồi anh cũng bắt chước cha, trèo lên võng nằm suy tư. Có lẽ đêm nay cha anh truyền lại di vật tổ truyền cũng truyền lại cái sở thích nằm võng của ông cho anh. Anh mở phong thư và bắt đầu đọc.
     
  4. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 3: Bức di thư và bí mật dòng họ

    Mời đọc
    Chuông đồng hồ vang lên mười hai tiếng. David vẫn nằm trên võng suy tư. Thật không ngờ mình lại là dòng dõi của một vị danh tướng. Không, phải nói là hậu duệ Hoàng tộc mới phải. Nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ để anh cảm thấy hưng phấn. Điều làm anh cảm thấy lâng lâng lại lại là việc khác. Dòng máu Hoàng tộc mình đang mang trong người lại đến từ một vương triều với bao nhiêu chiến công oanh liệt. Anh thả hồn tưởng tượng, mình hiện là Đức Đông Định Vương. Bên cạnh là vị anh hùng cờ đào áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ. Đi theo hầu phía sau là Tây Sơn Thất hổ tướng, tiếp nữa là Tây Sơn Ngũ phụng thư. Đoàn người đứng trước ba quân tướng sĩ. Đông Định Vương thay mặt anh gióng lên hồi trống lệnh giòn giã, thúc dục ba quân tiến lên, chà đạp quân Thanh xâm lược.

    Đêm đã khuya, một cơn gió lạnh lùa vào, kéo David tỉnh lại từ trong tưởng tượng. Lúc này, anh cảm thấy mình hoàn toàn tỉnh táo, không hề có dấu vết của cơn buồn ngủ hành hạ. Chợt nhớ đến bức di thư, David vùng dậy. Bắt chước cha, anh mở vòi nước bên hiên nhà rửa tay, lau sạch sẽ rồi chắp tay vái lạy bức di thư. Đoạn anh bắt đầu mở phong thư. Bên trong có hai bức thư, viết theo thể chữ Hán – Nôm. Một bức có nét chữ rất mềm mại, nét mực rất mỏng. Bức còn lại chữ viết thô hơn, nhìn có vẻ rắn rỏi, bút pháp có lực, rõ ràng là do một người đàn ông viết, do Đức Đông Định Vương viết ra chăng. Vậy thì bức còn lại là do tổ mẫu viết rồi. Nghĩ vậy, David quyết định đọc bức thư của Tổ mẫu viết trước.

    An Nhơn, Gia Long đệ ngũ niên,

    Tử tôn yêu quý,

    Người để lại thư này là Tổ mẫu của các con, Trần Thị Gái – ái chà, tên của Tổ mẫu xấu quá nhỉ. Ta sinh thời là học trò của thầy giáo Hiến – sư phụ của Tổ phụ các con. Ta từ nhỏ đã được thầy nhận nuôi. Người thương yêu ta, đối đãi như con gái mình. Chính ta bị bỏ rơi từ thưở nằm nôi nên cũng không biết cha mẹ thân sinh là ai. Bởi thế, ta xem người như đấng sinh thành.

    Nhớ năm đó, ta vừa tròn mười tuổi, có ba thiếu niên họ Hồ từ An Nhơn lặn lội đến nhà thầy ta học nghệ. Nói đến đây chắc các con đã đoán được họ là ai. Cả ba người tiếp thu rất nhanh. Tuy còn niên thiếu đã thể hiện anh tư hơn người. Anh hai Hồ Nhạc uy dũng, âm trầm. Hồ Thơm khí khái, tâm tư nhạy bén. Hồ Lữ hơi kém so với hai anh, tính tình hiền hòa, có chút nhu nhược. Tuy nhiên, trong ba anh em, Hồ Lữ lại giỏi võ nhất, lại có trí thông minh không ai sánh bằng. Hồ Lữ năm đó cũng chỉ mười hai. Có lẽ vì thế mà ta cảm thấy gần gũi chàng nhất.

    Năm năm trôi qua, ta từ một cô bé chưa hiểu chuyện đã biến thành cô thiếu nữ mười lăm, đã biết mơ mộng Lữ ca cũng được mười tám. Chàng cao bốn thước tám tấc, tướng mạo nho nhã, anh tú. Hiềm nỗi chàng rất mê đá gà. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Tình yêu bắt đầu nảy nở giữa hai chúng ta.

    Đến một ngày, ba anh em họ đến thưa với thầy, xin cho được xuống núi dựng nên nghiệp lớn. Thầy ta đồng ý. Trước khi đi, thầy ta có dặn mấy câu:

    ‘... Các con đổi họ cho mau,

    Từ Hồ sang Nguyễn ứng câu sấm truyền

    ‘Thơm’ thành ra ‘Huệ’ mới yên,

    Binh thư, đao kiếm, côn quyền gia công...’

    Nghe lời thầy, ba anh em đổi họ. Chàng cũng theo đó mà đổi tên thành Nguyễn Văn Lữ hay nói gọn lại là Nguyễn Lữ. Trước khi đi, chàng hẹn ta đến đèo An Khê ngắm sao. Đêm hôm đó cũng chính là ngày chúng ta ước định chung thân. Chàng hẹn khi quê nhà an bình sẽ đón ta về. Buồn cười thay, vật định tình của chàng là... Một con gà tên gọi Tướng Quân. Ta cũng kết cho chàng một đôi thủ sáo dùng làm tín vật.

    Mấy năm sau, chàng một mình lên núi gặp ta. Chàng nói, ba anh em đã dựng cờ khởi nghĩa và hạ thành Quy Nhơn. Sự nghiệp đã có, chàng cũng tính đến chuyện yên bề gia thất nên muốn đón ta đi. Chúng ta dắt nhau đến gặp thầy, cầu người đồng ý và chúc phúc. Lạy thầy ra đi, chúng ta nhanh chóng trở về Quy Nhơn. Với trí thông minh của mình, chàng được giao trọng trách xây dựng và bảo vệ hậu cần cho toàn quân. Về với chàng, anh hai Nhạc và anh ba Thơm không hề biết mình đã có thêm một người em dâu. Số là giờ đây chàng đã theo đạo Ma – ni và được gọi là Thầy Tư Lữ. Giới luật của đạo đối với nữ giới rất ngặt nghèo. Ta thân là vợ chàng thì không được xuất hiện nơi đông người, gặp người lạ cũng phải dùng khăn che đầu và mặt. Bởi thế, chẳng có mấy ai biết đến ta.

    Việc của chúng ta, nói đến thế là đủ. Ngày nay, giặc Ánh đã thống nhất giang sơn, định niên hiệu Gia Long. Sự đời truyền tụng “Lịch sử là do người chiến thắng viết”. Quả thế, bao nhiêu chiến công hiển hách, bao nhiêu điều tốt đẹp triều ta làm cho dân bị chúng phủ nhận, thư từ sách vở bị đốt sạch. Bởi vậy, ta viết tiếp đây là để cháu con hiểu rõ sự tích của tổ tiên, phòng ngày sau lại quên đi gốc gác.

    ... Đoạn này kể lại như lời ông Mạnh kể cho David...

    Năm Cảnh Thịnh đệ thất niên, giặc Ánh hạ thành Quy Nhơn. Lão bộc già Hồ Phúc khuyên ta trước chạy trốn khỏi thành, mang theo ấu tử Phi Long, phần lão, lão chạy theo hướng khác. Tội nghiệp lão. Quân của Võ Tánh tràn vào Quy Nhơn, có nhiều người nhận ra lão là người đã từng theo hầu Vương gia nên bắt đầu đuổi giết. Ta may mắn trốn ra khỏi thành, tìm đến đất An Nhơn. Bốn năm sau, giặc Ánh thống nhất đất nước, Hoàng tộc và tất cả nghĩa sĩ trung trinh bị tàn sát. May sao, nhờ trời và có lẽ được anh linh Vương gia chiếu cố, mẹ con ta an toàn. Để bảo toàn huyết mạch của Vương gia, ta quyết định đổi lại tên của nhi tử thành Hồ Phi Long.

    Than ôi, giang sơn rơi vào tay giặc Ánh. Khắp nơi, người người ngã xuống. Mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu tươi. Lòng ta lại đau như cắt. Nay ta để lại cho con cháu chân dung của Vương gia cùng với gia huy của dòng họ. Vật này thực tế được gắn trên thủ sáo ta tặng chàng năm xưa. Ta không biết nó làm từ đâu. Nhưng chàng đã từng nói với ta, khi nó quay về với thủ sáo, đất trời sẽ thay đổi. Thế mà, than ôi! Gia huy còn đây mà thủ sáo đã thất lạc.


    Vậy nay ta truyền cho con cháu. Đời đời phải nhớ đến gốc gác của mình. Mỗi thế hệ tử tôn phải tìm mọi cách để thu hồi lại thủ sáo. Để cho lần nữa thủ sáo và gia huy quy nhất. Để đất trời thay đổi, định càn khôn. Để đánh tan giặc Ánh, thu giang sơn về một mối.

    Tổ mẫu Trần thị lưu thư.

    Đọc hết thư, David bất giác mỉm cười. Anh tự nhủ, điều này có thể chăng. Một cái gia huy và một đôi găng tay thì làm được gì? Khỏi phải nói đến đất trời thay đổi, định càn khôn. Không lẽ gia huy và thủ sáo kết hợp sẽ có thể làm ra phép thuật? Rõ ràng là Tổ mẫu quá mê tín rồi. Nếu đúng thế thì ngày xưa Tổ phụ chẳng phải là biết làm phép sao? Vậy sao Người còn phải chết?

    Đặt bức di thư xuống, David cầm bức thư thứ hai lên.

    Quy Nhơn thành, Thái Đức đệ thập niên (1787)

    Phu nhân yêu quý, cô gà mái mơ đáng yêu của ta,...

    David bỗng cười sặc sụa. Tổ phụ quả là người mê gà đến chết. Lại hài hước nữa. Ai lại gọi vợ mình là một con gà, vậy Ngài chả là một con gà trống sao.

    Ta có lẽ sắp không xong rồi. Ta viết ra đây mấy lời nhắn nhủ nàng. Ta không giỏi văn chương, nàng cũng hiểu. Thế nên nàng đừng cười khi đọc lên lại chẳng thấy hay ho gì nhé.

    Nàng có nhớ lần chúng ta thề ước chung thân không? Chúng ta cùng ngắm sao băng ở đèo An Khê. Hôm ấy, khi ngôi sao băng bay qua, ta nhìn thấy nơi xa xa lóe lên ánh chớp và lửa bốc lên. Dĩ nhiên đó chỉ là đốm lửa nhỏ thôi, không ai chú ý. Sáng hôm sau, ta lần đến nơi phát ra ánh chớp. Nàng đoán xem ta nhìn thấy thứ gì. Một tảng đá kỳ lạ. Đứng cách xa tảng đá chừng một trượng (khoảng 4m), thanh bội kiếm hay đeo bên mình bỗng rung lên. Tiến lại gần hơn, cuối cùng thanh kiếm cũng bay ra và dính chặt vào tảng đá. Phải khó khăn lắm ta mới rút được thanh kiếm ra, buộc chặt bên người. Ta bỗng nghĩ ra một ý: Đem về đập nhỏ ra, đính mấy viên đá nhỏ lên thủ sáo định tình của chúng ta. Lúc ra trận, chỉ cần đưa tay ra vũ khí của giặc sẽ tự nhiên rời tay chúng, thế là ta tha hồ mà chém giết. Ha... Ha... Nàng thấy ta thông minh không.

    Oh my god!!! Tổ phụ điên mất rồi à? Ngài làm như thế khác nào hút vũ khí đối phương bay về phía mình? Không khéo khi Ngài giơ tay lên cũng chính là lúc Ngài biến thành con nhím mất thôi. Mà tảng đá này chắc là một khối nam châm to đây.

    Nghĩ đến đây, ta khệ nệ ôm tảng đá quay về. Ta sai người đục tảng đá. Ta đem năm viên đá kích thước từ lớn đến nhỏ đính lên thủ sáo bên tay phải. Ta lại lấy một miếng to hơn, đẽo thành hình tròn và khắc lên đó gia huy của chúng ta – Lão Kim Kê. Sau đó, ta đính gia huy này lên mu thủ sáo tay phải theo thế chúng tinh ủng nguyệt. Phần đá còn lại cùng mấy mảnh vụn, ta đem cất, sau này có việc dùng.

    Lạy Thánh Ala! Lúc này lại có vấn đề. Khi đem thủ sáo ra thử, ta sợ bay mất hồn vía khi thấy gươm giáo xung quanh bay lại – hi... Hi... Bây giờ Ngài mới phát hiện ra sao Tổ phụ. Ta vội vàng gỡ tấm gia huy ra, lực hút bỗng nhiên yếu hơn. À, có một sự lạ nữa, ta thấy từ trên trời bỗng chốc xuất hiện một cơn lốc nhỏ hướng tới thủ sáo. Khi gỡ tấm gia huy ra thì không còn thấy nữa. Vả lại, lúc này thủ sáo dùng được rồi. Ta sai hai tên thủ binh tiến lại, tay cầm giáo. Ta đưa tay lên, hai ngọn giáo rung rung, thế nhưng chúng bị giữ lại. Hai tên thủ binh cảm thấy vẫn cần được giáo nhưng xem ra lóng ngóng lắm và có điều khó khăn. Ha... Ha... Đại công cáo thành. Vậy là ta có cách để giết địch dễ dàng rồi.

    Hôm trước, ta có gặp giáo hữu Mộ Tôn (Mosul). Anh ta kể một câu chuyện ly kỳ. Số là nửa năm trước anh mới trở về từ một nơi gọi là Tam giác Bẹc gì đó – chắc là tam giác quỷ Bermuda, David nghĩ – cùng với thương đội trên biển. Thương đội anh gồm năm chiếc thuyền. Khi tiến về vùng biển này, họ bỗng thấy một cơn lốc. Ba chiếc thuyền bị cuốn vào, thế rồi biến mất tăm, con lốc cũng tan đi. Anh ta nói chúng như là bị Thánh Ala lấy đi một cách kỳ bí vậy.

    Ta bỗng nảy ra một ý. Không phải hôm trước khi thử đính những viên đá lên thủ sáo thì xuất hiện một cơn lốc sao? Mà khi đó, phải có sáu viên đá mới xuất hiện cơn lốc. Bằng chứng là khi lấy ra viên lớn nhất thì cơn lốc kia biến mất. Ta bỗng nghỉ ra một ý kiến. Nếu mình dùng mấy mẫu đá vụn xếp thành hình lục lăng thì biết đâu nó lại làm xuất hiện cơn lốc, kẻ thù chả phải là biến mất sao. Nghĩ là làm. Ta sắp sáu viên đá ra sân. Ai mà ngờ, chúng chỉ bị hút dính lại với nhau. Ta lại thử cố định chúng trên đất... Không có gì xảy ra, ta lại nghĩ, chẳng phải sáu viên đá trên thủ sáo có kích cỡ từ nhỏ đến lớn sao. Ta lại sắp những mẫu đá vụn theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Quả nhiên một cơn lốc xuất hiện. Đá bay, cát nhảy khắp nơi. Rồi cơn lốc biến mất. Ta dáo dác nhìn xung quanh xem thử có thay đổi gì không. Ôi trời ơi, con Nhị tướng quân của ta biến mất rồi, con gà của ta ấy mà. Ta hí hửng đem việc này thưa lại cho anh Ba. Kết quả, ta bị một trận mắn té tát. Anh ta nói: “Cứ cho là vậy đi. Thế chú quên mất nếu xảy ra việc này, chẳng những giặc biến mất mà binh sĩ của ta cũng phải biến mất sao?”

    Từ đó đến nay cũng đã mấy năm rồi. Ta cũng quên mất việc đó. Cách nay mấy hôm, ta thấy một việc hết sức kỳ lạ. Ta không tin vào mắt mình nữa. Nàng biết ta thấy gì không? Con Nhị Tướng Quân. Thề có Thánh Ala, ta quả thấy con Nhị Tướng Quân vốn biến mất năm xưa. Ta chạy vội đến ôm nó. Kiểm tra nơi cựa bên phải, ta thấy quả là có khắc tên nó. Ta hay làm điều này với mấy con gà của mình nên biết chắc. Như vậy là cơn lốc kia không làm người ta biến mất, mà nó làm người ta vượt qua thời gian. Ta cố nhớ lại. Ngày trước ta sắp xếp mấy viên đá theo thứ tự ngược với thứ tự trên thủ sáo. Con gà biến mất và nay lại xuất hiện. Ta cũng nhớ lại, cơn lốc xuất hiện khi ta đính đá vào thủ sáo lại xoay ngược chiều. Như vậy không phải là nếu cơn lốc quay ngược sẽ đem người ta quay về quá khứ hay sao?

    Ta cảm thấy hết sức vui mừng. Thế mà hỡi ôi, những mẫu đá ngày xưa nay mất rồi. Đôi thủ sáo ngày xưa cũng mất. Ta không thể nào thực nghiệm nữa. Việc mất đi thủ sáo cũng báo hiệu cho ta biết ngày về với Thánh Ala cũng không còn xa nữa. Thôi thì nàng hãy ghi nhớ. Sau này, nàng và hậu nhân cố gắng tìm về đôi thủ sáo đó. Biết đâu hậu nhân có thể trở về quá khứ, gặp được ta và thay đổi được mọi điều.

    Nhớ lấy, cô gà mái mơ của ta.

    Thư kết thúc ở đây. David bất giác chìm vào suy tưởng. Phản khoa học. Tất cả đều là phản khoa học. Có lẽ khi Tổ phụ sắp chết lại trông gà hóa cuốc. Hoặc cơn lốc kia là lúc Ngài không còn tỉnh táo mà hình dung ra chăng? Hoặc là Ngài bị chơi khăm? Có thể lắm chứ. Tổ mẫu lại không biết, lại nghĩ việc này là thật. Lại mê tín nữa, nghĩ rằng điều này có thể xảy ra. Con cháu có thể quay về quá khứ, sửa đổi lại dòng chảy lịch sử.

    David suy nghĩ mông lung. Có lẽ tất cả chỉ là sự hiểu nhầm và mê tín thôi. Không thể xảy ra việc đó thật. Dù con cháu có tìm ra đôi thủ sáo cũng chẳng có gì xảy ra. Thế nhưng, phận là con cháu, nếu có thời gian và điều kiện, mình cũng nên tìm kiếm. Xem như để thỏa chí nguyện cuối cùng của Tổ tiên vậy. Nghĩ đến đó, anh bỏ tất cả vào lại trong hòm, khóa lại. Sau đó anh đem cái hòm vào phòng cất và đi ngủ.
     
  5. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 4: Biến cố ở Bảo tàng Quang Trung

    Mời đọc
    - David... David... Cháu làm sao thế? Cháu làm gì mà thẩn thờ rồi cười một mình thế?

    - À... À... Không có gì đâu, bác Tom ạ. Chỉ là khi đặt chân đến Viện Bảo tàng, cháu chợt nhớ đến lời dặn của ba thôi.

    Tom cũng tham gia chuyến đi thăm Việt Nam lần này. Ông cũng muốn về thăm lại Việt Nam – chiến trường xưa. Mặt khác, ông cũng muốn viết một bài về Việt Nam sau mười năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.

    - Sao? Ba cháu dặn gì?

    - E hèm!!! Ba cháu dặn thế này. Bác Tom của con là nhà báo, cái tính thích chạy lung tung chụp hình. Con nhớ giữ chân bác. Không khéo bác chụp bừa rồi bị...

    Cốp!!! David ăn một cú cốc đầu rõ đau.

    - Hừ! Đúng là cha nào con nấy. Cha con hai người là chuyên gia nói móc thiên hạ. Đi tiếp thôi.

    “Đây là tủ trưng bày binh khí của Tây Sơn Tam Kiệt...” Giọng cô hướng dẫn viên lại tiếp tục vang lên. “Bên tay trái của quý vị là binh khí thành danh của Thái Đức Hoàng Đế Nguyễn Nhạc – Độc Thần Kiếm. Tương truyền một hôm, Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ phi nước đại. Đến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt Nguyễn Nhạc té nhào xuống ngựa, trật chân không đứng dậy được. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy để lên ngựa thì Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem thì là một thanh cổ kiếm, lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là kiếm trời ban. Do tích được kiếm của Nguyễn Nhạc tại đây nên núi mang tên là hòn Kiếm Sơn. Tuy nhiên, theo ghi chép của sử sách, đây chỉ là một thanh cổ kiếm mà Nguyễn Nhạc vô tình mua được. Sau ông lại sai thân tín dựng lên câu chuyện trên để thần thánh hóa cuộc khởi nghĩa. Qua câu chuyện, nhân dân khắp nơi đều cho rằng ông lĩnh mạng trời thống nhất giang sơn.

    Bên tay phải quý vị là thanh Ô Long Đao. Đây là thanh đao của Nguyễn Huệ. Truyền rằng một hôm Nguyễn Huệ đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa. Để tạo nên một không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin là trong dịp đi tuần này có hai con rắn mun to lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu xà.

    Thanh Ô Long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ thì khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang mà chỉ có khí lạnh, đồng thời sắc bén vô cùng. Trọng lượng rất nặng.


    Đây cũng là tủ trưng bày đáng chú ý cuối cùng của Bảo tàng, ngoài ra, phía bên ngoài còn có vài tủ trưng bày những vũ khí phổ thông của nhà Tây Sơn. Quý vị có thể xem tự nhiên. Đến đây có quý vị nào muốn đặt câu hỏi không ạ?”

    - Tây Sơn Tam Kiệt là ba anh em. Ở đây chỉ trưng bày binh khí của hai người. Thế còn binh khí của người thứ ba đâu? Một vị khách nữ giơ tay đặt câu hỏi.

    - Ý cô hỏi là binh khí của Nguyễn Lữ đúng không ạ? Chúng tôi đã tham khảo rất nhiều tài liệu. Đồng thời cũng bỏ công sưu tầm khắp nơi. Đáng tiếc lại không thể tìm được. Chỉ biết ông cũng dùng kiếm như Nguyễn Nhạc. Ông có một thanh đoản kiếm hay đeo ở bên mình. Tuy nhiên, không ai biết hình dạng của nó ra sao và không biết tung tích.

    Một vài vị khách khác cũng đặt câu hỏi. Thế nhưng, lúc này David không nghe được gì. Anh chỉ biết từ khi bước vào khu vực trưng bày vũ khí, anh có một cảm giác rất lạ. Anh cũng cảm giác ngực mình nóng lên như có ai đó dùng một vật hình tròn rất nóng đóng vào ngực vậy. Cảm giác này mỗi ngày một lớn hơn. Chiếc huy hiệu anh đeo trước ngực không biết vì sao lại rung nhẹ, rồi mạnh dần, mạnh dần. David mở nút áo, tháo sợ dây chuyền trên cổ xuống. Chiếc huy hiệu treo tòong teng trên đó. Trước khi về Việt Nam, anh có nhờ thợ kim hoàn đục một lỗ nhỏ rồi dùng sợi dây chuyền xỏ qua và đeo trước ngực. Cầm di vật của Tổ phụ trên tay, David cảm nhận rõ ràng nó đang rung và... Rất nóng.

    “Chuyện quái gì xảy ra thế này? – David kinh hãi, thầm nghĩ. Tại sao chiếc huy hiệu lại có phản ứng mạnh mẽ thế? Đây rõ ràng chỉ là một chiếc huy hiệu bình thường thôi mà. Mình cũng thử dùng chất bột rơi ra khi đục lỗ đem đi xét nghiệm. Chất liệu rõ ràng là một loại đá nam châm, có khác chăng hàm lượng sắt cao hơn bình thường và lại có một ít Titannium thôi. Lẽ nào... Lẽ nào... Lẽ nào...”

    Anh chợt thốt lên ba tiếng lẽ nào rồi tiến nhanh lại tủ trưng bày binh khí phổ thông. Tim anh đập mạnh hơn. David có cảm giác tim mình cũng đập mạnh dần lên theo mỗi bước chân anh đi tới. Còn ba bước... Hai bước... Một bước... Anh chợt cảm thấy không thể tin nổi vào mắt mình. Nó nằm đó, xen lẫn giữa những thanh trảm mã đao là một đôi găng tay, à phải nói là thủ sáo thì đúng hơn. Đôi thủ sáo làm bằng da hổ, trên thủ sáo tay phải có đính năm viên đá màu đỏ bầm, trong suốt, kích thước nhỏ dần tính từ vị trí ngón tay cái đến ngón út. Bên dưới là một tấm biển nhỏ: “Thủ sáo, một loại găng mà những võ sĩ tay không thường đeo để bảo vệ tay và tăng tính sát thương”.

    “Đúng là nó rồi. Y như miêu tả của Tổ phụ. Có lẽ nhân viên Bảo tàng đã sưu tầm được từ lâu nhưng không hề biết đây chính là cặp thủ sáo của vị anh hùng thứ ba nhà Tây Sơn. Họ nghĩ rằng đây chỉ là loại binh khí bình thường của binh sĩ Tây Sơn thời đó”.

    Lúc này, cặp thủ sáo cũng rung lên. Nó va vào thành tủ kính. Những viên đá đập mạnh vào thành kính như muốn phá vỡ ngục tù đang giam giữ chúng. Tiếng va đập ngày càng lớn, thu hút hầu như tất cả ánh nhìn của các khách tham quam quan. Tom cũng lấy máy chụp hình bấm liên tục. Gương mặt ông thể hiện sự kinh ngạc tột độ. “Chúa ơi!!!!! Có ma chăng?” Ông thầm kêu lên trong lòng.

    Choeng. Cuối cùng, một tiếng vỡ thanh thúy của thủy tinh vang lên. Đôi thủ sáo bay thẳng đến tay David. Xảo hợp làm sao, chiếc huy hiệu lại nằm đúng vị trí của nó – phía trên mu bàn tay phải của cặp thủ sáo. Tức thì trong thinh không lại vang lên tiếng gió rít gào. Một cơn lốc xoáy với tốc độ gió kinh khủng xuất hiện. David phỏng chừng cũng phải đạt trên một trăm dặm giờ. Tốc độ xoay của gió càng lúc càng tăng lên. David lại có cảm giác dần tiếp cận đến vận tốc âm thanh.

    Đùng... Một tiếng nổ lớn vang lên. David thấy mình như bị cuốn vào ơn lốc. Mọi âm thanh chợt ngưng lại, không có tiếng gió thét gào, không có tiếng la kinh hoảng của khách thăm bảo tàng. Khung cảnh cũng gần như ngưng lại, mọi người xung quanh như đứng bất động, chỉ có anh xoay tròn theo cơn lốc xoáy. Hình ảnh cuối cùng đập vào mắt anh là bác Tom với khuôn mặt kinh hoảng đến tột độ. Trong một tích tắc sau đó, mọi thứ tối sầm lại. Anh cố gắng nhướng mí mắt lên, cố nhìn xung quanh nhưng không thấy gì. Các cảm giác cũng dần mất đi. Và cuối cùng, anh không còn biết đến gì hết.

    Cùng lúc đó, tưởng chừng như chỉ trong một cái chớp mắt, cơn lốc xoáy xuất hiện rồi lại biến mất. Nó để lại một hiện trường ngổn ngang với những con người đang thất kinh hồn vía. David cũng bất chợt biến mất khỏi tầm mắt mọi người. Không có một âm thanh nào phát ra trừ tiếng thét kinh hoàng của Tom “D... A... V... I... D...”
     
  6. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 5: Xuyên việt

    Mời đọc
    - A... A... A...

    Một tiếng thét chói tai vang lên như muốn xé tan màn đêm tĩnh mịch. Giữa một căn phòng với những bức màn màu vàng thêu hình rồng bằng chỉ kim tuyến, thiếu niên ngồi bật dậy. Trán lấm tấm mồ hôi, thiếu niên dáo dác nhìn khung cảnh lạ lẫm xung quanh. Dưới ánh sáng leo lét của những ngọn nến, thiếu niên nhận thấy đây là một phòng ngủ rất rộng lớn. Những vật dụng bày biện ở đây đều thấp thoáng có màu vàng kim. Cả căn phòng toát lên vẻ xa hoa, lộng lẫy. Trong ánh sáng mờ ảo, mọi vật nhìn có vẻ lung linh, huyền ảo. Thiếu niên dụi mắt, bất giác thốt lên:

    - Mình đang ở đâu đây? Bây giờ là mấy giờ rồi?

    Thiếu niên đứng lên, đi dạo khắp phòng, trong đầu hiện lên vô vàn câu hỏi. Cậu tiến lại chiếc bàn dài đặt đối diện giường ngủ. Đây là một chiếc hương án làm bằng gỗ lim với bốn chân được chạm khắc hình rồng trông rất sinh động. Phía trên phủ một tấm vải điều viền thêu kim tuyến. Giữa bàn có hai cuốn sổ nhỏ bìa lụa màu đỏ, bên ngoài viết một dòng chữ Hán. Thiếu niên cầm một cuốn lên, mở ra. Thì ra cuốn sổ này thực chất chỉ là hai tấm bìa, bên trong dán một tờ giấy gió cũng viết toàn chữ Hán.

    “Thần, Thái Úy Lê Văn Hưng kính tấu” thiếu niên bổng choáng váng khi đọc thầm dòng chữ hán bên ngoài. “Chuyện gì xảy ra đây? Đây là một bản tấu chương”. Bỏ cuốn sổ này xuống, cậu lại cầm cuốn còn lại lên. “Thần, Phụ chính Trần Văn Kỷ kính tấu”.

    - Á... Á... Á... Đau đầu quá. Chuyện gì thế này? Mình không phải là đang ở Bảo tàng Quang Trung sao? Còn nữa, thân thể này là sao đây? Rõ ràng là thân thể của một bé trai khoảng mười một, mười hai mà.

    Thì ra thiếu niên chính là David Ho. Thế nhưng mọi chuyện sao lại như thế này? Anh đang ở đâu? Bỗng nhiên, bên ngoài có tiếng bước chân chạy rầm rập, cau đó là tiếng đập cửa.

    - Hoàng thượng... Hoàng thượng... Người không sao chứ? Hoàng thượng... Hoàng thượng.

    “Gì nữa đây? Hoàng thượng? Ai là Hoàng thượng?” – David lẩm bẩm rồi ra mở cửa phòng. Trước cửa là một người đàn ông, thoạt nhìn tầm bốn mươi tuổi, mặc một bộ cổ trang như trong những bộ phim kiếm hiệp dã sử David đã từng xem trước đây. Nhìn thấy David, ông ta quỳ sụp xuống vái lạy, cất giọng the thé:

    - Hoàng thượng... Người không sao chứ? Xin thứ tội thần chậm trễ hộ giá.

    “Ông ta nói với mình ư? Mình là vua sao?” – David lại tự hỏi.

    - Tôi... Tôi... À... Trẫm... Trẫm không sao. Ông là...

    - Khải bẩm. Thần là Tổng quản Nội vụ Vũ Tâm Can. Bệ hạ không nhận ra thần sao? Chắc là... Chắc là Bệ hạ vì bị sét đánh năm hôm trước nay mới tỉnh dậy, đầu óc còn choáng váng nên mới không nhận ra thần.

    “A... Thì ra mình đúng là vua. Nhưng mà vua của nước nào? Thời đại nào? Sao mình lại không biết nhỉ?” Lúc này David choáng váng thật sự. “Thôi kệ, cứ để xem sao”


    - Vậy à? Chắc là thế. Thôi, trẫm không sao. Khanh cứ đứng dậy đi. Trời cũng khuya rồi, khanh cứ về nghỉ ngơi đi.

    - Tạ ơn bệ hạ. Kính mong bệ hạ bảo trọng long thể. Giờ bệ hạ đã không sao. Không biết ngày mai bệ hạ có thiết triều không ạ? Hay là nghỉ ngơi thêm một hôm nữa cho khỏe hẳn?

    - À không cần. Ngày mai trẫm sẽ lên triều. Ngủ suốt năm ngày rồi, ngủ nữa chắc xương cốt cũng mục rữa mất thôi.

    “Sao hôm nay Hoàng thượng nói chuyện lạ thế nhỉ? Xương cốt mục rữa mất là thế nào? Từ khi nào Hoàng thượng lại nói chuyện ra có vẻ cao thâm thế?”, nghĩ vậy, Vũ Tâm Can nói tiếp.

    - Vậy thần xin lui xuống trước. Sáng sớm thần sẽ đánh thức bệ hạ dậy. Người cũng nghỉ ngơi thêm chút đi.

    David cũng gật đầu rồi vẫy tay ra hiệu cho ông ta ra ngoài. Lúc này, trong đầu David bỗng nhiên kéo đến một trận đau nhức khó tả. Rồi sau đó là hàng ngàn thông tin hiện ra trong óc. Thì ra, sau khi bị cuốn vào cơn lốc xoáy, linh hồn anh bị xuất ra, bị kéo về quá khứ. Cùng lúc này, cậu thiếu niên này, chính là vua Cảnh Thịnh đang chơi đá gà với Vũ Tâm Can trong Nội uyển bỗng dưng bị một tia sét đánh trúng, bất tỉnh. Linh hồn của David bị kéo đến đây, nhập vào thân xác của Cảnh Thịnh. Việc này xảy ra vào năm ngày trước.

    “Hóa ra là thế. Mình tìm thấy đôi thủ sáo của Tổ phụ. Hai phần của món binh khí gặp nhau, phát sinh ra một cơn lốc rồi kéo mình về quá khứ. Ra là vậy. Nhưng việc này rõ ràng là phản khoa học mà”. Đến lúc này, David vẫn dùng cái suy nghĩ của một nhà khoa học mà phân tích mọi việc.


    [ truyen cUa tui . net ]
    Anh nằm xuống giường, à, phải nói là Long sàng mới đúng, vắt tay lên trán và suy nghĩ. Anh lục lòi mớ kiến thức trong đầu, cố tìm cho mình một lý do hợp logic. À, nhớ rồi. Trước khi anh hoàn thành luận án Master Vật lý – Nano, anh là một Cử nhân khoa Vật lý – Lượng tử. David đã từng đọc một giả thuyết của một vị Giáo sư đầu ngành đăng trên chuyên san “Khoa học và thường thức”, số mấy thì anh quên mất rồi. Chỉ nhớ ông ta đã từng nói: Khi một vật (hoặc ai đó) chuyển động với vận tốc bằng hoặc vượt qua bức tường ánh sáng, nó (hoặc người đó) có thể vượt qua được giới hạn của thời gian và xuất hiện ở một thời điểm nào đó trong tương lai hoặc quá khứ. Có lẽ đây chính là lý do thuyết phục nhất. “Đúng rồi. Mình nhớ là vận tốc gió của cơn lốc xoáy lúc đó theo cảm nhận dần vượt qua vận tốc âm thanh rồi lại tiếp tục tăng tốc. Mình cũng không còn nghe bất kỳ âm thanh nào hết và mọi người, mọi vật dường như đứng bất động. Vậy là mình bị cuốn vào cơn lốc. Mình theo đó bắt đầu chuyển động nhanh dần rồi vượt qua bức tường ánh sáng. Cuối cùng, mình bị kéo về quá khứ và nhập vào vua Cảnh Thịnh mới bị sét đánh, lúc đó chắc cũng ô hô a tai rồi, sét đánh thì có mấy ai còn sống được, huống chi đây mới chỉ là một đứa trẻ”.

    Đã tìm được nguyên nhân, David cảm thấy nhẹ lòng hơn. Tuy vậy, ở đây còn một vấn đề nữa. Linh hồn. Đúng vậy, “tại sao là mình chỉ có linh hồn? Còn thân xác mình lại như thế nào mà biến mất?”. David là người theo đạo Công giáo nên luôn tin tưởng là có linh hồn. Và sự thật chứng minh là có linh hồn, chẳng phải là anh nhập hồn vào Cảnh Thịnh sao.

    Lại một lần nữa David chìm vào suy tư. Trước đây, David có từng nghe một vị Giáo sư Sử học có nói: “Lịch sử là một dòng sông không có phân nhánh. Nếu như có ai trở về quá khứ, và tác động vào, dòng chảy này sẽ thay đổi, đi theo một hướng khác. Mọi việc ở hiện tại sẽ không như hiện tại nữa”.

    Vậy là rõ rồi. David ngồi bật dậy, tiến lại hương án – giờ đây anh biết đó chính là bàn làm việc của anh. Cầm cây cây bút lông lên, chấm vào nghiên mực đặt gần đó và vẽ vào tờ giấy lấy bên cạnh một sơ đồ.

    “Vậy là các mảnh đá trên thủ sáo và gia huy gặp nhau. Chúng tạo nên một vòng từ trường, trong di thư của Tổ phụ chả nhắc đến Tam giác quỷ Bermuda là gì, mà bí mật của nó cũng được phơi bày, đó là bởi vì từ trường. Vòng từ trường lớn dần và sinh ra cơn lốc. Cơn lốc cuốn mình vào và tăng tốc. Mình vượt qua bức tường ánh sáng và bị kéo về quá khứ. Mình trở về quá khứ ngay tại Nội uyển có lẽ làm từ trường làm trên trời phát sinh tia sét, đánh thẳng xuống đầu Cảnh Thịnh. Cảnh Thịnh chết, vậy là mình đã thay đổi dòng chảy lịch sử. Theo đó, thân thể mình cũng tan biến vì thực tế nó đã không còn ‘từng tồn tại’. Linh hồn mình nhập vào thân xác vẫn còn hơi ấm của Cảnh Thịnh và mê man đến giờ mới tỉnh lại”.

    “Bingo!!!!! Đã tìm ra đáp án rồi. Thôi tranh thủ trời còn tối, ngủ thêm một luc nữa vậy. Nghe nói thời này vua chúa phải dậy sớm lắm, khoảng năm hay sáu giờ để thiết triều”. Đặt cây viết xuống, David nở một nụ cười thỏa mãn. Anh tiến lại giường, đặt lưng xuống, bắt đầu ngủ.
     
  7. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 6: Nguy cơ và kế hoạch

    Mời đọc
    Nằm lăn qua lăn lại trên Long sàng, mãi mà David vẫn không tài nào ngủ được. Ngoài kia trống đã điểm canh hai. Tuy đã lý giải được tại sao mình lại ở đây vào lúc này, Toản vẫn còn thổn thức không nguôi. Cậu không tin vào số phận. Thế nhưng tại sao mình lại nhập hồn vào Cảnh Thịnh, một ông vua mất nước, lại chết trẻ nữa. Ông tại vị mười năm, mà nay đã là năm thứ hai rồi. Không lẽ mình lại ra đi sớm vậy sao? Mình không cam lòng.

    Cậu nằm đó, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ khác trôi qua trong đầu. Hôm nay quả là một ngày “kinh khủng”, ít nhất là đối với Toản. Cậu đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc. Từ hồi hộp khi tìm thấy di vật của Tổ phụ, đến kinh hoàng với cơn lốc đáng sợ kia. Thứ nữa là sự nghi hoặc về hiện tượng lạ xảy ra. Rồi hưng phấn vì giờ đây đã là một vị vua, tại một triều đại mà mình vô cùng ngưỡng mộ. Và giờ đây là cảm giác sợ hãi vì cái chết sắp đến. “Chúa ơi! Tại sao không cho con đến sớm hơn chút nữa, nhập hồn vào vua Quang Trung? Ít ra với khả năng của con, con đã có thể biết vì sao mà ông chết, biết đâu lại tránh được. Con sẽ đánh tan quân Nguyễn Ánh. Không cam tâm, con không cam tâm”.

    “Phải rồi. Chính Nguyễn Ánh sẽ là người đem lại cho mình cái chết. Mình phải đánh bại hắn. Có lẽ từ nay phải gọi hắn là giặc Ánh như Tổ mẫu rồi. Đánh, nhưng phải đánh bằng cách nào? Sau lưng Ánh là nước Pháp, binh lính được trang bị tối tân. Phải làm sao để thắng đây?”

    “Nước Pháp ư? Không phải bây giờ nước Pháp với Napoleon đang chuẩn bị chinh phục được Châu Âu sao. Dập tắt được sự” điên rồ “của Napoleon chỉ có Công tước Wellington của nước Anh với trận Waterloo lịch sử thôi. Có câu ‘kẻ thù của kẻ thù chính là bạn’. Mình sẽ tìm cách giao bang với Anh Quốc. Mình phải phân ra chiến tuyến. Dùng trợ thủ của mình đánh trợ thủ của Ánh, còn chính mình sẽ đánh với Ánh. Ha... Ha... Mình thông minh quá xá. Ặc... Ặc... Sao mình lại tự sướng như Tổ phụ làm trong di thư nhỉ? Chắc là do gen di truyền. Hi... Hi...”

    Đã tìm ra phương pháp, Toản bật dậy, ngồi vào hương án, lấy giấy viết lập ra kế hoạch. Muốn làm gì cũng phải có chiến lược, kế hoạch nếu không muốn thất bại. Với kiến thức của mình, Toản hiểu rất rõ điều này.

    “Bắt đầu từ đâu nhỉ? Nguyễn Ánh liên lạc với Pháp qua Giám mục Bá Đa Lộc. Vậy mình cũng phải bắt đầu với một nhà truyền giáo người Anh, à, ‘nhập gia tùy tục’ mình phải gọi là Ăng lê mới phù hợp với thời đại. Nếu may mắn, mình tìm được ngay một người, phải tốn hai năm cả đi lẫn về. Lại còn bang giao hầm bà lằng nữa, cho là nửa năm đi. Vậy là mất hai năm rưỡi. Theo dương lịch thì năm nay là năm 1794. Sang năm Tây Sơn và giặc Ánh sẽ phải giằng co ở Nha Trang, à không, phải nói là Diên Khánh và Phú Yên. Đến khoảng tháng 4 Ánh mới rút. Cuộc dằn co này tuy là thắng lợi nhưng cũng bào mòn nghiêm trọng binh lực của ta dẫn đến suy sụp sau này. Vậy là chỉ còn chưa tới một năm nữa. Chà.. Chà... Khó rồi đây. Không thể chờ Anh Quốc được. Muốn thoát khốn trước phải nhờ mình. Phải cải tổ lại quân đội thôi. Bắt đầu là với vũ khí, binh khí ta lúc này lạc hậu quá. Hiện đại nhất chỉ có Hỏa hổ, Hỏa cầu với súng Điểu thương thôi. Vậy phải nghiên cứu và tạo ra súng mới. Ít nhất là súng kíp. Được thì là súng săn, tốt hơn nữa là súng săn hai nòng. Muốn làm súng săn thì phải làm được hạt nổ. Rồi chưa kể đến giờ đang dùng thuốc nổ đen nữa, mà thuốc nổ đen lại có hiệu quả không cao. Chúa ơi, nhiều việc quá, mình làm không xuể rồi. Phải chia sẻ cho người khác bớt thôi”.

    “Haiz. Nghĩ đến thuốc nổ với hạt nổ lại đau đầu a. Muốn người khác phụ thì phải chỉ cho người ta công thức rồi bản vẽ và nhiều thứ nữa. Mình thì OK, nhưng làm sao hướng dẫn họ đây. Mấy cái công thức toàn dùng chữ cái Latin. Người Việt lúc này chỉ dùng chữ Hán – Nôm, làm sao mà hiểu được mấy thứ rối rắm này đây. Rồi. Vậy thì phải dạy cho họ chữ cái trước. Phải dùng chữ Quốc ngữ thôi. Ha... Ha... Mình dạy họ chữ viết thì có nên gọi là chữ Cảnh Thịnh không ta? Thôi đi, ha... Ha... Phải tôn trọng người sáng tạo ra nó. Gọi là chữ Quốc ngữ là tốt nhất vì mình sẽ phổ biến cả nước mà. Giao cho ai làm đây nhỉ? À, mình sẽ nhờ vị linh mục người Anh, nhân tiện để ông ta làm đại sứ cho mình luôn, nhất cử lưỡng tiện.

    Chữ viết lúc này còn nhiều phụ âm kép lắm như bl, tl, rắc rối. Mình phải nói với ông ta mấy cái cải tiến theo bảng chữ cái hiện đại thôi. Cái vụ này chắc phải mất cả tuần lễ. Xong mình giao lại cho ai để phổ biến đây nhỉ? Phải rồi, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Chẳng phải Tiên hoàng giao cho ông ta dịch tiếng Hán ra tiếng Nôm sao? Nhân tiện bắt ông dịch trực tiếp ra chữ Quốc Ngữ luôn”.

    Rồi. Phân chia công việc đây. Cậu bắt đầu đặt bút xuống viết.

    “Đầu tiên là sai người tìm kiếm một linh mục truyền giáo người Anh. Lấy lý do là mình ngưỡng mộ họ sau khi đọc cuốn tự Điển Việt – Bồ – La. Rồi muốn học hỏi từ họ. Nhân tiện phong ông ta làm Đại sứ bang giao với Anh Quốc”.

    “Tiếp đó là ra vẻ mình có chút sáng kiến cho loại chữ viết này, đề nghị ông ta tham khảo. Và phải nói chuyện bằng tiếng Anh nữa chứ. Làm vậy, ông ta sẽ nể trong mình hơn, đánh giá mình là người rất tiến bộ. Khi đó, ông ta dễ tiến cử mình với vua nước Anh hơn. Nhất cử lưỡng tiện. Ha... Ha... Mình giỏi quá. Ặc, lại tự sướng nữa rồi. Tổ phụ ơi. Tại sao Ngài lại mắc căn bệnh này để rồi di truyền cho cháu”.

    “Tiếp nữa là giao cho Nguyễn Thiếp. Cái khó là phải làm sao cho ông ta hiểu được. Nhưng mình tin là sẽ làm được. Còn thuyết phục những người khác ư? Giao cho ông ta đi, phát lương để làm gì mà lại không sử dụng”.

    “Còn lại là việc của mình. Đầu tiên là tính ra công thức cải tiến thuốc nổ mới. Sau lại hướng dẫn cho thợ thầy tỷ lệ phối trộn. Rồi cho người khai thác đá lửa, xẻ nhỏ đá. Lúc này yên tâm cải tạo súng Điểu thương rồi. Có thời gian thì tìm cách cải tiến Hỏa cầu. Còn Hỏa hổ thì tạm thời để đấy. À, nhắc mới nhớ. Các loại súng kíp phải đổ thuốc nổ vào nòng, nén chặt rồi cho đạn vào. Mất thời gian quá. Sao mình không cho nén trước thành từng viên ở bên ngoài nhỉ. Ra trận, chỉ cần cho thuốc nổ vào, cho đạn vào, sau đó thì alê hấp, đùng. Ha... Ha... Mình... Vừa mở miệng ra, như chợt nhớ điều gì, Toản lại che miệng rồi cười mỉm”.

    “Tiếp tục thôi. Nếu vẫn còn dư thời gian thì nghiên cứu hạt nổ. Muốn làm hạt nổ thì phải dùng thủy ngân fuminate. Giờ thì kiếm đâu ra thủy ngân đây, nói chi đến muối fuminate của nó. Hay là dùng chất nào có thể thay thế mà dễ tìm vậy. Phosphor là lựa chọn không tồi. Việt Nam có mỏ quặng Apatit lộ thiên mà, rồi mỏ than đá lộ thiên nữa chứ. Có điều dân ta chưa biết khai thác và sử dụng thôi. Muốn làm việc này thì tốn thời gian lắm. Chắc để vài năm nữa mới nên tiến hành”.


    “Đại công cáo thành. Ha... Ha... Phải tự thưởng cho mình chút gì thôi”. Đúng lúc này, Toản chợt thấy cơn đói cồn cào ập đến. Cũng phải thôi, hôm nay cậu phải trải qua quá nhiều việc, lại phải tốn tâm tư lên kế hoạch nữa chứ. Thế thì không đói mới lạ.

    “Người đâu”, Toản gọi.

    “Dạ, có nô tài”, một tên thái giám nhỏ mở cửa bước vào. Trông niên kỷ chắc cũng khoảng mười lăm, mười sáu.

    “Trẫm ngủ không được. Ngươi dặn ngự thiện phòng chuẩn bị vài món cho Trẫm”

    “Nô tài tuân chỉ”, tên thái giám nói rồi chậm chậm lui ra.

    Đến lúc này, thần kinh Toản được thư giãn đôi chút. Nhân lúc này, cậu chợt nhớ đến hai bản tấu chương đặt trên hương án.

    “Tranh thủ lúc này, mình nên xem qua hai bản tấu chương thôi. Làm vua mà không duyệt tấu chương là không được”.

    Bất giác, lúc này cậu lại nhớ ra một việc. Trong sử sánh, mình lúc này chẳng có bất cứ chủ trương nào cả. Mọi việc đều tùy ý đưa đến cho Thái sư Bùi Đức Tuyên. Ông cậu này của mình vì thế mà càng ngày càng lên mặt. Lâu dần, đại quyền ông ta thu gom vào tay, hãm hại hết người này đến người khác. Phải nói ông ta là mẫu người “loạn thần, tặc tử” đúng nghĩa. Giữ lại ông ta không khéo kế hoạch của mình không thể thi hành mất thôi. Phải tìm cách khử ông ta.

    “Khử thì phải khử rồi. Ngặt nỗi, làm sao mà đối mặt với Thái hậu đây? Chỉ có cách làm sao tước quyền lực, cho ông ta tự cáo lão hồi hương thôi. Khó quá”.

    Toản tạm thời gạt đi vấn đề này, cầm bản tấu chương đầu tiên lên. Đọc qua loa một chút, Toản bất chợt đứng phắt dậy, sau đó lại cầm bản tấu chương thứ hai lên đọc ngấu nghiến. Trong mắt cậu như chợt lóe lên ánh tinh quang.

    “Có cách rồi. Có cách rồi. Ha... Ha...”

    Đúng lúc này, Ngự thiện phòng bắt đầu dọn lên ít thức ăn nhẹ. Đuổi mấy tên thái giám ra, Toản buông cả hai bản tấu chương xuống rồi lao vào ăn ngấu nghiến. “Phải giữ hình tượng”, Toản chợt nghĩ. “Thôi mặc xác nó đi. Ở đây ngoài mình ra thì nào có ai. Giữ hình tượng có làm no cái bụng được không?”

    Khi Toản buông đũa xuống cũng là lúc trống điểm canh ba. “Thôi chết, đến giờ phải lên triều rồi”

    “Giờ này tính ra mới khoảng hơn năm giờ sáng chứ mấy. Phải thượng triều lúc này thì đúng là hành xác mà. Mình giờ này mới chuẩn bị lên triều thì quan lại phải thức từ nửa đêm rồi. Thế thì sức đâu mà làm việc. Phản khoa học, thật là phản khoa học quá mà. Phải sửa lại thôi”
     
  8. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 7: Thượng triều

    Mời đọc
    - Ông nói sao? Hoàng thượng tỉnh dậy rồi à?

    - Nghe nói cả đêm Ngài không ngủ đó.

    - Trời ạ. Ông thử ngủ liền năm hôm rồi dậy xem có còn ngủ lại được không? Thế mà cũng nói.

    Dưới sân chầu hôm nay có vẻ không tĩnh lặng như mọi khi. Đây đó vang lên tiếng xì xào của đám quan viên. Khắp nơi người ta bàn tán về sự kiện Hoàng thượng đã tỉnh dậy. Thế cũng không có gì đáng nói. Cái chính là những hành động và lời nói kỳ quái của Toản thế mà người ta cũng biết. Có lẽ do mấy tên thái giám đứng hầu ngoài cửa phòng nghe thấy chăng. Dám khẳng định, thông tin truyền miệng trên Thế giới không ở đâu nhanh bằng ở cái xứ Đại Việt này. Cái này còn chưa đáng nói làm gì. Lợi hại hơn, người ta nghe lõm bõm ở đâu đó chuyện gì, không đầu không đuôi, thế mà lại tự hình dung ra một câu chuyện có lớp có lang nữa mới tài chứ. Rồi tam sao thất bổn...

    - Ây da. Ông không hiểu ý tôi rồi. Ý tôi nói là hôm nay Ngài kỳ lạ lắm. Nghe Thái giám Can nói, hôm qua Hoàng thượng tỉnh dậy rồi nói chuyện có vẻ cao thâm lắm. Ông có bao giờ nghe đến câu “ngủ mãi khiến xương cốt mục rữa hết” chưa? Hoàng thượng nói đấy.

    - Xời. – Một giọng nói Bắc Hà lên tiếng. Chuyện ấy thì có gì mà đáng nói. Tôi có thằng cháu mới được tịnh thân ba tháng trước đang phụ việc ở Ngự thiện phòng. Nó bảo sáng sớm nay nó hầu Hoàng thượng dùng bữa. Đứng bên ngoài, nó nghe Hoàng thượng nói mấy câu gì lạ lắm. Đâu để tôi nhớ lại xem... À, cái gì mà giữ hình tượng rồi thì phản phản cái gì đó.

    - Ông chỉ tổ nói dóc. Sáng tinh mơ thế này thì ông có cách gì mà gặp thằng nhóc?

    - Ấy... Ông không biết rồi. Ở trong cung này, tin tức truyền đi nhanh không ai bằng đám thái giám đâu. Thằng cháu tôi nói cho mấy tên thái giám trong ngự thiện phòng. Thế rồi tin lại truyền đến tai tôi.

    - Thế này thì nguy rồi... Chắc là Ngài nghi ngờ có ai đó làm phản đấy...

    Ây da. Rõ thật là tam sao thất bổn mà. Rành rành ở trong phòng, Toản nói là ‘phản khoa học’ thế mà người ta lại suy luận ra có người làm phản. Thế mới tài.

    - Thôi tôi hiểu rồi... Chắc Hoàng thượng biết có ai đó xua tượng binh đến làm phản.

    Cả sân chầu bất chợt im phăng phắc sau câu nói của vị quan kia. Mọi người, ông nhìn tôi, tôi nhìn ông, vẻ mặt cảnh giác, trán nhăn lại. Duy có một người đàn ông đứng bên cạnh bậc thang đá dẫn lên chính điện từ đầu không nói lời nào. Lúc này ông ta chỉ gật gù và nở một nụ cười bí hiểm. Bùi Thái sư chính là ông ta.

    “Giờ đã đến. Các quan lên chầu. Quan dưới tứ phẩm đứng hầu dưới sân”. Tiếng nói lanh lảnh cao của thái giám truyền chỉ chấm dứt các cuộc tranh luận. Quan viên xếp thành hai hàng phân thành văn và võ. Có tất cả sáu mươi bốn người lục tục bước lên bậc thềm đá tiến vào chính điện.

    “Hoàng thượng giá lâm”

    Quan viên hai hàng lập tức quỳ xuống đồng thanh đáp “Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế”.

    Toản chậm rãi bước đến Long kỷ, thầm nghĩ “cái gì mà vạn tuế, người ta sống đến một trăm tuổi là cùng...”.

    “Các khanh hãy bình thân. Còn nữa, sau này không cần tụng vạn tuế nữa, Trẫm chỉ cầu sống được đến trăm tuổi là đã tạ ân đức của tổ tiên rồi. Ai mà sống đến vạn năm chứ. Chỉ có mấy lão yêu quái và thần tiên thôi”.

    Cả điện chầu im phăng phắc. Trong lòng mỗi người chợt thấy hoang mang, “Hoàng thượng quả đúng là lạ thật, không khéo lại đúng như lời lão già khi nãy nói ở sân chầu mất”. Lúc này lại có người hô lên, “Hoàng thượng bách tuế, bách bách tuế”.

    Toản giật mình, lảo đảo xuýt té. “Mấy cái lão này... Thật là...”, nghĩ rồi chỉ mỉm cười, lắc đầu không thôi.

    “Các quan có việc thì thượng tấu”, tiếng thái giám truyền chỉ lại vang lên.

    Cả điện không ai dám lên tiếng. Chính thái độ của Hoàng thượng đã làm họ phân vân. Lát sau, có người lên tiếng: “Thần, có việc xin tấu” – người nói là Bùi Đắc Tuyên. “Chuẩn tấu. Thái sư, khanh nói”

    - Khải tấu Bệ hạ. Có người làm phản.

    Cả nghị đường lúc này bất chợt xôn xao. Toản cũng chau mày.


    - Khanh nói xem.

    - Khải bẩm. Thái úy Lê Văn Hưng sau khi thắng trận ở Phú Yên đã giao thành cho phó tướng Nguyễn Quang Huy mà không hỏi ý kiến rồi đem quân về Phú Xuân. Đây rõ là tội khinh lờn Thánh giá, có ý đồ mưu phản. Kính xin Bệ hạ cho chém đầu thị chúng. Giết một người để răn muôn người ạ.

    - Hồ đồ - Trung thư lệnh, Phụ chính đại thần Trần Văn Kỷ quát. Ông sao dám nói thế là làm phản. Lúc này giặc Ánh thế như hổ báo, có thể tiến đánh bất cứ lúc nào. Hưng làm vậy là đúng, cắt người trông coi Phú Yên rồi về Phú Xuân chỉnh đốn ba quân là đúng. Hơn nữa “tướng quân tại ngoại có thể bất tuân thượng lệnh”, tiền nhân răn dạy chẳng sai.

    - Ông... Ông... – Bùi Đắc Tuyên giận tím mặt. Trần Văn Kỷ sớm đã bị ông ta xem là cái đinh trong mắt, giờ này lại mắng mình hồ đồ hỏi sao không giận cho được.

    - Được rồi. Toản lên tiếng. Thái sư, khanh nói xem. Khanh nhận được tin tức này bao lâu rồi?

    - Bẩm, đó là từ ba ngày trước ạ. Khi đó Bệ hạ vẫn còn hôn mê chưa tỉnh, thần đã ra lệnh bắt Hưng giao cho Hình bộ giam giữ chờ bệ hạ xử lý sau.

    - Ha... Ha... Vừa khéo Trẫm có nhận được một bản tấu chương năm ngày trước, ngặt nỗi Trẫm còn chưa tỉnh dậy nên không biết. Khanh xem.

    Nói rồi Toản đưa bản tấu chương cho thái giám bảo đưa Tuyên. Bản tấu chương có bìa màu đỏ rõ ràng cho thấy việc trình tấu có điều rất quan trọng và gấp gáp.

    Tuyên đưa hai tay nhận lấy, mở ra đọc. Bỗng mặt y tái mét. Hóa ra trước đây bảy ngày, sau khi hạ thành Phú Yên, Hưng bắt được tin tức giặc Ánh có ý định dùng thủy quân vòng qua cửa Thị Nại, chia binh hai đường tiến đánh Quy Nhơn và Phú Xuân. Đánh Phú Yên thực tế chỉ là nghi binh. Quân tình khẩn cấp, cùng với sự nhạy bén của một trong Thất hổ tướng năm xưa cùng Tiên hoàng nam chinh bắc chiến, Hưng giao thành cho phó tướng của mình là Huy rồi lập tức một mình một ngựa quay về Phú Xuân, định hội quân với Thái phó Trần Quang Diệu bàn kế chống giặc. Trước khi đi, ông còn viết một bản tấu chương, dán vào bìa màu đỏ, đoạn sai người hỏa tốc chuyển về Phượng Hoàng Trung Đô. Hai ngày sau, tấu chương mới được đặt trên bàn của Toản.

    - Khanh nghĩ sao?

    - Là thần hồ đồ, kính mong Bệ hạ khai ân.

    Tuyên run lẩy bẩy, hai chân nhũn lại, vội quỳ sụp xuống, dập đầu mà thưa. Lẽ ra, y không cần phải sợ như vậy. Với quyền bính trong tay, y có thể gạt phắt đi, cho đó là lời xàm tấu, che đậy cho tội mưu phản. Tuy nhiên, đây là quân tình rất khẩn cấp, có thể đe dọa đến sự tồn tại của vương triều. Y không thể làm khác được. Chỉ cần một viên quan tứ phẩm lên tiếng, cả triều thần sẽ đáp lại và y sẽ rơi đầu.

    Trong cả cuộc đời mình, đây chính là lần đầu tiên Tuyên thấy sợ hãi thật sự. Y chỉ mong Toản còn nhỏ, chưa hiểu hết sự tình nghiêm trọng nên cho qua. Vả lại, Hoàng thượng còn là cháu, gọi y là cậu. Không kính chùa cũng phải nể mặt Phật; Xử quyết mình thì làm sao Toản dám đối mặt với Thái hậu?

    Cả triều thần im lặng, ông nhìn tôi, tôi nhìn ông. Trong lòng mỗi người thắc mắc trong tấu chương viết gì mà lại có thể dọa cho Tuyên kinh hồn táng đởm thế kia. Cũng có người vuốt râu cười mỉm xem người gặp họa.

    - Bản tấu chương này nói đến một sự tình nghiêm trọng. Toản nói tiếp. Vì thế Trẫm chưa thể nói rõ cho bá quan. Phần nữa Trẫm vẫn còn nhỏ, có nhiều việc chưa thể giải quyết hoàn mỹ được. Vậy nên, tiểu Thái à, Toản quay sang tiểu thái giám đứng hầu phía sau. Ngươi thu hồi bản tấu chương, chuyển sang cho từng người: Trần Văn Kỷ, Võ Văn Dũng, Phan Văn Lân, Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhu, Phan Huy Ích xem thôi. – Toản chỉ cho mấy người này đọc; Bỏi lẽ, trong trí nhớ mình thì tại điện chỉ có những người này là được xem là tài cao, chí lớn, trung kiên nghĩa dũng mà thôi; Những người khác hiện không có vì đang phải làm nhiệm vụ ở xa.

    “Thôi xong rồi, mấy lão già này mà đọc thì...”, Tuyên mắng thầm “Cũng tại cái tên ái nam ái nữ Vũ Tâm Can kia bày mưu, đây là cơ hội tốt dẹp bỏ cái gai trong mắt là Lê Văn Hưng. Hy vọng... Ài...”

    - Còn việc này nữa. – Toản lại nhìn Tuyên, nói tiếp. Gần đây, có người tấu lại cho Trẫm là khanh cho người thu lại thẻ đinh mà Tiên hoang lệnh phân phát cho bá tánh, lại còn phát hành thẻ mới và thu phí nhưng lại không nộp lại cho Khố phòng đúng không? – Toản không nói đến người tấu trình là ai, trong lòng muốn đích thân người ấy nói rõ cho bá quan, một đường hạ bệ Tuyên. Như vậy, cậu có thể ăn nói với Thái hậu. Đây quả là diệu kế.

    Dưới điện, Trần Văn Kỷ thầm nghĩ, “Đây rõ là Hoàng thượng đang nói đến bản tấu chương của mình. Tại sao Ngài lại không nói là ai tấu?”. Ngước thấy Toản liếc nhìn mình mỉm cười, bất giác Kỷ hiểu ra “Quả là diệu kế. Hoàng thượng thật là cao minh, muốn hạ Tuyên nhưng không muốn trực tiếp ra tay”.

    - Khải bẩm – Kỷ nói. Quả là có việc này. Hôm trước thần được Hà Công công hiện đang quản lý Khố phòng báo lại.

    Lúc này, Ngân khố được giao cho Thái giám Tổng quản Ngoại vụ Vũ Mạnh Hà quản lý. Trong cung, trước đây Toản ban cho toàn bộ thái giám và cung nữ họ Vũ để tưởng nhớ đến Vũ Hoàng Đế Quang Trung.

    Lại tiếp:

    - Thu phí thẻ mới cũng là có thể. Nhưng sao Thái sư lại không giao nộp tiền vào Ngân khố? Có lẽ Thái sư đã cao tuổi, lại nhiều việc nên quên chăng? – Ông cũng biết Toản muốn hạ Tuyên nhưng cũng không muốn quá tuyệt tình để còn giao phó với Thái hậu nên thái độ có vẻ như muốn xuống thang.

    - Có lẽ vậy. – Toản gật gù ra chiều đồng ý. Cậu ta có lẽ đã có tuổi, lại nhiều việc nên quên. Ngay cả việc kia cũng là do lý do này. Có lẽ cũng đã đến lúc khanh nên giao lại công việc hiện tại cho người trẻ tuổi hơn vậy.

    “Xong rồi”, Tuyên ngồi bệch cuống đất. “Đây là ép ta cáo lão hồi hương đây mà”, nghĩ rồi y lại cười chua xót “Thôi đành vậy, còn hơn là phải chết”.

    - Khải bẩm – y nói. Có lẽ thần thật quá già nên hồ đồ. Mấy ngày trước lại lâm bạo bệnh, nay mới khỏi. Khẩn mong Bệ hạ cho thần cáo lão hồi hương để dưỡng già.

    - Cậu à. – Toản ra vẻ ôn tồn nói. Khanh là người đức cao vọng trọng, lễ nghĩa nhiều, lại có tài. Niên kỷ tuy đúng là cao nhưng có lẽ quá nhiều việc nên mới ra thế này. Để khanh ra đi quả thật rất tiếc. Khanh hiểu sai ý của Trẫm rồi. Trẫm chỉ muốn khanh giao bớt việc cho người trẻ tuổi hơn thôi. Triều ta đang lúc cần người, khanh muốn cáo lão là muốn làm khó ta sao?

    - Thần... Thần...

    - Nay ta xét thấy thế này. Cậu ta tuổi cao không thể ôm đồm nhiều việc. Khanh hãy thôi công việc hiện tại đi. Lại nói khanh là người hiểu lễ nghĩa, lại có tài. Vậy chuyển sang Bộ Lễ đi thôi. Lúc này đây Bộ đã có Thượng thư, vậy nên giao cho khanh làm Lễ Bộ Thị lang vậy.

    Dưới điện, ai cũng nghĩ Tuyên quả thực là hết thời rồi. Giữ được mạng lại còn chức quan là may mắn lắm rồi. Điều qua bộ Lễ thì cuối cùng cũng chẳng thể nào trèo lên được nữa đâu.

    - Việc nghị sự đến đây tạm dừng thôi. Nhưng các khanh hãy nán lại ít chút. Trẫm muốn kể một câu chuyện.

    Nói rồi cậu sai tiểu thái giám bên cạnh mở một cuộn tranh, hướng về bá quan xem. Đây là bức chân dung của một ông lão, sáng sớm nay Toản sai tiểu thái giám Vũ Lâm Thái họa lại theo trí nhớ của mình khi biết cậu ta học vẽ từ nhỏ và vẽ rất đẹp. Ông lão tóc bạc trắng, ánh mắt tinh anh, hữu thần; Khuôn mặt có hơi gầy. Thân khoác bộ trường bào xanh thẫm, lưng đeo trường kiếm, tay cầm sách làm bằng thẻ trúc. Trông như một vị thần tiên, tuy già mà không lão.

    Tướng Vũ Văn Dũng chợt quỳ sụp xuống, nước mắt lưng tròng mà vái lạy: “Thầy ơi”.

    - Khanh biết ông ấy à?

    - Bẩm ông là Trương Văn Hiến, thầy dạy của hạ thần, cũng là thầy của Tiên hoàng. Sinh thời Người văn võ kiêm toàn, lại nhân đức, học cao hiểu rộng. Với thần, Thầy có công như ơn sinh thành. Trong nhà thần cũng sai người họa lại theo như trí nhớ. Ngặt nỗi, cả nhà thần toàn bộ là võ tướng, văn không nên thân, võ cũng chưa tới nên họa lại không đẹp và giống như bức này. Khẩn xin Bệ hạ sau khi kể chuyện có thể ban lại cho thần để đời đời con cháu thần tưởng nhớ và thờ phụng.

    - Ra là vậy. – Toản ra vẻ đã hiểu ra.

    Cậu cũng hướng đến quỳ sụp xuống, chắp tay vái lạy.

    - Ra Người là thầy của tiên phụ. Cũng nhờ Người điểm hóa mà giờ đây con đã hiểu ra mình là ai, mình phải làm gì. Kính xin Người nhận một lạy này của tiểu tôn.

    Bá quan cũng giật mình, vội quỳ xuống. Không ít người thắc mắc “Ra Hoàng thượng được cao nhân chỉ điểm. Nhưng Ngài gặp ông ta khi nào? Chẳng phải từ khi ra đời đến nay, Hoàng thượng ở mãi trong cung, lại ham chơi hơn ham học sao?”

    - Các khanh bình thân đi. Giờ đây Trẫm sẽ kể. Câu chuyện cũng khá dài. Các khanh có mặt ở đây từ sớm, nửa đêm đã phải thức giấc, lại đứng suốt cho đến giờ. – Toản nói, đoạn quay sang tiểu Thái. Người đâu, ban tọa. Từ nay về sau, Trẫm lệnh cho bá quan, sau này vào chầu không cần phải đứng, tất cả phải bình tọa.

    Bá quan ngạc nhiên lắm. Song vẫn ngồi xuống đôn mà các thái giám mang tới. Đoạn, Toản lim dim mắt ra chiều đang suy tưởng và bắt đầu kể.

    “Cách nay năm hôm, Trẫm đang dạo trong Ngự uyển thì bị một tia sét đánh trúng. Phải chăng các khanh nghĩ Trẫm bị hôn mê đến nay mới dậy đúng không? Không! Trẫm không phải hôn mê. Trong lúc đang còn mê mê tỉnh tỉnh, Trẫm thấy mình đang đứng trên một đỉnh núi, xung quanh mây phủ trắng xóa. Trẫm tự hỏi mình đang ở đâu. Đúng lúc này, có một lão bá trông dáng vẻ tiên phong đạo cốt lại gần. Đó là lão bá trong tranh các khanh vừa thấy. Trẫm biết đây không phải là người thường liền theo bản năng chắp tay cung kính:

    - Tiểu nhi kính chào lão tiên sinh. Không biết tiểu nhi đang đứng đây là ở đâu.

    - Đây là đỉnh Cơn Lôn Sơn - theo như quan niệm của người xưa thì những người đắc đạo thành tiên đều tu luyện ở núi Côn Lôn. Ta đã dùng bí pháp đưa con đến đây.

    - Vậy ra lão bá là lão thần tiên rồi. Xin nhận ở con một lạy.

    - Ta tu thân tích đức bấy lâu mới được đến đây. Ta gần đây bấm quẻ, thấy nước nam nguy nan tới nơi rồi. Lại thấy con là người có tướng thiên mệnh nên mới làm phép đưa con đến đây. Từ hôm nay, ta sẽ dạy cho con phép trị nước, binh thư, võ nghệ và nhiều môn khác giúp ích cho con trong tương lai. Con cũng đừng lạy ta là thầy, ta không nhận đâu. Lý do thì sau này con sẽ hiểu.

    Ta ở lại đó, theo học với lão thần tiên. Thấm thoát năm năm đã trôi qua. Ta được học tất cả, từ Tứ thư, ngũ kinh đến đạo trị nước. Biết ta cũng như Tam Hoàng thúc mê đá gà, ông không dạy ta môn võ nào khác ngoài ‘Hùng Kê Quyền’.”

    Nói đoạn Toản chợt đứng dậy, vén tà áo, nhét vào lưng. Rồi trong lúc triều thần ngơ ngác, cậu đi ngay bài ‘Hùng kê quyền’ ngay giữa chánh điện như muốn minh chứng là mình nói thật.

    “Ông chỉ không dạy ta phép thuật. Ông bảo, trên đời này có phép thuật chăng? Có thuật trường sinh chăng? Không có đâu. Ai cũng có thể làm được, không có gì huyền bí cả. Tất cả đều được quy vào một môn học gọi là ‘Khoa học’. ‘Khoa học’ lại được chia làm nhiều môn học nhỏ, phải kể đến là Toán học, Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, Thiên văn học. Ta cũng đem hết những môn này truyền lại cho con. Sau con hãy thay ta phổ biến cho toàn dân tộc.”

    - Người đâu. – Toản dừng lại rồi nói. Đem cho ta một chậu nước, một chậu không, một cây kim, một cây nến và một cái ly bằng lưu ly. Để chứng minh, ta sẽ làm phép cho các khanh xem.

    Chờ các Thái giám đem các vật dụng đến, Toản lại nói:

    - Các khanh ai có thể làm cho cây kim này nổi được trên mặt nước không? Còn nữa, ta úp cái ly không này vào chậu, giữ chặt, ai có thể đổ nước vào ly mà không phải nhấc ly lên không? Đừng ngại, các khanh hãy tiến lên thử


    Có một vài người bước lên thử, có người là võ tướng, có người là học sĩ. Nhưng họ chung quy không cách nào thực hiện được.

    - Các khanh không làm được đúng không? Vậy thì để ta.

    Toản xắn tay áo lên. Trước tiên, cậu cầm cây kim bỏ vào nước. Cây kim lúc đó cứ an nhiên mà nổi lềnh bềnh, không chìm - cậu áp dụng nguyên lý về ‘sức căng bề mặt của nước’. Bá quan trố mắt mà nhìn. Có người còn há hốc, cằm như rớt xuống đất.

    Kế đến, cậu sai người thắp cây nến, đặt vào chiếc chậu không, rồi úp cái ly vào. Đợi cây nến tắt ngúm, cậu lại sai người đổ nước vào chậu. Kỳ lạ thay, nước dần dần ùa vào trong ly, đến lúc mực nước đạt gần chiều cao hai phần ba ly, cao hơn mực nước bên ngoài mới dùng lại.

    Đây chỉ là những kiến thức vật lý thông thường. Với một người có bằng Master Vật lý như cậu thì cứ như là trò trẻ con. Nhưng điều này trong mắt bá quan thì lại quá thần kỳ. Họ tin rồi, phục rồi.

    Quay lại Long kỷ, ngồi xuống. Chờ bá quan tỉnh táo lại sau cơn bàng hoàng, Toản lại tiếp.

    “ ‘Lại nữa, dân Nam đang hồi nguy biến. Chính là lúc cần người. Bởi vậy, con hãy mời gọi những người có tài về theo phụ tá. Hãy nhớ, bất kể nam, phụ, lão, ấu. Từ cổ chí kim, nước Nam ta bị giặc Tàu đô hộ, truyền bá tư tưởng trọng nam khinh nữ. Ta không phủ nhận Nho giáo. Nhưng xét thấy, nữ giới ta cũng có không ít nhân tài, lại trung trinh. Ngày xưa có Bà Trưng, Bà Triệu, gần đây có Ngũ Phụng Thư, có nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Hãy trọng dụng họ. Hãy cho họ chỗ đứng đúng của mình. Tuy nhiên, đây là việc của tương lai. Con hãy cẩn thận mà làm từng bước, trước tiên là Ngũ Phụng Thư. Những gì cần dạy, ta đã dạy hết cho con. Trở về thôi’.

    Ta lần nữa quỳ xuống bái lạy. Khi ngước lên nhìn thì Người đã đâu mất. Lúc này một cơn gió lạnh thổi đến. Ta lại ngất đi. Lúc tỉnh dậy đã là chuyện của đêm qua”.

    Chờ cho mọi người kịp tiêu hóa câu chuyện, Toản lại trầm ngâm.

    - Ài. Dân gian nói “trên trời một ngày, dưới đất một năm”, ta lại thấy ngược lại, “dưới đất một ngày, trên trời một năm” a. Năm năm trôi qua như giấc mộng.

    Bá quan lại gật gù, ra chiều đã minh bạch. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chợt nói thành tiếng: “Thảo nào hôm nay Hoàng thượng lại tỏ ra quá anh minh như vậy. Tiên hoàng ơi, nước Nam ta được cứu rồi”. Nói đoạn ông khóc lớn như đứa trẻ. Tự nhiên Toản cũng mủi lòng, “Quả thật ông ta là bề tôi trung trinh, yêu dân như con. Những giọt nước mắt của ông là thật”

    “Hay cho câu ‘nước Nam ta được cứu rồi’. Quả thật hôm nay là ngày vui nhất đời ta”. Một người khác nói rồi cũng bật khóc. Một người khóc, người người khóc. Toản hiểu, giờ phút này chính là lúc nước Nam như một người khổng lồ đã thức giấc sau nghìn năm say ngủ. Vinh quang là đây, tương lai là đây.

    Phải nói, trong triều lúc này vang lên tiếng khóc vui mừng. Sau đó lại nổi lên tiếng cười. Có người còn nằm lăn ra giữa đại điện cười như điên như dại.

    Chờ tâm tình mọi người lắng xuống. Toản lại nói: “Các khanh hãy bình tâm ngồi lại chỗ cũ, còn việc này Trẫm muốn kể. Đây cũng là điều Lão tiên sinh nói với ta”

    Toản lại phơi bày sự thật về Tổ phụ mình cho bá quan. Bởi vì biểu hiện của Toản hôm nay quá thần kỳ, mọi người không thể không tin.

    đọc truyện tại http://truyencuatui.net/
    - Việc này, ta biết có một người có thể làm chứng. Đó chính là tướng quân Lê Văn Hưng hiện đang còn bị giam trong Hình Bộ. Ngày đó, ông không tham gia cùng Tam Hoàng thúc và phó tướng Phan Văn Tham bàn luận. Nhưng ông là người trực tiếp vận chuyển quân lương cho hai người. Với nhãn quan hơn người của mình, chắc ông cũng thấy có điều quái lạ. Hãy nói lại việc này cho ông, ông sẽ tự hiểu ra.

    Toản lại hỏi:

    - Kỷ khanh gia. Vậy ta hỏi khanh. Như thế, chú ta có công hay tội? Thím ta là tốt hay xấu?

    - Khải bẩm. Công lớn rõ rành rành, không thể chối cãi. Tam phu nhân quả thật trung trinh tiết liệt.

    - Vậy thì, theo lệnh Trẫm. Khôi phục danh dự cho Đông Định Vương Nguyễn Lữ, sai người làm bia, khắc chữ vàng dựng ở mộ Ngài: “Trung dũng vô song”. Về thím ta, chính danh Đông Định Vương Vương phi, thưởng bảng vàng “Trung trinh tiết liệt”, lại ban cho ‘Long đầu trượng’, trên có thể đánh hôn quân, dưới đánh gian thần, trước mặt vua không cần quỳ. Em ta, Nguyễn Phi Long phong làm Đông Định Hầu, cho theo học và phụ tá cho La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.

    Bá quan gật đầu, cho là phải. Lúc này, Nguyễn Thiếp lại đứng lên:

    - Khải bẩm. Dạy học cho con của một vị anh hùng là vinh hạnh của thần. Thần tin triều ta lại sẽ có thêm một nhân tài.

    - Khanh không cần nâng người mà hạ mình như thế. Bản thân khanh cũng như bá quan ở đây chính là anh hùng. Bởi vì từ đây, chính các khanh sẽ là những người làm giang sơn rực sáng hào quang, muôn người ngưỡng vọng.

    Lúc này trong tim mỗi người chợt thấy ấm áp vô tả, hào khí Tây Sơn lại một lần nữa trỗi dậy sau một thời gian dài ngủ yên.

    Lúc này, Toản lại làm một hành động cực kỳ khó hiểu nữa. Cậu nghĩ “Ha... Ha... Đây sẽ là hành động cuối cùng của ngày hôm nay để mình thu lấy nhân tâm, làm cho mọi người đồng lòng”. Cậu im lặng, hướng ánh nhìn về bá quan đang ngồi, đoạn một lần nữa sụp lạy. Rồi không cho bá quan kịp phản ứng, cậu đứng dậy, dõng dạc nói:

    - Một lạy này trước Toản xin tạ tội với bá quan. Mấy năm qua, Toản vẫn còn là một đứa trẻ vô tri, làm phiền lòng chư vị ái khanh, làm triều ta chia rẽ. Sau tạ tội tổ tiên vì đã không làm tròn di huấn. Nay Trẫm mười hai. Nhưng năm ngày qua lại dài như năm năm trời. Các khanh hãy xem Trẫm giờ đây khác nào một thanh niên mười bảy, đã trưởng thành. Từ ngày hôm nay, Trẫm sẽ thân chính, xử lý sự vụ của đất nước. Các khanh có sẵn lòng phò tá Trẫm, thống nhất giang sơn, đem lại vinh quang cho toàn dân tộc không?

    - Sẵn lòng... Sẵn lòng... Sẵn lòng...

    Bá quan đồng thanh hô lên ba tiếng. Giờ đây, Đại Việt đã chính thức đứng lên, hóa rồng bay vút lên chín tầng trời.
     
  9. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 8: Lễ Tạ tội và Bộ Chính trị

    Mời đọc
    “Phụng thiên thừa vận, Hoàng Đế chiếu viết:

    Trẫm từ ngày nhận mệnh trời, tiếp quản giang sơn từ Tiên đế tính đã được hai năm. Vua cha mất sớm, tuổi còn nhỏ đã phải lo toan việc nước, Trẫm không lúc nào lại không ưu phiền. Lại nữa, tính tình Trẫm hiếu động, ham chơi hơn ham học. Vậy nên:

    Chính sự không chu toàn

    Bề tôi không ý chí

    Vương triều không sức sống

    Tận gốc rễ lung lay

    Giang sơn nguy sớm tối

    Dân tâm không hướng về

    Bá tính phải lầm than

    Phát sinh ra đạo tặc

    Mới hôm qua, nhờ anh linh Tiên đế phò hộ, Trẫm may sao được thần tiên chỉ điểm, thoát khỏi bến mê. Lại được Người giáo hóa, chỉ ra con đường sáng, lại chỉ cho con đường hai mươi năm. Nay Trẫm quyết chí tu thân, cần chính yêu dân. Trước ban bố những điều sau:

    Hôm nay, ngày 5 tháng 7, Trẫm quỳ đây, nơi Tế thiên điện một ngày một đêm, không ăn không ngủ. Kính xin tạ tội với thần dân trăm họ. Sau lại tạ tội với trời vì đã phụ thiên ân.

    Sau lại định ngày 5 tháng 7 hàng năm làm ngày lễ Tạ ơn, thần dân trăm họ được nghỉ ngơi ba ngày. Lại tổ chức lễ hội cho muôn dân vui vẻ.

    Tiếp nữa, Trẫm tuyên đại xá thiên hạ. Tử phạm giảm án còn chung thân, tù phạm tùy thời được giảm hạn.

    Mấy năm nay, giang sơn gặp nạn binh đao. Lẽ ra muôn dân phải được nghỉ ngơi dưỡng sức. Thế nhưng, phương Nam có giặc Ánh tung hoành, nhiễu nhương khắp chốn; Phía Bắc, Thanh triều không lúc nào là không nhòm ngó, tuy hai nước đang bang giao để giữ yên bình, nhưng người phương Bắc lòng lang dạ sói liệu rằng sẽ buông tha. Vậy nên, nay chính lúc dùng người, tiến cử nhân tài để phục vụ giang sơn. Thế nên:

    //truyencuatui.net/ Một tháng sau, Trẫm cho mời toàn bộ sĩ tử từ bắc xuống nam đến tập trung ở Tông Nhân Phủ. Triều đình sẽ tổ chức một cuộc thi lớn để tuyển chọn nhân tài chèo chống cho giang sơn. Điều kiện, chỉ cần tuổi dưới hai mươi lăm, lại là tú tài.

    Ai có sáng kiến xây dựng giang sơn, khôi phục kinh tế, xây dựng quân đội, mời đến Tông Nhân Phủ nộp quyển. Chỉ cần sáng kiến khả thi và có hiệu quả, triều ta sẽ mời làm việc. Với hạng mục này, bất kể nam phụ lão ấu đều có thể tham gia.

    Khâm thử”.

    Năm ngày sau buổi thượng triều thần kỳ, vừa khéo là ngày 5 tháng 7 Âm lịch, Toản cho tuyên chiếu chỉ và quỳ tạ tội với thần dân. Cậu chọn ngày ngày là để tưởng nhớ đến cha trong buổi nói chuyện đêm 5 tháng 7 ở thành phố Austin. Đây cũng là ngày trọng đại trong đời cậu, mở ra một truyền kỳ mới.

    Trên đài cao, Toản trong trang phục của một tù phạm, quỳ xuống, quyết tâm không ăn không ngủ. Sau lưng là bộ Long bào của Tiên hoàng được mắc vào giá áo, giương cao lên một trượng. Trước mặt là thanh danh đao của Vũ Hoàng Đế – Ô Long Đao. Bên phải là một hương án với đầy đủ bộ văn phòng tứ bảo. Bên trái là một cây cuốc và một lưỡi liềm cán dài bắt chéo vào nhau. Nếu nhìn từ trên cao, tính cả Toản ở giữa thì đây chính là một chữ Phạm thật lớn. Thoạt nhìn, đây là một hình ảnh hết sức nhục nhã đối với một người, huống chi, đây lại là một vị quân vương. Toản đã rất cố gắng thuyết phục triều thần để được làm điều này. Cậu nói, đây là một việc nên làm để thu lấy nhân tâm.

    Dưới đài, quan viên văn võ cũng quỳ thành hai hàng dài. Trước đài là chiếc Long bào của Toản cùng với một chiếc roi mây, có hai tên lính lệ đứng gác. Quỳ thôi chưa đủ, Toản lại hạ lệnh cho phép dân chúng “Đả Long bào” hoặc phun nước bọt phỉ nhổ nếu ai đó cảm thấy trước đây mình là người bị triều Tây Sơn hãm hại, hoặc dã bất mãn với triều đình, đơn giản hơn là người xem Toản bất tài. Cậu lại ra lệnh không được ghi chép lại tên tuổi hoặc họa lại hình dáng của những người dân tiến lên làm việc đó, ai vi phạm sẽ bị chém đầu thị chúng.


    Tại sao có việc như vậy? Số là ba ngày sau buổi thượng triều, Toản triệu tập đầy đủ Thất hổ tướng, Ngũ phụng thư – trong đó có Bùi Thái hậu – cùng các Đại học sĩ, học sĩ như Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp họp bàn quốc sự ở thư phòng. Duy chỉ có Bùi Đức Tuyên là không được triệu tập, lấy lý do Nguyễn Thiếp giao chỉnh lý lại bộ Đại Việt Sử Ký, phải ở nhà tập trung làm việc.

    Toản lại bảo:

    - Giờ đây, giang sơn an nguy sớm tối. Bản thân Trẫm dù được Lão thần tiên chỉ điểm nhưng cũng không thể phân thân. Một mình Trẫm sao có thể gánh vác một mình. Thế nên, Trẫm muốn mời các khanh đến đây để cùng chia sẻ. Tất cả những người ở đây, Trẫm biên chế thành một cơ quan khác, gọi là Quân Cơ Phòng, có thể thay mặt Trẫm quản lý tất cả các sự vụ. Các khanh thấy sao?

    - Khải bẩm, – Trần Văn Kỷ lên tiếng, thần nghĩ việc này không cần vội. Trước mắt, chỉ cần Bệ hạ triệu tập, chúng thần sẽ có mặt. Thần e nếu thành lập, cơ cấu quan lại sẽ cồng kềnh hơn, sẽ lãng phí. Hơn nữa, dù chúng thần hiện nay tận tâm, có thể phân ưu cùng Bệ hạ nhưng cũng không thể nói trước được tương lai thế nào.

    - Thần cũng đồng ý với Trung thư đại nhân, tiến lên là Ngô Văn Sở.

    - Ta cũng không đồng ý. – Thái hậu Bùi Thị Nhạn nói.

    - Thần cũng vậy, – Phan Văn Lân nói. Giả như theo lời Kỷ đại nhân, ngày sau chúng thần, tính luôn cả thần, có ai sinh hai lòng thì tai hại biết bao.

    Lúc này, Ngô Thì Nhậm suy tư rồi thưa:

    - Khải bẩm, thần ngày trước được Tiên hoàng tin tưởng, giao cho đi sứ nhà Thanh hai lần. Theo thần được biết, triều họ cũng lập ra quân cơ phòng. Mọi sự vụ đều được họ thay mặt Hoàng Đế giải quyết. Gặp việc khó, một người giải không được thì hai người giải, hai người không được thì ba. Hơn nữa, đúng như Bệ hạ nói, Hoàng đế không thể phân thân nên phải có một bộ phận chuyên trách giải quyết. Kết quả là mọi sự diễn ra khá êm đẹp và xử lý nhanh gọn. Tỷ như năm đó đê Hoàng Hà vỡ, dân chúng khổ không tả nỗi. Lúc đó, Càn Long lại đang du sơn ngoạn thủy ở Giang Nam, không thể lo được. Kinh thành đặt dưới sự uy hiếp vỡ đê, an nguy sớm tối. Lúc này, nếu không có Quân Cơ phòng chủ sự thì có lẽ Kinh thành đã chìm trong biển nước. Có kinh nghiệm của họ, ta cũng sớm đặt ra một cơ quan như vậy.

    - Thần cùng quan điểm với Nhiệm, – Nguyễn Thiếp tiếp lời. Điều quan trọng là phải có phương án giải quyết mâu thuẫn và bất hòa nếu xảy ra.

    Cả phòng nghị sự lại xôn xao, có hai luồng chính kiến rõ ràng, tranh cãi không ai nhường ai. Lúc này, Toản lại cười, ra hiệu mọi người yên lặng:

    - Khi nghĩ ra điều này, Trẫm cũng có tính cả rồi. Trẫm nghĩ ra một hình thức gọi là “Phổ thông đầu phiếu”. Theo đó, khi xảy ra vụ việc, các khanh sẽ viết ra một tờ giấy, trên đó chỉ viết một chữ “thuận” hoặc “chống”. Nếu số phiếu thuận nhiều hơn, việc sẽ được thi hành; Bằng ngược lại, sẽ không thi hành. Ở đây, tính cả Trẫm, chúng ta có tất cả mười bảy người, vừa hay là số lẻ, chắc chắc sẽ có kết quả rõ ràng nếu bỏ phiếu. Chúng ta cũng bầu ra một người đứng đầu. Nếu nghị phòng có mặt Trẫm thì mỗi người được bỏ một phiếu, nếu có người nào vắng mặt, Trẫm sẽ thay mặt người đó bỏ phiếu, nếu Trẫm không có mặt, người đứng đầu sẽ được hai phiếu. Các khanh thấy sao?

    - Thần nghĩ đây là ý hay, – nữ tướng Bùi Thị Xuân nói.

    Mặc dù Toản nói chủ trương xóa bỏ trọng nam khinh nữ nhưng trong mắt các nam thần vẫn ánh lên nét gì đó khó chịu. Tư tưởng hủ Nho đã ăn quá sâu vào trong lòng họ. “Nếu cả ta cũng đồng ý thì sao?” Bùi Thái hậu phá vỡ thế bế tắc. “Lúc đầu ta nghĩ ý này rất tồi. Sau lại thấy, các khanh là những người Tiên hoàng hết lòng tin tưởng. Nay con ta còn nhỏ, các khanh chung tay phụ giúp là việc nên làm. Huống chi, cách này cũng giúp con ta tránh việc trở thành một hôn quân, chỉ lo cho mình, không nghĩ tới bá tính bình dân”.

    - Chúng thần quả thật suy nghĩ còn nông cạn, không suy nghĩ được sâu xa như Bệ hạ và Thái hậu, thật đáng hổ thẹn. Nguyễn Thiếp lại nói. Ngẫm lại đây cũng là ý hay. Thần ủng hộ. Tuy nhiên, thiết nghĩ, không nên gọi là Quân Cơ phòng. Vì chúng ta không thể lấy tên của giặc Tàu được. Và cách làm của chúng ta cũng khác họ.

    Lúc này, các quan mới bắt đầu suy nghĩ và cảm thấy đúng. Mọi người bắt đầu bàn tán râm ran nên đặt tên gì. “Hay là gọi là Chính Trị đi. Chính trong Chính sự; Trị trong trị sự, chủ trì” Đô đốc Tuyết vừa nói vừa cười. Ông vốn thạo binh thư, cung kiếm hơn nên cũng không chắc lắm với lựa chọn của mình nên chỉ nói nửa đùa nửa thật.

    - Hay... Hay... Hay... Toản chợt vỗ đùi cát đét. Gọi là Chính trị nhưng phông phải là Chính trị phòng. Gọi như thế hóa ra còn thấp hơn các Bộ. Nên gọi là Bộ Chính Trị.

    Cả nghị phòng bừng tỉnh. Bá quan ai cũng thấy là hay và vui mừng. Tiếp theo là chọn ra người đứng đầu. Việc này ngược lại, Toản không có ý kiến. “Việc này nên để các người tự làm đi thôi. Tập ‘dân cử’ đi cho quen”, cậu thầm nghĩ. Trớ trêu là việc bầu chọn không ầm ỉ như Toản nghĩ. Việc này rốt cuộc diễn ra theo cách thật buồn cười nữa là khác.

    “Tuyết là người nghĩ ra cái tên này. Vậy giao cho ông ta đi, ha... Ha...” Đô đốc Lộc cười châm chọc. Bình thời, hai ông là bạn chí thân. Lộc cũng biết, ngoài mặt, Tuyết là một tướng quân uy vũ, trăm trận trăm thắng. Ông quả xứng với câu “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Một lời Tuyết định, ba quân tin tưởng và làm theo tuyệt đối. Thế nhưng, chỉ các ông trong Thất hổ tướng mới biết, ông chỉ là con cọp giấy; Con cọp thật sự là bà vợ già của ông.

    “Ha... Ha...” – Đô đốc Diệu cười chảy cả nước mắt. “Lão Tuyết kỳ này thảm rồi, không trốn tránh được đâu. Hai lá phiếu trong nghị sự khéo lại thuộc về quan bà nhà lão mất thôi. Ha... Ha...”. Nghe thế, các quan chợt hiểu rồi ai cũng cười nắc nẻ. Chỉ có Tuyết mặt đỏ bừng bừng, hận không thể đào xuống ba thước đất mà chui vào.

    Ấy thế mà đúng là mọi người lại đồng ý chọn Tuyết mới tài. Lúc này, lão gắt: “Làm thì làm. Nhưng nói trước. Ai hé răng nhắc đến chuyện lão bà của ta dù là ở đây hay nơi nào khác thì rửa sạch cái mông chờ ta đạp cho hả giận đi”

    Chuyện như thế mà Bộ Chính Trị và Ngài Bộ Trưởng đầu tiên – Đô Đốc Nguyễn Văn Tuyết cứ hồ đồ được thành lập. Việc quỳ tạ tội của Toản chính là quyết định đầu tiên của Bộ Chính trị được thực thi để thu lấy dân tâm. Đây cũng chính là nền móng đầu tiên cho Toản tạo dựng nền dân chủ có một không hai trong lịch sử.
     
  10. 18,838
    24,066
    1,033
    chungtolabengoan

    chungtolabengoan
    ๖ۣۜJerry
    Vua Tốc Độ 2018
    Design team leader
    Mod box convert

    Tham gia ngày:
    14/3/16
    Chương 9: Dân tâm

    Mời đọc
    - Này, mấy ông có biết tin gì chưa? Nghe nói Nhà vua hôm nay đến Tê thiên đài đó.

    - Giời ạ... Ông chỉ biết có nhiêu đó thôi sao? Thế mà cũng khoe. Ở đây ai cũng biết hết rồi. Còn có cáo thị nữa chứ.

    - ...

    Nếu có ai hỏi, muốn loan truyền tin tức thì cách đơn giản và hiệu quả nhất là gì. Bạn sẽ thu được nhiều đáp án lắm. Này nhé, truyền miệng, phát tờ rơi, đăng báo, đăng truyền hình. Nhưng nói thật, phương án sớm nhất và hiệu quả nhất vẫn là truyền miệng. Không tin à? Hãy lên đường quay về quá khứ, đến với Kinh thành Phú Xuân lúc này sẽ rõ. Sắp các đường làng, hẻm nhỏ, câu chuyện được bàn tán xôn xao nhất lúc này là câu chuyện Hoàng Đế quỳ tạ tội ở Tế thiên đài.

    ‘Túy hương lâu’ là quán rượu lớn nhất, nổi tiếng nhất kinh thành. Nói là lâu, nhưng nếu đánh giá cho đúng thì đây chỉ là một căn nhà tranh hai tầng với diện tích khoảng sáu trượng vuông. Có khác chăng là ở chỗ nó được dựng nên từ loại gỗ thượng hạng – gỗ lim. Trước cửa là tấm biển hiệu với ba chữ Túy, Hương, Lâu với phong cách khoáng đạt. Có điều, nếu nhìn cho kỹ thì mỗi chữ hình như đều thiếu một nét. Ai chơi khăm chăng? Hay là biển hiệu quá cũ, mực bị phai đi? Không ai biết. Chỉ có điều, bà chủ quán béo ú một mực khẳng định chính đệ nhất thiên tài Trạng Quỳnh phóng bút đó. Ở đây, tao nhân mặc khách, cường hào địa chủ hay bá tính bình dân, hạng người nào cũng đến được, miễn trong người có tiền.

    - Này. Hôm nay ông trời sao thế nhỉ? Mưa hai bận rồi đấy. Bình thường có thế bao giờ đâu.

    Quả thật, thời tiết ngày hôm nay thật sự rất lạ kỳ. Đã hai lần trong ngày trời đổ mưa to. Thế cũng chưa là gì. Hai lần mưa xảy ra vào hai thời điểm: Giờ ra đồng và chính ngọ. Mà mỗi lần mưa cũng chỉ kéo dài đúng nửa canh giờ rôi thôi. Đây đó, người ta kháo nhau: “Có khi nào trời già cảm động khi thấy Nhà vua quỳ tạ tội với thần dân nên sai xuống hai cơn mưa kỳ lạ không đây?”. Có mấy phường cờ bạc nhân đây cũng tranh thủ trục lợi: Sẽ có trận mưa thứ ba vào lúc chiều tối hay không, tỷ lệ một ăn hai.

    - Ậy. Tôi cứ ngờ ngợ. Chắc là ông trời khóc thật đấy.

    - Vậy thì theo ông, ấy là ông trời cảm động với Nhà vua hay là phỉ nhổ Nhà vua đây? Có thể lắm chứ.

    - Suỵt... Nói nhỏ thôi bác. Không khéo có người nghe được, lại phải đóng gông mất.

    - Xời. Cần gì phải sợ. Tôi cứ hét toáng lên ấy chứ. Không phải Nhà vua ban chiếu đại xá hay sao?

    - Này... Này... Tôi nói này. Lúc này có một ông lão râu tóc bạc phơ, tay bấm quẻ nói xen vào. Mưa thì tôi không biết. Thế nhưng tối nay trời giáng sự lạ đấy, cứ đến mà xem.

    Lúc này, trong góc phòng lại có hai người đối ẩm. Họ mặc trang phục của xứ này, thế nhưng, khẩu âm lại có vẻ lạ lạ. Họ ngồi đây từ giữa trưa, hai đĩa thức ăn đã nguội lạnh mà rượu thì gọi liên tục.

    - Này, theo anh thì sắp tới sẽ như thế nào?

    - Tôi cũng chưa biết. Nhưng chuyện này không thể không báo với Chúa công.

    - Tôi thấy khoan hãy vội. Cứ xem tình hình thế nào đã.

    - Tôi nảy ra một ý thế này. Tôi sẽ... Thế... Thế...

    - Diệu kế... Đúng là diệu kế. Nào, chúng ta đi thôi kẻo muộn.

    ...

    Đầu giờ thân, trời bỗng mưa to như trút nước. Trên đài cao, Toản run lên cầm cập. Vừa đói, vừa lạnh, sắc mặt tái mét. Nhưng đã trót đóng kịch rồi thì đành chịu đựng vậy. “Bố khỉ – cậu thầm mắng. Tại sao mấy hôm trước không mưa, nay lại mưa. Lại mưa tận ba lần. Đùa mình chắc”.

    Bất giác, Toản nhìn xuống khoảng đất dưới chân đài. Vốn dĩ trước đây, nơi đó là một bãi đất trống. Giờ đây lại lố nhố toàn người là người. Họ nói gì Toản xa quá, nghe không rõ. Chỉ biết bá tính đều quỳ xuống, sụp lạy. “Có lẽ trời mưa thế mà lại hay. Dân chúng thấy mưa đổ xuống thế nào cũng nghĩ trời cao cảm động vì mình”, nghĩ đến, Toản chợt thấy quên đi cái lạnh.

    Giữa giờ thân. Mưa tạnh. Bầu trời lần nữa lại tỏa xuống những tia nắng ấm áp. Phía xa xa đằng sau Tế đài, một chiếc cầu vồng hiện ra khoe sắc. Dân chúng ngước nhìn lại có cảm tưởng đó chính là một vầng hào quang phát ra từ chính Nhà vua. Khung cảnh lúc này thật lung linh huyền ảo.

    - Ta muốn đả Long bào. Một giọng nói vang lên, rõ ràng là pha tạp giữa khẩu âm nam bộ và trung bộ.

    - Ngươi muốn đả Long bào với lý do gì? Một trong hai tên lính lệ hỏi.

    - Bố khỉ. Hắn vô tri – người đàn ông chỉ vào Toản, dừng lại một chốc rồi tiếp. Một mình chịu tội cũng đành, lại ra đây để dân đen cũng dầm mưa theo. Thế há không phải vô tri thì là gì?

    Tên lính lệ quay lại nhìn, lại thấy Trần Văn Kỷ gật đầu. Y bước đến, đưa cây roi mây cho người đàn ông.

    Chát... Chát... Chát... Ba tiếng roi vang lên. Tiếng roi hữu lực, tựa như được vung lên bởi một võ sư thượng thặng. Điều này thu hút ánh nhìn của Đô đốc Diệu đang quỳ. “Ha... Ha... Ta biết ngươi là ai rồi. Để xem ngươi muốn làm gì”.

    Bỗng nhiên, khuôn mặt của gã đàn ông trở nên tím tái. Y co giật, sùi bọt mép rồi nằm vật xuống đất. Đúng lúc này, một người đàn ông khác chạy đến, bế gã ta lên, lại cầm cây roi mây, ngửi ngửi.

    Đoạn, y chỉ vào đám quan viên đang quỳ trước mặt. “Ngươi, các ngươi thật hèn hạ. Các ngươi cố tình hạ độc lên roi để người nào tiến lên đả Long bào đều trúng độc mà chết. Rõ là kế hiểm mà, không cần ra tay cũng làm kẻ thù chết”.

    Lời y nói ra làm dậy nên một làn sóng xôn xao mới trong dân. Có rất nhiều người lắc đầu, tỏ vẻ chán chường. Dân chúng là vậy, yêu đó rồi lại ghét đó. Họ cũng không cần biết nguyên cớ chuyện thế nào, chỉ lấy việc trước mắt mà xét đoán.


    “Ông nói xạo trẻ con”, một giọng nói vang lên làm mọi người im bặt. Nhìn lại, đó là một cô bé tầm mười tuổi, đầu thắt hai bím tóc, mắt long lanh, có chiều ngây thơ, trong sáng.

    - Ông nói xạo trẻ con nè. Ông là người xấu. Cô bé lại tiếp.

    - Sự thật ai cũng thấy mà. Bé con, ai dạy bé nói như thế? – Nói rồi y chỉ đám quan viên trước mặt – Họ đúng không?

    - Ngoại ơi, – cô bé lắc lắc tay ông lão bên cạnh, không có ai dạy Lan nhi nói vậy hết. Lan nhi chỉ thấy sao nói vậy thôi à. Trời mới mưa to, thuốc độc không trôi hết hay sao?

    “Người đâu? – Không chờ y kịp phản ứng, Đô đốc Diệu thét to. Bắt hai tên giặc Ánh này lại cho ta, giam vào nhà lao, chờ ngày xét xử”.

    Mấy tên lính lệ chẳng tốn bao nhiêu sức bắt hai gã đàn ông. Bởi lẽ, chúng đã bị những người dân đen phía sau tóm được. Họ giận bọn hắn dám sĩ nhục Toản, Nhà vua mới được ông trời công nhận với ba trận mưa lớn như trút nước hôm nay.

    “Thả chúng ra”. Giọng nói của Toản vang lên. Lúc này, trong giọng nói còn có vẻ run run nữa. Quả thật, cậu đã rất kiệt sức. “Hôm nay Trẫm đã ra chiếu đại xá thiên hạ, không thể nuốt lời”.

    Đúng lúc này, từ góc Tế đài có cắm Long bào của Vũ Hoàng Đế, một luồng sáng rất mạnh chiếu vào Toản. Kế đến, lần lượt bốn góc Tế đài cũng có hiện tượng như vậy. Cả bốn luồng sáng tập trung lên người cậu. Trông Toản lúc này rực sáng giữa ánh đêm đang dần bao phủ, lại tựa như thiên thần hạ phàm.

    “Phép lạ... Phép lạ... Hoàng thượng vạn tuế. Ngài đã được đất trời đồng ý rồi” Một giọng nói vang lên, khích động mọi người xung quanh.

    Dưới đài, bá quan cùng dân chúng trăm họ quỳ xuống, tiếng tung hô vang lên không ngớt. “Đại công cáo thành, ha... Ha...” Toản nghĩ.

    Từ lúc này, thành phần những người cùng Toản quỳ ta tội trời đất lại nhiều hơn những hàng bá tính bình dân. Họ đã tin nhà vua của mình. Chính hành động buông tha cho hai tên gian tế lại khiến họ tin đây là một vị vua nhân hậu, đáng để đi theo.

    Chẳng mấy chốc mà tiếng gà gáy sáng vang lên. Toản được mấy tên thái giám dìu đứng dậy. Lúc này, Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Thiếp mời bá tính ra về cho Hoàng thượng được nghỉ ngơi. Đoạn ông quay lại nói:

    - Bệ hạ. Giờ đây Bệ hạ rất yếu, về cung không tiện. Hay là ghé qua nhà thần nghỉ ngơi ít chút cho lại sức rồi hãy hồi cung.

    - Vậy thì làm phiền Phu tử rồi. Nhưng Trẫm không muốn làm rùm beng đâu nhé.

    ...

    Vừa về đến nhà, một hạ nhân chạy đến thưa với Nguyễn Thiếp:

    - Lão gia, sáng sớm nay có ông Nguyễn Kiều ở Thăng Long vào thăm ạ.

    - Được rồi, ngươi lui ra, pha trà và chuẩn bị chút đồ ăn cho ta. Nhà hôm nay có khách. – lại quay sang Toản, lão nói tiếp. Nguyễn Kiều là bạn chí thân của thần, cùng với bà vợ quá cố của lão, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là hai trong số những người thần nể trọng nhất. Cô bé tối qua giải cứu cho chúng ta chính là cháu gái ruột của nữ sĩ họ Đoàn, và gọi lão là ông ngoại.

    Nói rồi, Thiếp bảo thái giám dìu Toản vào nhà.

    - Ý, anh là người quỳ trên đài hôm qua đúng không? Ông ngoại nói anh là Hoàng thượng. Hoàng thượng là cái gì vậy? Có ăn được không?

    Lan nhi là người đầu tiên trong phòng khách nhìn thấy vua tôi Toản bước vào.

    - Lan nhi, không được vô lễ. Giọng Nguyễn Kiều nói vọng ra.

    - Không sao, không sao. Trẫm cám ơn cô bé còn không kịp nữa là. Phu tử, Trẫm thấy rất mệt, hay là Trẫm vào nghỉ trước đây.

    - Vâng, mời Bệ hạ di giá. Thiếp nói đoạn sai người dẫn Toản đi nghỉ ngơi.

    - Này. Nguyễn Kiều hỏi khi chỉ còn ông và Tuyết trong phòng khách. Việc tối qua là mấy ông làm đúng không?

    - Việc gì? Ai làm? Này, đừng có ỷ già rồi nói hàm hồ nhé.

    - Thôi đi, tôi còn lạ gì ông nữa. Mau, cho tôi biết là ai làm ra bốn luồng sáng thần kỳ kia?

    - Hây. Đúng là không thể qua mặt được ông. Chính Hoàng thượng làm đó.

    Hóa ra Toản đã dưng nên mọi chuyện. Cậu cho người chuẩn bị bốn cái vạc đồng, đánh bóng thật kỹ rồi giấu trên góc Tế đài. Đến tối lại sai người thắp mấy cây nến trước mấy cái vạc. Ánh nến vì thế mà theo nguyên tắc gương cầu lõm, khuếch đại ánh sáng, hắt lên người Toản.

    Nghe kể lại, Nguyễn Kiều khẽ thở dài và nở một nụ cười sau đó: “Ông nói đúng, nước Nam được cứu rồi. Hoàng thượng sau lần này đã thu được dân tâm rồi”.
     
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.

Chia sẻ trang này